Vũ Đức Sao Biển ra sách hồi ức trong cơn bạo bệnh

Ảnh: L.Điền

Trong cơn trọng bệnh ở tuổi ngoại thất tuần, nhà văn, nhà báo Vũ Đức Sao Biển vẫn đều đặn ra sách, mới nhất là hai quyển miên man trong dòng hồi ức từ thuở thiếu thời đến khi lập nghiệp: Phượng ca và Miền Nam sống đẹp.

Thật đáng yêu biết bao khi một người đến tuổi bảy mươi vẫn còn nhớ như in và dạt dào cảm xúc khi nhắc lại tuổi học trò của mình. Trong cách kể của nhà văn Vũ Đức Sao Biển về quãng đời hoa niên thơ mộng dưới mái trường bên cạnh bạn bè thân mến, người đọc cảm nhận được mức độ say sưa và nồng nhiệt, như thể trang viết đã hoàn toàn chiếm lĩnh tâm trí ông, dẫn ông vượt thoát hiện thực sức khỏe đang cần phải đấu tranh gắng gượng, để “hồi xuân” lại một chặng đường đẹp nhất của đời người.

Phượng ca là cách gọi của tác giả, ở đó bạn đọc sẽ bắt gặp không ít những câu chuyện lạ lẫm mà thú vị, gặp lại hình ảnh những cô cậu học trò trung học có những cách tinh nghịch hồn nhiên “cũng giống như mình”. Nhưng có lẽ, Vũ Đức Sao Biển tha thiết kể chuyện thời học trò của mình còn có một lý do riêng. Đó là hoàn cảnh xuất thân của ông có chút đặc biệt. Bản thân một cậu học trò xứ Quảng nghèo khó trong thời chiến tranh được cắp sách đến trường, đã là một sự đặc biệt. Đọc ông, thấy cách kể nhẹ tênh về những ám ảnh nặng nề, bắt gặp những cách nhìn dí dỏm cho một số đoạn trường đau đớn lẽ thường người đời phải buột miệng than van… mới biết câu chữ từ một người từng trải qua khắp lượt đời người nay quay trở lại nói chuyện thiếu thời, có một tầng giá trị đáng kể.

Rồi người đọc sẽ cảm giác như mình đang tha thẩn nghe một ông già kể chuyện. Có ai tự hỏi đã bao lâu rồi mình không được nghe một người già kể chuyện? Ở đây, đọc Vũ Đức Sao Biển còn thú vị vì trang viết hoàn toàn không có những rề rà đáng chán thường gặp trong kiểu cách của người già. “Nét già” duy nhất trong câu chuyện của ông chính là những câu chuyện đã có độ lùi của thế hệ. Người đọc hôm nay qua đó có dịp hồi nhớ lại chuyện của mình khi bắt gặp những khởi đầu của tác giả từ hàng nửa thế kỷ trước. Kiểu như khi tác giả kể chuyện xa nhà đi trọ học từ năm cấp hai, và cũng ở tuổi ấy, tác giả đã tìm được “mối” dạy kèm để tự trang trải tiền cơm và tiền nhà. Việc học của ông từ đó không còn là gánh nặng đối với gia đình nữa.

Nhiều người Sài Gòn khi nghe nhắc đến học trò miền trung thường chép miệng bảo rằng: Dân miền trung thường giỏi giang và siêng học. Nhưng cụ thể giỏi giang siêng học thế nào, có thể tìm thấy những mẩu tư liệu thực tế sinh động từ trang viết của Vũ Đức Sao Biển.

Đọc ông, lại còn nhận ra những đặc thù đáng quý trong giao tế, lễ phép của người miền trung. Bắt gặp những thói quen trong ăn uống sinh hoạt, những thức ăn thời học sinh có hương vị quê nhà ám ảnh cậu học trò nhiều chục năm sau không chỉ bởi hương vị của món quê mà còn bao nhiêu câu chuyện kèm với nó đã sớm in hằn trong tâm trí cậu học trò đa cảm. Lại cũng có chuyện kỳ thú như… chuyện ma ở làng. Chẳng hiểu sao điểm chung của mối quan tâm tuổi học trò thể nào cũng có chuyện ma. Vũ Đức Sao Biển kể lại chuyện ma ở làng sinh động quá, một trường hợp người thanh niên bị ma giấu giữa bụi tre miệng ngậm đầy đất – vốn là style quen thuộc của các chuyện ma giấu – được tác giả thuật lại theo lời ông lái đò thật ấn tượng khó quên.

Còn một ấn tượng khó quên nữa là tác giả bộc bạch niềm đam mê âm nhạc thuở thiếu thời và trong từng thời đoạn của tuổi học trò, ông đã thu xếp để thực hiện ước mơ niềm thích mình như thế nào.

Miền Nam sống đẹp lại là một quãng đời khác, với những câu chuyện khác cũng ly kỳ không kém. Tuổi thành niên của Vũ Đức Sao Biển gắn bó với Sài Gòn và miền Nam. Nay hồi tưởng lại từ buổi đầu chân ướt chân ráo bước đến đô thị vốn là hòn ngọc viễn đông, thấy quả nhiên cảm nhận của tác giả là chân thực: Người Sài Gòn hiếu khách và rất nhiệt tình chỉ đường cho những ai lạc lối. Chỉ một nét sơ giao, mà tác giả khái quát được cả một niềm tin gắn bó về sau được định hình không sai lạc.

Không nhằm viết về sống đẹp, nhưng qua câu chuyện giao tế, làm nghề, tiếp bạn, theo thầy… tác giả khéo léo làm lộ ra nét đẹp của đất và người miền Nam. Thật đáng quý là Vũ Đức Sao Biển đã có một chặng đời hoạt động sôi nổi tại vùng đô thị lớn nhất thời trước 1975 với đời sống văn nghệ, xã hội và cả chính trị cũng cực kỳ phong phú, nên giờ đây trở thành chất liệu dồi dào cho trang viết.

Chỉ riêng các nhân vật ông từng tiếp xúc, nay được kể lại ở cự ly gần, có thể xem là những sử liệu về nhân vật mà giới nghiên cứu đời nay không dễ tìm thấy được.

Như câu chuyện ông kết giao với nhà văn Lê Tất Điều trong buổi đầu chập chững học nghề báo, hay những kỷ niệm với người thầy, học giả Giản Chi với những lời giảng về Hán văn, bút thiếp gợi lại phong khí cổ nhã thời xưa.

Rồi câu chuyện Mậu thân 1968, chuyện phong trào sinh viên trước 1975 vắt qua câu chuyện làm báo làm nhạc sau 1975… Tất cả được tác giả xếp vào dòng hồi ức gọi tên là cách sống đẹp của miền Nam. Dẫu chỉ là một góc nhìn riêng của tác giả, nhưng rất đáng để chia sẻ, cảm thông. Những trang viết này cũng có thể là chất men gợi hứng để những cây bút về sau tiếp tục mạch cảm xúc của mình với đất và người Sài Gòn chỉ nói riêng trong hai chữ “sống đẹp”

LAM ĐIỀN

Ảnh: L.Điền

Thế giới kín bưng và quê hương diệu vợi của Khương Hà

Tập thơ do Phục Hưng books và NXB Đà nẵng liên kết xuất bản – Ảnh: L.ĐIỀN

Một tập thơ vừa trình làng, của cây bút trẻ Khương Hà, với nhan đề nói lên nhiều phần cái khẩu khí riêng có của tác giả: Những rời và rạc.

Sở dĩ phải đặt vấn đề khẩu khí ở đây, do lẽ Khương Hà không chỉ trong thơ mà cả trong mối giao hảo thù tiếp bạn bè cũng sớm bộc lộ một khẩu khí riêng.

Khẩu khí, chính là một khởi sự cần thiết cho thơ vậy.

Và điều may mắn kèm theo là không chỉ khẩu khí, cách diễn đạt ngay từ nhan đề đã hé lộ khả năng chủ động kiểm soát ngôn từ của tác giả. “Những rời và rạc”, với Khương Hà, đây không còn là một kiểu chẻ chữ rời + và + rạc nữa, mà kỳ thực là: “rời rạc” phải bị chữ “và” chen ngang như vậy mới thật là rời rạc; nhưng lập tức hệ quả phát sinh: tại sao lại là chữ “và” ở đây? Phải chăng “rời” nối với “rạc” bằng “và” như vậy mới không phải là rời rạc?

Chính khả năng kiểm soát ngôn từ đã khiến cho Khương Hà tạo dựng một không gian kín bưng và rồi trong đó tất thảy mọi suy tư tung tẩy cũng như chiêm nghiệm tưởng tượng kèm với thả lỏng tâm hồn xem thử có điên không… bỗng dưng làm thành thế giới thơ của Khương Hà.

Hồi nhỏ tôi từng đọc trên một tạp chí uy tín bài viết của một người kể chuyện cha mình. Cha ông là một người đáng kính với cuộc đời trải từ thời Cần vương đến Đông kinh nghĩa thục. Người cha ấy dặn con – tác giả bài viết ấy – một câu gan ruột: “Mi là người chuộng văn chương phơi ruột phơi gan, mi tuyệt nhiên không được luận bàn đến chính trị”. Đọc và nhớ mãi lời dặn ấy, lớn lên tôi lại thấy băn khoăn khi hầu hết những nhà chính trị ở xứ này đều… chuộng văn chương. Thế thì lời dặn ấy có gì sai hay sao. Lớn lên nữa, mới kịp nhận ra chỗ mình chưa hiểu. Đó không phải là văn chương không hợp với chính trị, mà văn chương chính là chỗ làm cho người ta “phơi ruột phơi gan”, chính cái sự “phơi ruột phơi gan” này mới là nên tránh xa chính trị.

Bây giờ tôi nghĩ, có lẽ người cha khả kính kia chưa đọc thơ [như của] Khương Hà. Bởi chỉ cần đọc Những rời và rạc, chí ít người ta sẽ không gắn văn chương với “phơi ruột phơi gan” được. Tất nhiên qua ngần ấy câu chữ trải trên gần 200 trang sách, người ta đều thấy cảm xúc trong từng cấu tứ, nhịp điệu ngôn từ; thấy tình người ấm lạnh qua nhãn quan ráo hoảnh sau khi nước mắt chảy ngược hết vào trong; thấy rờn rợn nỗi hoang vu chẳng hiểu sao lại đi cặp với quê nhà; thấy tác giả tỉnh táo đem cái tôi của mình ra thử nghiệm cho nhiều pha va đập với đời để rồi không ít lần đau ngất đi chỉ vì thương cái tôi của mình quá…

Và rõ nhất là thấy tâm sự của tác giả với Sài Gòn, ở đó có bạn bè, có KD, có những người từng không chỉ là một phần của cảm xúc trên hành trình “lọc từ thế giới xung quanh để thấy rõ mình hơn”.

Ấy vậy mà cả một thế giới thơ Khương Hà vẫn kín như bưng. Cảm giác như tác giả đã từ chỗ kiểm soát ngôn từ tinh diệu chuyển thành mã hóa tâm sự bằng câu chữ. Điều này mang lại cho người đọc một thú vị pha chút căng thẳng: Đây, tất cả là chữ, nhưng thông điệp là gì tùy thuộc vào công việc giải mã của anh. Tác giả lui ra, không đưa cho chìa khóa mà chỉ mìm cười hiền hiền, như trong buổi ra mắt thơ vừa qua Khương Hà cũng mỉm cười hiền hiền như vậy. Nhưng đừng nghĩ cách thế ấy kém phần thi vị, bởi với thơ, nhiều khi chỉ cần giao nhau bằng cảm xúc là đủ. Chẳng hạn như trong tập thơ này, có đoạn ngọt ngào trau chuốt như Đường thi: “Đâu đó trên đỉnh đồi kia/ con chim nhạn cùng đường/ lao vào mưa/ không biết mình đã chết”; hay như nấc nghẹn khi nhắc đến Sài Gòn: “đây là Sài Gòn, Sài Gòn/ nơi tất cả cơn mộng tan đi/ chỉ còn lại linh hồn em/ khốn khổ và lưu vong…”, những “bản mã” như vậy chỉ cần cảm nhận là đủ phần tâm đắc.

Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng chia sẻ một nhận định sau khi đọc Những rời và rạc, rằng thơ Khương Hà “như cuộc tìm tòi về quê nhà sâu xa của mình, đó là một hành trình cô đơn, và quê nhà tối hậu ấy không phải ở đây, không phải thế giới này, mà như một cõi giới nào để từ đó nhà thơ đi lạc đến đây”.

Cũng có thể, biết đâu hành trình ấy lại mang tiếp đến cho chúng ta vài tập thơ nữa.

Lam Điền

Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng và tác giả Khương Hà tại buổi ra mắt tập thơ Những rời và rạc – Ảnh: L.ĐIỀN

Già Lam một sớm trà

Bước bộ mười năm còn bí mật
Bể dâu mấy độ xóa tang bồng
Quảng hương trà tỏa vào hư thật
Song ngoại vàng lên phải nắng không.

15-11-2019
Lam Điền

Shibuasawa Eiichi và bài học từ Nhật Bản: Tổ quốc có tính siêu lịch sử

Nguyễn Lương Hải Khôi, nhận bằng tiến sĩ triết học ở Đại học Nihon, Nhật Bản, năm 2014, nguyên tổ trưởng tổ Lý luận, trường ĐH Sư phạm TPHCM, hiện là nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu, Đại học Oregon, Hoa Kỳ – Ảnh: L.Điền

Để chào đón triều đại mới của Nhật hoàng Naruhito, nước Nhật sẽ đưa chân dung một nhân vật tiếng tăm thời Minh Trị lên tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhất (10.000 yen), chính thức lưu hành vào năm 2024. Đó là Shibusawa Ei-ichi, người được mệnh danh là “tổ phụ” của nền kinh tế thị trường Nhật Bản.

Như một trùng hợp ngẫu nhiên, quyển tự truyện Vũ Dạ Đàm của Shibusawa Ei-ichi do TS Nguyễn Lương Hải Khôi chuyển ngữ cũng vừa ra mắt bạn đọc Việt Nam.

Tuổi Trẻ có dịp trao đổi với TS Nguyễn Lương Hải Khôi xoay quanh cuộc đời Shibusawa, tinh thần trí thức Nhật Bản và những bài học có thể có ích cho Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai.

Đọc qua hành trình Shibusawa Eiichi từ một nông dân hoàn toàn “áo vải” trở thành nhà thiết kế nhiều quy chuẩn/ định chế tài chính cho Chính phủ Nhật Bản và giữ vai trò quan trọng trong việc hoạch định hướng đi cho quốc gia Nhật Bản hiện đại ngay từ lúc giao thời Minh Trị, loại bỏ yếu tố cơ may, quả thật con người Shibusawa Eiichi phải có tố chất nào đó đặc biệt. Ông tâm đắc những tố chất nào của Shibusawa Eiichi?

Nguyễn Lương Hải Khôi (NLHK): Có thể thấy yếu tố quyết định sự thành công của Shibusawa Ei-ichi chính là tính cách và tư tưởng. Tố chất quyết định là thực học. Ông học nghề trồng cây tràm, trông dâu nuôi tằm, buôn bán, học cách nghiên cứu về thị trường (để biết xã hội đang khuyết điều gì).

Ngay cả việc học sách vở, ta thấy Shibusawa Ei-ichi và giới sĩ phu Nhật Bản đương thời cũng khác Nho sĩ Việt Nam ở chỗ thực học. Shibusawa cũng như thế hệ của ông được học cả tư tưởng Nho giáo Trung Quốc lẫn Nho giáo Nhật Bản, học cả lịch sử Trung Quốc lẫn lịch sử Nhật Bản, học cả những công trình nghiên cứu Nhật Bản của các danh Nho thời Edo. Điều đó giúp ý thức dân tộc của ông cũng như của giới Võ sĩ đạo thế hệ ông mạnh mẽ ngay cả trong thời bình chứ không đợi đến khi mất nước thì mới biết yêu nước, mới hy sinh cho nước. Điều này khác hoàn toàn với giới Nho sĩ Việt Nam: có khí tiết, trong sạch, nhưng ngơ ngác trước thời đại, bởi họ học những kiến thức và tư tưởng từng ra đời ở Trung Quốc nhiều thiên niên kỷ trước, hoàn toàn bất lực trước xu thế toàn cầu hóa giai đoạn thực dân chủ nghĩa.

Theo như ông biết, trong giới trí thức Nhật Bản hiện nay, Shibusawa Eiichi có tầm vóc như thế nào? Những ảnh hưởng đáng kể nào từ nhân vật này đến ngày nay vẫn còn và sẽ tiếp tục ở Nhật Bản?

Tạp chí Tozo Keizai, năm 1981, có làm một cuộc khảo sát giới doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản, tức giới doanh nhân đã tái tạo Nhật Bản sau thế chiến thứ hai, xem mẫu hình nhân cách lý tưởng của họ là ai, và cuốn sách ảnh hưởng đến cuộc đời doanh nhân của họ nhất là cuốn nào. Câu trả lời là: Shibusawa Ei-ichi cùng với cuốn sách “Luận ngữ và bàn tính” của chính ông.

Tháng 4 năm 2019, chính phủ Nhật Bản quyết định lấy hình ảnh ông in lên đồng tiền 10.000 Yên, là tờ tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật.

“Luận ngữ và bàn tính” luận giải về tư tưởng “nghĩa lợi lưỡng toàn”, tức kết hợp hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp và đạo đức nhân nghĩa đối với quốc gia, làm cho doanh nhân trở thành mẫu hình đạo đức của xã hội, tương tự như mẫu hình “thánh hiền” của Nho giáo thời trước. Shibusawa xây dựng tư tưởng đó và thực hành nó một cách nghiêm túc, bền bỉ, từ lúc làm quan cho Mạc phủ, cho Minh Trị, rồi như một doanh nhân độc lập trước chính quyền, cho đến khi qua đời. Ông không chỉ xây dựng hơn 500 công ty, tức mạng lưới doanh nghiệp hiện đại của Nhật Bản, mà đồng thời còn thực hiện cũng hơn 500 dự án giáo dục đại học, y tế, xã hội và văn hóa khác nhau.

Ngày nay, thế giới nói chung rất tín nhiệm doanh nhân Nhật Bản về chữ tín. Chữ tín của thương nhân là điều đã được các Nho gia và các Sư Phật giáo thời Edo khởi xướng, được Shibusawa phát triển và thực hành triệt để cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Từ đó, nó trở thành một đặc trưng nổi bật của doanh nhân Nhật Bản hiện đại.

Có bài học nào trong việc thế hệ Shibusawa đã chống Tây phương giai đoạn đầu, nhưng lại Tây phương hóa quyết liệt ngay sau đó?

Shibusawa ở tuổi 20 từng lập kế hoạch giết người phương Tây, nhưng khi hiểu được sức mạnh của nền văn minh phương Tây, ông viết thư cho người thầy Hán học của mình “Trong những ngày này, trong thời đại này, đất nước chúng ta không thể cứ cố bịt tai bịt mắt để trở nên trơ trọi và dị hợm trước phần còn lại của thế giới.” Sở dĩ Shibusawa và thế hệ của ông có thể tiến hóa về tư tưởng nhanh chóng, quyết liệt như vậy vì nền tảng Nho giáo Nhật Bản của ông là một Nho giáo “thực học”. Kế thừa tư tưởng trọng thị thương nhân từ những nhà Nho thế hệ trước như Ishida Baikan, cộng với bối cảnh kinh tế xã hội và tư tưởng thời Edo đã giúp sĩ phu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của chế độ Mạc phủ, trong đó có Shibusawa, có thể thay đổi nhận thức và Tây phương hóa một cách quyết đoán.

Những năm đầu Minh Trị, khi Chính phủ Nhật Bản còn chưa biết xây dựng một nền pháp luật như thế nào cho phù hợp với thế giới đương đại, Shibusawa Eiichi đã đề xuất thiết lập một “văn phòng chuyên trách” với ý tưởng là “thu nạp những cán sự tốt nhất hiện có, để họ nghiên cứu xem những cải cách nào nên được thực hiện trước, cơ chế cũ nào nên đổi mới, cơ chế mới nào nên được thiết lập…”. Kiểu văn phòng này mang dáng dấp một think tank của Chính phủ lúc ấy, thế mà đến nay sau hơn một 150 năm, hai chữ think tank đối với chính phủ Việt Nam vẫn còn xa vời, theo ông là tại sao?

Hai chữ think tank đối với chính phủ Việt Nam hôm nay vẫn còn xa lạ bởi chúng ta tổ chức chính phủ theo kiểu phong kiến trá hình. Trong chế độ phong kiến, chỉ có vua và các quan, không có think thank. Các quan có thể là quân sư, tư vấn cho vua ở một số sự vụ, chính sách nhất định. Ngoài ra, còn có một cơ quan là “Cơ mật viện” (tên gọi thời Nguyễn) để giúp vua ra quyết định những vấn đề hệ trọng. Bản chất của các “quân sư quạt mo” và “Cơ mật viện” là tìm hiểu vấn đề theo định hướng. Ngoài ra, việc “nghiên cứu chính sách” của họ chỉ là nhiệm vụ kiêm nhiệm. Họ không được trao quyền lực độc lập với các nhóm lợi ích khác nhau trong hệ thống nhà nước để có thể xây dựng những chính sách vì lợi ích dài hạn của quốc gia, mà luôn phải tính đến lợi ích của các nhóm tác động đến họ.

Chúng ta ngày nay cũng vậy. Hệ thống quan chức cũng thường xuyên phải học tập bồi dưỡng lý luận chính trị các loại, nhưng cái họ học chỉ giúp họ nhận thức về chế độ, về Đảng của họ, chính quyền của họ. Họ vẫn sử dụng khái niệm “đất nước” và “tổ quốc” nhưng chưa bao giờ đất nước hay tổ quốc được họ định nghĩa như là một cái gì cao vượt hơn chế độ chính trị, có tính siêu lịch sử mà nếu sau này họ chết đi rồi thì tổ quốc vẫn còn ở lại, ghi dấu bao nỗ lực, máu và nước mắt của thế hệ trước, thế hệ họ và thế hệ tương lai.

Trong một đời sống tinh thần như vậy, tổ chức think tank thành ra không cần thiết. Think tank chỉ cần thiết khi họ có những con người sống và chiến đấu cho ý niệm về một “quốc gia” như là cái gì thiêng liêng hơn hệ thống chính trị, xã hội nhất thời, do đó, họ nghiên cứu chính sách trong tư thế và tâm thế của kẻ sĩ, tách mình khỏi mọi quan hệ kim tiền, chỉ đi tìm lời đáp cho những câu hỏi lớn đối với vận mệnh quốc gia. Ngược lại thì think tank, nếu có đi nữa, cũng chỉ là mặt nạ trang trí cho hình ảnh “cởi mở” của các chính trị gia.

Có một quan điểm về doanh nhân được Shibusawa Eiichi diễn đạt từ khi Nhật Bản còn chưa hình thành tầng lớp doanh nhân, đó là: “phải xóa bỏ thói quen tuân theo và dựa dẫm vào mệnh lệnh quan chức của người dân” để “nếu phát triển trí tuệ cho giới doanh nhân, nâng cao phẩm cách của họ, thì đồng thời cũng sẽ thúc đẩy được khả năng kinh tế của họ”. Điều này quả là xa lạ với Việt Nam khi mà ngày nay việc nói trái (thậm chí chỉ cần nghĩ trái) ý quan chức luôn để ngỏ khả năng gặp phải tai họa; và việc phát triển kinh tế như thế nào lại cũng chính từ miệng quan chức nói ra để người dân tuân theo. Ông nghĩ gì về điều này?

Như trên đã nói, Nhật Bản nhận ra vai trò quan trọng của doanh nhân đối với quốc gia từ rất sớm. Khi Shibusawa từ quan để bước vào thương trường năm 1873, một người bạn ông đã tức giận viết thư cho ông, mắng rằng “tao không ngờ mày lại là thằng hám tiền đến như vậy, từ bỏ chức quan cao quý trong triều đình để đi theo bọn con buôn”. Ông viết thư trả lời: “Nhật Bản tệ hại như ngày nay bởi những thằng như mày quá đông. Công thương nghiệp là nền tảng của quốc gia. Chọn những kẻ tầm thường làm quan chức triều đình thì cũng chẳng sao. Nhưng doanh nhân phải là bậc hiền tài. Nếu lực lượng doanh nhân là những bậc hiền tài thì sẽ bảo vệ được sự phồn thịnh của quốc gia. Xưa nay người Nhật tôn kính tầng lớp võ sĩ, cho rằng trở thành quan cao trong chính phủ là vinh quang tối thượng, còn trở thành một thương nhân là điều đáng xấu hổ. Đó là kiểu tư duy lầm lạc từ xưa đến nay. Ngày nay, nhiệm vụ cấp bách của nước ta là thấu hiểu lề lối tư duy của xã hội, loại trừ những những suy nghĩ sai trái của nó, nâng cao vị thế xã hội của doanh nhân, phát triển nhân tài để xây dựng xã hội thương nghiệp, làm cho doanh nhân trở thành tầng lớp thượng lưu của xã hội”.

Một nhân vật lỗi lạc cùng thời với Shibusawa Ei-ichi là Fukuzawa Yukichi, ông này chia lịch sử con người làm ba giai đoạn: dã man, bán khai và văn minh. Trong đó, “văn minh” là giai đoạn con người được giải phóng khỏi sự áp chế của hệ thống chính trị để được sống như những cá nhân tự do. Theo đó thì có thể thấy nước ta ngày nay vẫn trong giai đoạn “bán khai” tức ngay cả doanh nhân cũng quỵ lụy chính quyền, quan chức. Điều đó không có gì là lạ. Nhật Bản thời “bán khai” cũng như vậy mà.

Lam Điền thực hiện

Bản dịch Vũ Dạ Đàm của Nguyễn Lương Hải Khôi vừa ra mắt bạn đọc Việt Nam – Ảnh: L. Điền

Ôm người bạn thật chặt, ôm kẻ thù chặt hơn

TS Lê Vĩnh Trương (giữa) đang thằng thắn chia sẻ các quan điểm về Trung Quốc trỗi dậy – Ảnh: L.Điền

Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng dẫn câu ngạn ngữ tâm đắc để mở đầu cuộc nói chuyện chuyên đề: Sự trỗi dậy của Trung Quốc, do Khoa Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học KHXH&NV TPHCM tổ chức sáng 19-9.

Cùng với TS Dương Ngọc Dũng còn có TS Lê Vĩnh Trương – tác giả quyển sách Bàn về Trung Quốc trỗi dậy – tham gia diễn thuyết.

Có mặt tại buổi giao lưu, TS Bùi Hải Đăng – Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế – nhấn mạnh rằng Trung Quốc là đề tài chưa bao giời thôi hấp dẫn đối với các sinh viên cũng như giới nghiên cứu Việt Nam. Và rằng trong tình hình hiện nay, mọi sự chuyển biến, thay đổi, và các vấn đề liên quan đến Trung Quốc đều tạo nên sự tác động mạnh mẽ có quy mô toàn cầu.

Trong mối quan hệ địa chính trị đặc biệt của Việt Nam và Trung Quốc, việc nghiên cứu tìm hiểu lẫn nhau là rất cần thiết. Tuy nhiên, như ghi nhận của TS Dương Ngọc Dũng từ mạng xã hội và nhiều nguồn khác nữa, “tôi cảm nhận hình như có một diễn ngôn là chống Trung Quốc, chống bất cứ thứ gì của Trung Quốc”.

Theo ông Dũng, Trung Quốc cũng có đóng góp vào sự hình thành thái độ này. “Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có nhiều thứ để ta nghiên cứu”.

Ông cũng đề xuất phân biệt hai thái độ rõ ràng: Thái độ của nhân dân đối với Trung Quốc; và thái độ của cộng đồng học thuật đối với Trung Quốc.

Riêng về học thuật, TS Dương Ngọc Dũng lưu ý một thực trạng là các nhà nghiên cứu về Trung Quốc hiện đại bị hạn chế về tư liệu. “Chúng ta khó lòng nắm được ý đồ của các lãnh đạo Trung Quốc muốn gì trong các quyết định của họ”. Chỉ khi nào có tài liệu gốc, giới nghiên cứu mới có thể khẳng định, nhưng những tài liệu này luôn được lưu giữ dưới dạng mật, do vậy, những sử gia, nhà nghiên cứu khó biết được sự thật lịch sử.

Và vì nghiên cứu chủ yếu dựa trên suy đoán như vậy, TS Dũng đề xuất cả học giới và các sinh viên nên cẩn trọng trong trao đổi và kết luận về vấn đề nào đó.

TS Lê Vĩnh Trương chia sẻ đồng cảm với TS Dương Ngọc Dũng bằng cách nhắc lại quan điểm của nhân vật chính trong phim Bố Già, rằng không được căm ghét kẻ thù, mà phải hiểu một cách trung tính để biết cặn kẽ kẻ thù.

Trong mối quan hệ với Trung Quốc, TS Lê Vĩnh Trương lưu ý rằng vào thời Đường, tổng sản lượng Trung Quốc chiếm 58% thế giối; thời Tống, tổng sản lượng Trung Quốc chiếm đến 80% tổng sản lượng của thế giới. “Điều này có nghĩa là chúng ta từng sống cạnh người láng giềng hùng mạnh nhất thế giới trong bao nhiêu thế kỷ, chứ không phải đến bây giờ chúng ta mới bắt đầu chuẩn bị cho câu hỏi: Khi Trung Quốc vươn lên nhất thế giới thì ta làm gì?

Và câu chuyện Trung Quốc trỗi dậy có một dư địa lớn để cho các bạn sinh viên khoa Quan hệ Quốc tế theo đuổi nghiên cứu.

“Hãy xem những lãnh đạo Trung Quốc đang làm gì có ảnh hưởng đến chúng ta: Trung Quốc ra một quyết nào đó sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp chúng ta, du học sinh chúng ta, và cộng đồng học giới chúng ta”, ông Lê Vĩnh Trương nêu ví dụ.

Buổi nói chuyện chuyên đề thực sự thu hút mối quan tâm của nhiều giới. Ban tổ chức đã kê thêm ghế phụ và khán phòng chật kín khách đến nghe – Ảnh: L.Điền

TS Lê Vĩnh Trương cũng chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa chính sách của Trung Quốc dưới thời chủ tịch Tập Cận Bình lãnh đạo với các chính sách thời trước.

Các vấn đề xung đột căng thẳng ở bãi Tư Chính gần đây cũng như các hệ lụy đang dần thấy từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung cũng được các cử tọa đề cập nhằm tìm kiếm thông tin và chia sẻ quan điểm với các diễn giả.

Một giảng viên khoa Nhật Bản học đặt vấn đề sự phát triển của các quốc gia là bình thường, nhưng tại sao sự phát triển của Trung Quốc lại gắn với chữ “trỗi dậy” và thu hút quan tâm của cả thế giới như vậy?

Về vấn đề này, TS Lê Vĩnh Trương từ góc độ quan hệ với Việt Nam, đã nhắc lại rằng Trung Quốc va chạm với Việt Nam suốt 25 thế kỷ tổng cộng có 37 lần. “Mình sống làm sao mà người ta đánh mình nhiều như vậy? Nhưng đồng thời cũng phải nghĩ rằng: Những hệ quả từ quá khứ sẽ kéo dài đến hiện tại và đến tương lai, cho nên việc các trí thức quan tâm đến vấn đề trỗi dậy của Trung Quốc là chính đáng.

Còn nữa, đơn cử một vấn đề như cách ứng xử với nguồn nước sông Mekong, TS Lê Vĩnh Trương cho rằng Trung Quốc đã xem phần nước sông Mekong trên đất Trung Quốc là thuộc chủ quyền Trung Quốc, nên họ có quyền ngắt, không cho các nước hạ lưu hưởng nguồn nước sông Mekong “như ngắt một bình truyền dịch”. Hay như vấn đề do chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng đặt ra, là quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc thực chất lợi ích có sòng phẳng không? Đây chính là các vấn đề rõ nhất cho thấy sự trỗi dậy của Trung Quốc rất cần được tìm hiểu kỹ hơn, cho một thế giới có trật tự hơn.

Để khép lại chương trình, TS Dương Ngọc Dũng bày tỏ: “Tôi mong rằng sau cuộc nói chuyện này, các sinh viên ngành quan hệ Quốc tế hoặc giới nghiên cứu Trung Quốc có nhiều hào hứng hơn để đi theo hướng của TS Lê Vĩnh Trương đã vạch ra. Tôi thích một câu tiếng Anh mà tôi nghĩ có khi bắt nguồn từ Trung Quốc: cần phải ôm thật chặt người bạn thân của mình, nhưng ôm kẻ thù chặt hơn. Tôi không có ý nói Trung Quốc là kẻ thù, mà tôi muốn nói cái việc ôm chặt ở đây có thể là khảo sát kỹ hơn, tìm hiểu kỹ hơn. Nếu ta thực sự xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có những yếu tố đe dọa đến nền an ninh và chủ quyền lãnh thổ, thì ta càng cần phải nghiên cứu Trung Quốc kỹ lưỡng hơn nữa, chứ thể tung ra các khẩu hiệu ái quốc chung chung”.

TS Dương Ngọc Dũng (trái): “cần phải ôm thật chặt người bạn thân của mình, nhưng ôm kẻ thù chặt hơn. Tôi không có ý nói Trung Quốc là kẻ thù, mà tôi muốn nói cái việc ôm chặt ở đây có thể là khảo sát kỹ hơn, tìm hiểu kỹ hơn” – Ảnh: L.Điền

LAM ĐIỀN

KIM LÂN

(Vũ Thư HIên)

Nguyễn Tuân là người giới thiệu tôi với Kim Lân. Tác giả Vang Bóng Một Thời, Quê Hương Chùa Đàn… có tiếng là người quảng giao, biết nhiều người, chơi với nhiều người, nhưng trong việc chọn bạn ông kỹ tính chứ không xô bồ.
Nguyễn Tuân nói với tôi: Viết về nông thôn anh này là số một. Con mắt anh ta lạ, vừa lờ đờ vừa hoay hoáy. Lờ đờ là bề ngoài, là giả tảng, hoay hoáy mới là thật – anh ta nhìn thấy những cái mà chúng mình không thấy. Giỏi!

Cha tôi có một tủ sách đầy ắp – sách tiếng Việt, sách tiếng Pháp, những chồng tạp chí Illustration, Tiểu thuyết Thứ Bảy dày cộp. Sách của ông cũng đủ loại, từ Triết học Vương Dương Minh, Bất Khả Tri Luận cho tới Sách Hồng cho trẻ con (“Hôm qua đổ trận mưa rào, Mặt trời sợ ướt lẩn vào đám mây…”) Ông truyền cho tôi cái tính ham học, ham đọc từ bé. Tôi đọc ngốn ngấu mọi thứ. Tôi đọc cho tới khi ngủ rũ với cuốn sách trong tay. Nhiều cuốn tôi đọc mà chẳng hiểu gì. Nhiều tác phẩm của Kim Lân có trong nhà tô: Vợ Nhặt, Đứa Con Người Vợ Lẽ, Con Người Cô Đầu,… Tôi đọc Kim Lân từ ngày ấy.

Về sau này, các tác phẩm của Kim Lân vẫn cuốn hút tôi bởi cái thế giới lạ lẫm của riêng ông. Cùng với Kim Lân còn có Hồ Dzếnh, với giọng văn đẹp một cách tự nhiên, mộc mạc, không cần đến hư cấu.

Cái sự Nguyễn Tuân quý Kim Lân cách riêng làm tôi thấy lạ. Không đến nỗi là hai thái cực, nhưng đặt hai người bên cạnh nhau thì thấy họ khác nhau rất nhiều. Không kể hình dáng bề ngoài, về văn chương hai người cũng khác nhau lắm: người này quan cách chữ nghĩa, người kia chân chất ruộng đồng.

Kim Lân nổi tiếng trong cả nước trước năm 1945 mà ta quen gọi là thời tiền chiến. Ông tiếp tục nổi tiếng ở phần phía Bắc đất nước, nhưng dường như bị lãng quên ở phía Nam. Người đọc bình thường ở miền Nam Việt Nam hầu như không biết đến ông. Ít nhất là tôi đã có cảm tưởng như thế khi trò chuyện với bè bạn về những tên tuổi được nhiều người nhắc tới ở đó. Cũng như thế, không phải có nhiều người biết ở miền Bắc các văn nghệ sĩ đã phải trải qua những khổ nạn nào.
Vào đầu thập niên 60, sau cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” đến vụ “Nhân văn Giai phẩm”mọi người muốn hay không cũng đều phải thận trọng , mà thận trọng đến mức bệnh hoạn, trong sự giao thiệp. “Cải cách ruộng đất” tiếng là chỉ tiến hành ở nông thôn, nhưng người ở thành thị thường cũng từ nông thôn mà ra cũng nơm nớp vì những dây mơ rễ má của quá khứ: từng có ruộng cho phát canh thu tô hoặc từng có chức vụ trong làng xã. “Nhân văn Giai phẩm” tiếng là chỉ đụng tới văn nghệ sĩ nhưng nó đụng tới cả những Ba Giai, Tú Xuất hiện đại ở nông thôn, những nhà thơ làng có những bài vè ác khẩu.
Người hết tin người, đến nỗi khi khai lý lịch người ta thường để trống mục “bè bạn”. Để trống không có nghĩa là không có ai. Nó chỉ có nghĩa là tôi không có người nào đáng ghi vào mục ấy thôi. Bè bạn khác với người quen, người tôi giao thiệp, hà cớ phải ghi vào. “Tin người quá, dễ dãi quá, có ngày mất chỗ đội mũ”, Kim Lân nói bằng giọng tiên tri bỡn cợt. Ông có lý. Lớ ngớ điền vào đấy một ông bạn bá vơ nào đó để rồi vào một ngày kia ông ta bỗng dưng bị phát hiện hay bị tố cáo là “Ku Zét” (Quốc dân đảng), thậm chí dínhdáng với Phòng Nhì của Pháp hay CIA của Mỹ thì chết. Trong trường hợp này anh sẽ là kẻ “liên quan”. Mà chỉ liên quan thôi cũng đủ lôi thôi rồi – anh sẽ bị gọi đến những nơi không ai muốn đến, ở đấy anh phải trả lời đủ thứ câu hỏi lăng nhăng của các viên chức mẫn cán trong việc truy tầm các phần tử phản cách mạng. Mất thời giờ là cái mất ít nhất. Anh còn có thể bị mất nhiều thứ lớn hơn mà anh không ngờ tới – ngồi tù cùng với ông bạn với tư cách kẻ khả nghi, bị sa thải, bị chuyển công tác, đưa về địa phương, mất béng công việc đang ngon lành.
Không biết trong lần đầu gặp gỡ khi quan sát tôi Kim Lân có nhìn tôi hoay hoáy hay không, nhưng tôi nhớ ánh mắt của ông khi nghe Nguyễn Tuân giới thiệu tôi. Văn gia Nguyễn Tuân nói quá lời, Kim Lân không đến nỗi xét nét quá đáng khi nhìn người mới quen. Cũng có thể ông tin lời giới thiệu của Nguyễn Tuân, nên với tôi ông có cái nhìn ấm áp đôn hậu đi cùng với cái bắt tay chặt.
Kim Lân hay bá vai tôi khi đi cùng. Đó là cử chỉ thân mật. Cánh tay ông nhẹ. Thân hình ông cũng vậy, chắc nhẹ bỗng. Gương mặt xương xẩu, da xạm, nhưng nụ cười toả nắng. Tôi bao giờ cũng nghi ngờ những nhà văn béo tốt, họ dường như đi lạc vào làng văn.
Tôi kính Nguyễn Tuân và một số nhà văn khác bởi văn tài của họ chứ, nói chung, các nhà văn “có môn bài” không hề được lũ viết văn trẻ chúng tôi hiển nhiên coi trọng. “Có môn bài” ở đây được hiểu là sự có chân trong Hội Nhà văn. Vào được cái hội danh giá này thời ấy khó lắm – không phải cứ có sách in là người ta cho vào. Để trở thành hội viên còn phải thông qua sự sàng lọc của một thứ chẳng liên quan gì tới văn chương là “đảng đoàn Hội Nhà văn”. Đảng rõ ràng là tổ chức không dính líu tới văn chương, nhưng đảng lãnh đạo toàn diện, cho nên nó có buộc vào cổ văn chương bằng sợi dây tam cố cũng là chuyện đương nhiên.
Chơi với Kim Lân tôi thấy ông không mặn mà bao nhiêu với cái chân trong Hội Nhà văn. Ông nổi tiếng, người ta không thể không đặt ông vào đấy thì ông vào, ông lững thững vào, chứ chân kia ông để ở ngoài – ông có nhiều bạn văn vô danh tiểu tốt hơn bất kỳ nhà văn nào trong cái hội nọ.
“Này, truyện ngắn Đêm Mất Ngủ của ông được lắm, nó lạ, nó mới, không sa vào lối mòn. Với nó ông có thể trải một chiếu trong đình làng văn được rồi”, ông nói vào một lần tôi được ông kéo về nhà mình trong ngõ hẹp.
Ông thủ thỉ khen tôi sau hai điếu thuốc lào. Tôi thích ngắm Kim Lân vào lúc này. Ông không hút như cách người nghiện đến cơn thèm. Ông hút chậm rãi, tận hưởng đến cùng cái thú của sự hút. Sau khi bắt cái điếu kêu lên một tràng giòn tan, ông rít đến khi vê thuốc đỏ lửa chìm dần vào nõ mới từ từ ngửa mặt lên, miệng không mím cũng không mở, từ đó bay ra một đám mây vần vụ. Đoạn, ông quất cái xe điếu đánh chát vào thànhcái điếu bát đã ngả màu gụ, đặt dấu chấm hết cho điếu thuốc làm ông hài lòng.
Truyện ngắn Đêm Mất Ngủ vừa mới xuất hiện trên tờ Văn Học đã có điều ong tiếng ve rằng nó đi ngược con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Đỉnh điểm của những lời phê phán là bài “Giương cao ngọn cờ tính Đảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ” của Tố Hữu, đăng trên tờ Nhân Dân, sau đó được tất cả các báo nhất tề đăng lại, không trừ cả báo Văn Nghệ đã đăng truyện ngắn này. Ông giáo sư Hoàng Xuân Nhị[1]còn gán thêm cho tôi một tội mà nhà lãnh đạo văn nghệ bỏ sót: “Vũ Thư Hiên đã phất cao ngọn cờ ấn tượng chủ nghĩa nhằm chống lại đường lối văn nghệ xã hội chủ nghĩa của Đảng”. Khốn nạn, khi viết truyện ngắn và cả sau đó nữa tôi nào có biết mặt ngang mũi dọc của cái ấn tượng chủ nghĩa nó là thế nào đâu. Say máu cuồng tín người ta nghĩ ra nhiều đòn, nhiều tội để buộc tôi vào một tội nào đó, không cần biết nó có thật hay không, không cần biết nó lá cái gì . Trong trận đòn hội chợ này nhà phê bình văn học Phong Lê cũng không bỏ lỡ để bồi thêm cho tôi một quả đấm muộn trên tập san Nghiên cứu Văn Học.
Người đưa truyện ngắn của tôi lên trang nhất tờ báo là nhà văn Đỗ Quang Tiến. Ông kể ông cũng bị hạch hỏi, bị kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, nhưng ông cứ một mực đổ cho tập thể đã thông qua. Mà tập thể rồi cũng phải nhận tội vì thiếu tinh thần cảnh giác cách mạng nên để lọt, lờ đi cái tội lười, không đọc, hoặc đọc lướt, cho nên ông nhà đoan đi làm văn Đỗ Quang Tiến riết rồi cũng bình an vô sự.
Đỗ Quang Tiến cũng là bạn Kim Lân. Ông cười hì hì khi nghe chuyện bạn bị kiểm điểm:

Giỏi! Tập thể tức là chẳng có thằng chó nào hết.
Kim Lân không phải không biết cái sự coi thường những lời vàng ngọc của ông vua văn nghệ sẽ có hậu quả thế nào. Có thể ông tin tôi không phải kẻ ưa đưa chuyện sẽ đem câu nói của ông đi khoe với thiên hạ. Mà cũng có thể ông nói văng mạng, chẳng biết sợ là gì.
Tôi ở tuổi coi trời bằng vung, Lời Tố Hữu phê phán tôi chẳng có tác dụng gì. Lời khen của Kim Lân mới là cái quan trọng. Nó cho tôi thêm vững dạ để bước tiếp.
Nhờ Kim Lân và Hồ Dzếnh tôi mới quen Thanh Châu, nhà văn lãng mạn, một cây bút chủ lực của tuần báo Tiểu thuyết Thứ bảy ngày trước. Cũng lại là sự lạ – Kim Lân không hề lãng mạn chút nào lại là bạn, mà là bạn thiết, của Thanh Châu.
Thanh Châu nói về Kim Lân:

Văn ở người này hay người kia khác nhau còn ở cái tạng, ông ạ. Tạng tôi dù có muốn viết như ông ấy đến mấy cũng không thành. Mà tôi mê cái chất mộc mạc của ông ấy lắm, nhưng bắt chước không được.
Việc kiên quyết xoá sạch quá khứ, trong văn học cũng như trong mọi mặt đời sống tinh thần trước cách mạng là chuyện đương nhiên của đảng cầm quyền. Văn Thanh Châu, và nói chung dòng văn lãng mạn bị giập tắt hoàn toàn ngay lập tức để nhường chỗ cho văn chương công nông binh.
Chúng tôi, những đứa trẻ mê văn, rất biết ơn các tác giả của nền văn học trước cách mạng. Mặc cho mọi phủ định, mọi bài nói bài viết chê bai, dè bỉu của những cây bút phê bình mới nổi, chúng tôi hiểu rằng mọi bút pháp văn xuôi, và cả thơ nữa, được phong phú như bây giờ là nhờ công khai sơn phá thạch của các vị ấy. Những tác phẩm của thời kỳ trước cách mạng bị coi là văn hoá độc hại, bị tịch thu, bị thiêu huỷ, nhưng chúng không biến mất hoàn toàn, chúng tôi vẫn tìm ra chúng ở những người yêu sách đã cất giấu được, ở những hiệu sách cũ.
Các nhà văn cũ bị chìm nghỉm trong cơn sóng lừng của những cấm đoán khắt khe.
Thanh Châu chẳng chờ bị nhận chìm, như nhiều nhà văn tiền chiến ông tự chìm. Ông ngồi nhà, khoá trái cửa, tránh mọi giao tiếp.
Đến với Thanh Châu, tôi phải thận trọng từng bước leo một cái thang mảnh dẻ và lung lay, chui qua một cái lỗ nhỏ hình vuông vừa đủ cho một người, để lết vào bên trong cái gác lửng thấp tè. Ngồi ở đó, bên bàn trà của Thanh Châu, tôi được hưởng sự yên tĩnh ở một thế giới khác, bỏ lại sau mình cái thế giới chán phè.
Nhà Thanh Châu là chỗ ẩn náu của mấy nhà văn không ưa thời cuộc bên ngoài. Họ lui tới với Thanh Châu vì ở đó là nơi có thể bàn chuyệnđời, chuyện văn, muốn nói gì thì nói. Lạ một cái là ở đấy chúng tôi chẳng phê phán ai, chẳng chống đối ai, chẳng chống đối cái gì, chúng tôi không rỗi hơi để làm việc ruồi bu, thế mà người ta cũng biết ai thường đến đấy, nói cái gì. Không thể hiểu tại sao – ai đó sểnh miệng hay có người không đáng tin nhập cuộc. Thành thử khi có chuyện ấy xảy ra thì giữa chúng tôi cũng có cái nhột nhột trong câu nói, trong giọng nói, như một phản xạ có điều kiện.
Đến thời có cuộc “đấu tranh giữa hai đường lối” (tức là hai cái gọi là “giáo điều” và “xét lại”) thì tình hình căng như dây đàn. Trong bầu không khí ngột ngạt, ở mọi cơ quan báo chí xuất bản các bài viết, các tác phẩm văn học nghệ thuật đều bị lôi ra xem xét dưới kính phóng đại. Mọi nhà văn nhà báo đều bị coi là xét lại, hoặc tình nghi xét lại. Người ta thổi phồng cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại hiện đại được Bắc Kinh khởi xướng như là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng vô sản, được các loa đầu đường ra rả phát lại. Mọi văn nghệ sĩ phải tự xem lại mình, tự kiểm điểm , tự đấm ngực mà kêu mea culpa (tôi là kẻ có tội). Có cả những người chẳng hề quan tâm các thứ chính trị linh tinh vội vã xưng mình có tội để được coi là kẻ trung thành với đường lối chính thống. Nhìn quang cảnh ấy tôi thấy xấu hổ cho giới trí thức.
Trong cuộc săn phù thuỷ này có rất nhiều sắc thợ săn – kẻ vì danh, lợi, kẻ chỉ mong được tồn tại, được sống sót. Tôi cũng suýt chết. Những bài báo tôi viết có nói đến tình hữu nghị với Liên Xô, nước được coi là tên đầu sỏ xét lại bị đem ra mổ xẻ, lên án. Chỉ đến khi tôi đưa ra chứng cứ rằng bản quyền những câu chữ ấy không phải của tôi mà của các lãnh tụ đảng được tôi cóp pi nguyên văn thì những nhà phê phán, từ thư ký toà soạn tới chị đánh máy mới ngã ngửa người ra đành phải cho tôi trắng án.
Hiền lành như Kim Lân mà rồi cũng không thoát cuộc đấu tranh giữa hai đường lối một mất một còn để trở thành nạn nhân vì truyện ngắn Con Chó Xấu Xí. Tôi không nhớ ai là người đầu têu phê phán truyện Con Chó Xấu Xí. Trong những cuộc họp té nước theo mưa, bằng giọng cao đạo người ta nổ như pháo rằng Kim Lân là một tên xỏ lá có hạng, Kim Lân dám ví Đảng như ông chủ, còn trí thức là con chó. Cả nhà ông chủ hắt hủi con chó ghẻ lở gày còm, nó bị đạp, bị đá, nhìn thấy bóng người là nó len lét lủi như chạch. Chỉ đến khi nó hết bệnh, trở nên khoẻ mạnh, béo tốt, thân hình nể nang của nó hứa hẹn những đĩa luộc, đĩa dồi và nồi nhựa mận bốc mùi ngào ngạt, nó mới được mọi người hết lời khen ngợi. Con chó khốn khổ thì chỉ biết một mực trung thành với chủ, nó giữ nhà cho chủ khi chủ chạy Tây càn cho đến khi nó bị thương gần chết vẫn còn lết đến mừng chủ trở về. Miêu tả thân phận con chó còi cọc đói khổ trên nền xám của nông thôn Việt Nam Con Chó Xấu Xí là một truyện ngắn cực hay.
Như có một cái dớp, mọi tác phẩm mang tên các con vật như Văn Ngan Tướng Công của Vũ Tú Nam, Con Nai Đen của Nguyễn Đình Thi đều chịu chung số phận với Con Chó Xấu Xí. Tôi cũng không nhớ ai đã viết thế này về Văn Ngan Tướng Công: “Vũ Tú Nam ví đảng như con ngan, bay không biết bay, bơi không biết bơi, chỉ nỏ mồm cạc cạc”. Con Nai Đen, không bị đánh công khai, có lẽ do người ta còn chút nể nang ông chủ tịch Hội Nhà văn nhưng lời phê phán của Tố Hữu rằng tác giả đi chệch đường, lấy truyện xưa để nói nay, một thứ sáng tác bệnh hoạn được truyền miệng rộng rãi. Nguyễn Đình Thi và Vũ Tú Nam dù cùng gặp tai nạn với Kim Lân nhưng trước sau hai vị vẫn là ”người của đảng”, không được lũ viết văn trẻ chúng tôi coi là “người cánh ta”.
Tôi kể chuyện này để thấy tôi không lầm về Kim Lân.
Cũng như mọi người, ông sống thận trọng. Một hôm, từ nhà Thanh Châu ra về ông bảo tôi: “Này, ông phải cẩn thận đấy. Đỗ Nhuận vừa nói trong cuộc họp ở hội rằng Vũ Thư Hiên là một tên xét lại”.
“Xét lại” là một từ rất xấu, rất nguy hiểm. Người bị gọi là “xét lại” là người có thể bị nhiều tai ương không ngờ.
Tôi ngây thơ cứ nghĩ Đỗ Nhuận đối với tôi có tình. Chúng tôi hể hả khi gặp nhau, trò chuyện vui vẻ. Tôi quý tác giả bài ca Sơn La Âm U, Núi Khuất trong Sương Mù, Giải Phóng Điện Biên, Bộ Đội Ta Tiến quân Trở Về…Mới hôm trước anh còn rủ tôi đi cà phê Lâm Toét: “Thể nào ông cũng viết cho tôi một bài về nhạc kịch Cô Sao đấy nhá! Tôi thích cách ông viết. Ông phải “lăng-xê” nó cho tôi”.
Thêm một lần tôi hiểu con người có hai mặt hoặc nhiều mặt trong cái xã hội tôi đang sống.
Tôi cảm ơn Kim Lân đã nhắc nhở. Nhưng tôi không biết phải cẩn thận thì cẩn thận thế nào cho đủ.

Đừng nghĩ tới chuyện viết trong thời gian này – Kim Lân nói – Tôi cũng thế, tôi im. Hoặc tôi xuất bản bằng mồm.
Trong các truyện ngắn xuất bản bằng mồm của Kim Lân, có tôi, Thanh Châu và Hồ Dzếnh cùng nghe, có một truyện tôi đặc biệt nhớ: Thằng Câm. Truyện này rồi sau Kim Lân hoá ra cũng chẳng viết ra giấy. Nó chẳng được in ở đâu, cũng không nghe ai nói tới một bản thảo của Kim Lân có tên như thế.
Như mọi truyện của Kim Lân, truyện Thằng Câm rất đơn giản. Ở một hợp tác xã nông nghiệp nọ có một chàng trai ế vợ. Anh khoẻ mạnh, không đẹp trai, cũng không xấu xí. Nhưng anh bị câm bẩm sinh. Sau nhiều mai mối, cuối cùng một cô gái làng bên thuận lấy anh. Họ sống với nhau được một thời gian không dài. Cho đến một ngày, trong cuộc chấm điểm lao động của hợp tác xã, anh bất bình với cách chấm điểm mà anh cho là không hợp lý, anh ú ớ cãi lại. Vợ anh cũng không hiểu anh nói gì, cô dịch lời của anh sai, anh quát cô, anh la hét rầm rĩ, vung tay định tát cô ngay trong cuộc họp. Cô bỏ chạy, nước mắt ròng ròng. Đêm hôm đó, cô thu xếp quần áo cho vào tay nải, đợi anh ngủ say thì đi. Nhưng ra đến cổng, cô bịn rịn quay lại nhìn vào cửa sổ nơi anh nằm và giật mình: qua những chấn song cô nhìn thấy mặt anh thẫn thờ, tuyệt vọng, đau đớn. Anh vẫn thức, anh biết chị sẽ bỏ đi, anh không cản, anh chấp nhận số phận hẩm hiu của kẻ tật nguyền.
Chuyện chỉ có thế. Nhưng cách kể chuyện của Kim Lân làm người nghe rùng mình về tình người không nói ra.
Nếu nó được viết ra thì Thằng Câm chắc chắn sẽ là một truyện ngắn tuyệt vời. Kim Lân là phù thuỷ trong chuyện đời được viết thành văn.
Kim Lân nói về nghề văn:

Chữ nghĩa của ta thật hay. Nó có chữ “ngứa nghề”. Tôi đã hỏi các vị thần sầu tiếng Tây thì các vị ấy bảo trong tiếng Tây cũng không có chữ ấy. Ngứa thì phải gãi. Trong văn cũng vậy. có ngứa nghề mới viết được. Ngứa là thế nào? Là có một cái gì đó nhập vào ta, bắt ta phải chú ý đến nó, đòi ta phải suy nghĩ về nó, phải kiếm cách cho nó được bộc lộ ra. Lúc ấy là phải gãi, phải viết nó ra. Không ngứa mà gãi là không thành, là thành cái vô duyên
Rồi chúng tôi xa nhau một thời gian dài.
Trong xà lim cấm cố tôi nhớ nhiều thứ tôi bỏ lại bên ngoài. Tôi nhớ về vùng quê thời thơ ấu, của tôi, rồi tỉ mẩn ghi lại những gì tôi còn nhớ vào những mẩu giấy mà người tù bị biệt giam còn có thể có – giấy gói kẹo, vỏ bao thuốc lá… Những mẫu ghi chép ấy về sau này được mẹ tôi và các em tôi giấu giếm mang được ra ngoài, chép lại, để rồi sau này, như nhờ một phép màu, nó được in thành cuốn Miền Thơ Ấu.
Rồi Miền Thơ Ấu cũng đến tay Kim Lân.
Găp lại Kim Lân ở Sài Gòn, tôi nói với ông:

Viết về nông thôn tôi sợ nhất ông. Nông thôn dưới ngòi bút của ông mới là nông thôn đích thực.
Kim Lân ôm lấy tôi:

Tôi xúc động đọc Miền Thơ Ấu. Tôi là thằng nhà quê, viết chuyện nhà quê, bằng văn nhà quê. Còn ông là dân tỉnh, viết chuyện nhà quê bằng văn tỉnh. Khác nhau có thế thôi, ông ạ.
Đó là lần gặp gỡ cuối cùng của tôi với Kim Lân.
Ông đi, để lại trong tôi một trống vắng không thể lấp đầy.
8.2019

[1] Hoàng Xuân Nhị (sinh 1914), giáo sư khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đóng góp nhiều cho nền phê bình văn học xã hội chủ nghĩa, nhất nhất theo quan điểm bảo thủ mác-xít.

Nguồn: FB của nhà văn Vũ Thư Hiên

Thơ Nguyễn Bắc Sơn trở lại nhân 4 năm ngày mất của ông

Sách vừa ra mắt tháng 8-2019 – Ảnh: L.Điền

Thi phẩm của Nguyễn Bắc Sơn vừa trở lại với bạn đọc nhân kỷ niệm 5 năm ngày ông giã biệt văn đàn: Nguyễn Bắc Sơn – tác phẩm và dư luận được gia đình và bạn bè thực hiện.

Đây cũng là dịp tập thơ nổi tiếng của Nguyễn Bắc Sơn – Chiến tranh Việt Nam và tôi – được in lại toàn bộ, bên cạnh đó là loạt thơ rời ông làm từ sau 1972 đến cuối đời. Phần còn lại như một phụ lục, là bài viết của bạn bè, người hâm mộ và các chuyên gia nhận định về tác giả Nguyễn Bắc Sơn và tác phẩm của ông.

Nguyễn Bắc Sơn có thể xem là một “trường hợp thơ” phát lộ từ cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây là một loại “hệ quả nhân văn” kỳ lạ của chiến tranh, bởi nếu Nguyễn Bắc Sơn trưởng thành trong bối cảnh xã hội khác và không mất nhiều năm tháng tuổi xanh cho khói lửa đạn bom, hẳn chúng ta không có một nhà thơ viết về chiến tranh độc đáo như vậy.

Điều độc đáo khi được cộng hưởng sẽ trở thành đáng quý. Tròn 5 năm ngày ông mất, một tập sách đầy đặn mang lại cho khách yêu thơ hôm nay cơ hội được một lần nữa cùng thưởng thức những câu chữ ý tứ và tinh thần nhập thế của một người con vùng đất Bình Thuận nắng cát khô cằn.

Nguyễn Bắc Sơn chính là người sớm đưa những địa danh vốn lạ lẫm nơi vùng phía bắc Bình Thuận vào thơ. Những tên gọi Ma Lâm, Sông Lũy, Sông Mao, động Thái An, khu Lê Hồng Phong… gắn với chiến tranh khốc liệt một thời. Và bằng một cách tự nhiên, những nơi này hiện lên trong thơ Nguyễn Bắc Sơn với cách thế lãng mạn nhiều hơn là… cách mạng.

Bởi không ai viết về giờ phút trước khi vào trận bằng lời thoại phân công: “Khi tao đi lấy khẩu phần/ Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao“, và cũng chẳng có người lính nào trong trận mạc lại hồn nhiên thừa nhận: “Mùa này gió núi mưa bưng/ Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan“.

Và trong cuộc chiến với hệ lụy bộn bề cho nhiều phía ấy, Nguyễn Bắc Sơn có cơ duyên sống cùng sắc lính gồm những người Chăm. Có lẽ cho đến nay, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đủ để cắt nghĩa một cách ngọn ngành cụm từ “ý thức dân tộc” trong trường hợp các cộng đồng dân tộc thiểu số hiện diện trong chiến tranh Việt Nam.

Nhưng thật kỳ lạ, từ trong lúc chiến tranh hãy còn khốc liệt vào thời trước 1972, ông đã viết bốn câu thuật tả cái tình cảnh éo le mà cũng thật dễ thương ấy: “Đốt lửa đồi cao không thấy ấm/ Lính Chàm giận ghét Chế Bồng Nga/ Chiến chinh chinh chiến bao giờ dứt/ Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà?“.

Và có lẽ cũng chính chiến tranh Việt Nam đã dồn đẩy Nguyễn Bắc Sơn vào chỗ phải chiêm nghiệm sâu hơn với cuộc đời. Điều này có khác những thân phận người dân chung cuộc chiến ở chỗ: Chiến tranh dồn đẩy một nhà thơ sẽ làm bật ra những cấu tứ lạ. Với Nguyễn Bắc Sơn, cái lạ ấy chính là lắm khi tâm hồn ông thoát hẳn ra ngoài không khí chiến tranh để nói một cách dung dị về cuộc đời, về tình người. Thêm một lần nữa, sự dung dị của Nguyễn Bắc Sơn tưởng đùa chơi bỗng dưng trở thành triết lý cho nhiều thế hệ: “Vì đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên ta bảo mình thôi hãy quên em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đời ta nhớ nhớ quên quên”.

Và về ý niệm thời gian, có lẽ đây chính là đề tài quen thuộc của các dòng văn thơ viết về chiến tranh. Nguyễn Duy từng khắc họa thời gian qua mái tóc người lính thật tài tình: “Có người ngủ thế thành quen/ Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình”. Thì ở đây, Nguyễn Bắc Sơn cũng thực sự đóng góp cho gia tài thơ Việt hai câu độc đáo: “Dù mỗi ngày ta xé đi năm mười tờ lịch/ Nhưng thời gian đâu có chịu trôi nhanh”, một lối nói tự nhiên mà thành riêng một giọng điệu giữa muôn trùng chữ nghĩa.

Và quãng đời nhà thơ sau cuộc chiến cũng hiện diện trong tập sách lần này. Không còn thấy bóng dáng chiến tranh, những vần thơ Nguyễn Bắc Sơn chiêm nghiệm cuộc đời thời hậu chiến vừa chính là nỗi lòng chia sẻ với tiền nhân: “Nguyễn Du cười khóc văn chương lạnh/ Thúy Kiều chìm nổi một dòng sông/ Đã biết phận người là khổ lụy/ Sao còn đứt ruột giữa mênh mông”, vừa là nỗi ưu tư của một kẻ làm thơ đặt mình vào trong chỗ vô cùng của nhân loại: “Tiếc loài người bày ra xích xiềng huyễn mộng/ Đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên/ Câu chuyện tình như ngọn gió miên miên/ Thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch”.

Lam Điền

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.