Mộ tổ nhà cụ Nguyễn Trãi

 

Hôm nọ trên núi Ấn, nhân câu chuyện của cụ Ba có nhắc đến cụ Nguyễn Trãi, mình buột mồm nhớ lại câu chuyện địa lý có liên quan đến ngôi mộ tổ nhà cụ Ức Trai. Chuyện này do cụ Trúc Khê sưu tầm, chép vào trong quyển sách khảo cứu về cụ Nguyễn Trãi, ấn hành lần đầu năm 1941.
Cụ Trúc Khê cẩn thận, khi soạn sách có đến tận làng Nhị Khê tìm xem ngôi mộ tổ của dòng họ Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi, kể từ khi sinh thời đất nước loạn ly, nhà cửa bị tan tác, cụ đền nợ nước trả thù nhà vẹn toàn, trở thành bậc khai quốc công thần nhà hậu Lê, rồi kết thúc cuộc đời bằng thảm án tru di tam tộc. Cuộc đời như vậy kể cũng quá đỗi ly kỳ.
Cứ theo miệng tiếng người đời, xung quanh cuộc đời như vậy hẳn có nhiều giai thoại và huyền thoại. Ở đây mình chú ý đến câu chuyện liên quan đến phong thủy.
Chuyện phong thủy lại dính dáng đến một vị quan người Tàu. Đó là Hoàng Phúc. Ông này hai lần đến nước Nam làm quan, lần đầu sau khi diệt nhà Hồ, triều Minh đặt nền móng đô hộ trên nước ra, Hoàng Phúc vốn là thượng thư Minh triều sang nước Nam coi hai ty Bố chính và Án sát. Hoàng Phúc ở nước ta lâu, kéo dài gần 20 năm, mãi đến 1424 mới bị triệu về Trung Quốc. Trong thời gian làm quan ở nước Nam, Hoàng Phúc vốn giỏi nghề phong thủy đã tranh thủ kháo sát các long mạch, cuộc đất khắp vùng. Trong đó, ông có đến làng Nhị Khê xem cuộc đất nơi đặt mộ tổ cụ Nguyễn Trãi. Theo cụ Trúc Khê chép lại, Hoàng Phúc đã chép về cuộc mộ này là: Nhị Khê mạch đoản/ Họa thảm tru di.
Lần thứ hai Hoàng Phúc sang nước Nam chỉ sau khi về Tàu có 3 năm, tức năm 1427 Mã Kỳ dâng biểu về triều Minh cầu viện và Hoàng Phúc lại được phái sang để hỗ trợ quân minh đánh nhau với quân Lê Lợi.
Tuy nhiên, lần sang nước Nam này Hoàng Phúc không gặp may, đến tháng 10 năm đó ông bị bắt làm hàng binh. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi có nhắc tên ông lúc quân Lê Lợi phản công thắng lợi: Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội/ Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng, là nói về sự kiện này.
Cũng theo sách của cụ Trúc Khê chép, Hoàng Phúc bị bắt, giải về dinh Bồ Đề gặp Nguyễn Trãi lúc bấy giờ là quân sư đang tham gia điều hành cuộc chiến chống quân Minh. Không hề run sợ, Hoàng Phúc còn tâm sự với Nguyễn Trãi rằng: Mộ tổ nhà tôi có tướng Xá văn tinh, nên dù hôm nay tôi có mắc nạn chắc cũng sẽ được tha thôi. Trong khi mộ tổ nhà ông có tướng để họa tru di cho con cháu, ông phải để ý mới được.
Có vẻ lời tâm sự này không được cụ Ức Trai lưu ý lắm, vì không thấy ai nói chuyện cụ sửa đổi mộ tổ sau đó. Mãi cho đến lúc thụ hình trong vụ án Lệ chi viên, khi ra pháp trường, Nguyễn Trãi bỗng than rằng: Thật hối hận khi xưa không nghe lời Hoàng Phúc.
Than ôi, lời dự đoán thuộc chuyên ngành phong thủy, để đến lúc ứng nghiệm mới nhớ ra, thì muộn mất rồi.
***
Đọc cụ Trúc Khê, lại biết được cái câu các cụ phong thủy vẫn nhắc về Cao Hoàng thời xưa, hóa ra không phải chỉ nhắc về ông Cao Biền, mà là cả Cao Biền và Hoàng Phúc – hai ông thầy phong thủy Trung Hoa từng đến Việt Nam khảo sát mạch đất và để lại các câu chuyện xung quanh.
***
Thế mới biết, nghề phong thủy có nhiều khẩu quyết truyền ra từ giai thoại huyền thoại kiểu như trên, đại khái như này:
Mộ nào có Xá văn tinh/ 
Con cháu thụ hình cũng được dung tha.
Nhị Khê mạch ngắn tà tà/ 
Đến khi phước cạn, họa là tru di.

Nghề địa lý phong thủy, ít ra cũng phải quyền bí như vậy,
hehe

Advertisements

Chuyện văn bản và xúc phạm người xưa hay chủ ý ăn theo của một lớp người không vỡ chữ?

 

Tìm một cái nhan đề dài dòng vậy, là liệu pháp để vơi bớt nỗi buồn đang dâng chất ngất trong lòng. Thiệt sự. Bởi vừa đọc cái chuyên đề “Phật giáo và văn học Bình Định” trên Xưa & Nay số tháng 7 mới ra, trong phần văn học Bình Định có bài viết “Quách Tấn với cảm  hứng về quê hương đất nước” của một tác giả mình thấy lạ hoắc (Nguyễn Công Thanh Dung).

Đọc xong thì buồn vô hạn. Bởi bài viết cũng thường thôi, nhưng dẫn thơ Quách Tấn sai nhiều quá. Sai morasse đầm đìa, mà sai ở những chỗ thơ văn dẫn lại từ nguyên tác của nhà thơ đang là đối tượng của bài viết, là một chuyện không chấp nhận được.

Không kể những cách diễn đạt, lập ý mang dáng dấp một bài làm văn bậc phổ thông, phần dẫn lại mấy câu trong bài thơ Đà Lạt đêm sương của Quách Tấn sai thật buồn cười. Tác giả Nguyễn Công Thanh Dung chép thế này:

Bóng trăng lóng lánh mặt hồ im
Thời khắc theo nhau lải rải chìm
Đứng tựa non sao bờ suối ngọc
Hồn say nhè nhẹ mộng êm êm

Một làn sương bạc bỗng từ mô
Lẻn cuốn vầng trăng cuốn mặt hồ
Cuốn cả non sao bờ suối ngọc
Người lơ lửng đứng giữa hư vô” (hết trích)

Bài Đà Lạt đêm sương của Quách Tấn có 12 câu, ở đây dẫn lại 8 câu, và sai hết 4 chữ.

Bài Đà Lạt đêm sương in trong tập Một tấm lòng, nếu tác giả đời sau không có văn bản in lần đầu, thì chí ít cũng nên giở quyển Thi nhân Việt Nam ra, ở đó in lại bài Đà Lạt đêm sương, với các chữ: “đứng dựa” chứ không phải “tựa”; “say dịu dịu” chứ không phải “say nhè nhẹ”; và “vừng trăng” chứ không phải “vầng trăng”. Có thể tác giả quen mồm vẫn gọi tựa thay cho dựa, hay thường say nhè nhẹ với ai đó chứ chưa biết say dịu dịu nó thế nào, nhưng dẫn thơ người ta thì cứ dẫn đúng cái đã. Ấy là nói dẫn thơ một cách có trách nhiệm thôi, chứ trong tình trạng này mà đòi hỏi tác giả bài viết kia phân biệt sự khác nhau, độ tinh tế, nét độc đáo của mấy thứ: say dịu dịu khác say nhè nhẹ thế nào, và tại sao lại dựa chứ không phải tựa, vừng chứ không phải vầng, e là một đòi hỏi nhiều phần quá sức, bất khả thi.

Nhưng trong cơn cao hứng lục tìm Quách Tấn để viết bài, tác giả kia còn chép cả bài thơ thất ngôn bát cú:

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Tro tàn thư viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
Gầy gọ gió sương từng Thế miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang
Trông vời Thiên Mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng

Bài này, chẳng rõ tác giả căn cứ vào bản in nào mà chép nhan đề là “Rụng tiếng vàng”. Riêng mình thì lần đầu biết bài này là đọc từ tập Bài thơ thôn Vỹ, trong đó chép bài này nhan đề là: Viếng thành Huế sau ngày khói lửa, nguyên văn như sau:

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Thơ tàn cổ viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung tiếng ngỡ ngàng
Gầy guộc gió sương tùng thế miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang
Trông vời Thiên Mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng.

Cứ so hai văn bản, thì thấy tác giả bài viết xúc phạm tác giả bài thơ quá nhiều: thơ tàn bị chép thành tro tàn, cổ viện thì chép thành thư viện; Quách Tấn viếng thành Huế sau ngày khói lửa, thấy đá nát vàng phai, lắng nghe tiếng bể dâu vang động trong lòng, cái tiếng ấy nó ngỡ ngàng trước nơi chốn ông vốn quen thuộc. Cái hay ở đó chứ, nào phải bước ngỡ ngàng như cách nhập tâm không kiểm chứng văn bản của tác giả bài viết lấy được kia đâu. Thế rồi đến như chữ gầy guộc quen thuộc thế cũng chép thành gầy gọ, chẳng biết là phương ngữ tộc người nào; kiến thức đăng đối biền ngẫu – một yêu cầu gần như bắt buộc khi tiếp cận thơ luật của Quách Tấn – chắc hẳn là khoảng trống mênh mông đối với tác giả kia, nên trong cặp luận mới không nhìn thấy “tùng thế miều” đối với “trúc Hương giang”, đành đoạn chép thành “từng thế miếu” là cái từng gì vậy trời ơi…

Nói thêm về quyển Bài thơ thôn Vỹ, là tập hợp các bài thơ viết về Huế trước 1945 do nhóm Tô Nhuận Vỹ, Hoàng Phủ Ngọc Tường tập hợp bản thảo, Bửu Chỉ vẽ bìa, in năm 1987 lúc Quách Tấn còn sinh thời. (Xem hình chụp trang thơ Quách Tấn trong tập này).

Thế rồi nhìn qua cái bài cũng rất nổi tiếng của Quách Tấn, là viết về chính quê quán của ông: đất Phú Phong ở huyện Bình Khê, thì ngay câu đầu đã sai đến hai chữ: Quách Tấn viết: Nhất huyện Bình Khê đất Phú Phong, thì nay Nguyễn Công Thanh Dung chép “Tiếng hạt Bình Khê đất Phú Phong”; núi Kính bị chép thành núi Chúa, thiệt không biết chẳng may Quách Tấn tiên sinh còn sống đến ngày nay đọc thấy người ta chép thơ mình như vậy, có lăn ra mà ngất xỉu hay không?!

Bài thơ về Hầm Hô ở đất Phú Phong này mình đọc từ hồi nhỏ trong quyển Nước non Bình Định (xem hình chụp bài thơ in trong sách, bản in năm 1967).

Thế rồi ngó đến bài Vọng phu cũng lại thấy chép sai, rùng mình sởn gai không biết ở đâu nảy ra một tác giả viết bài kinh khiếp đến thế.

Mà kinh khiếp hơn là lại có tờ tạp chí in sai nhiều đến thế, không hề chỉnh sửa gì cả hay sao?

Người xưa nổi tiếng thì cũng nổi tiếng rồi. Người đời sau nếu không quan tâm, thì thôi đừng viết dù là sự nổi tiếng của Quách Tấn có làm tác giả hâm mộ. Còn khi viết, chí ít cũng phải cẩn trọng ở khâu văn bản. Đằng này, một tác giả mình không nghe tên tuổi gì, lại chấp bút viết về một tác giả từng nổi danh từ nhiều thập niên trước, lại để xảy ra sai sót như vậy, chưa thấy bài viết mang lại chút gì thơm thảo cho hương hồn cụ Quách Tấn, nhưng phần xúc phạm của một người đời sau khi đọc hiểu thơ của cụ, là quá rõ rồi. Ô hô thiên!

2-8-2018

Lam Điền

Hiểu Sài Gòn qua những biểu tượng

Sách do Phanbook và NXB Văn hóa Văn nghệ liên kết ấn hành – Ảnh: L.Điền

Như thế nào là hiểu một vùng đất? Nếu nội hàm của ba từ một vùng đất được nới rộng ra bao gồm cả lịch sử, cư dân, những biến động thời cuộc, các giá trị tạo thành, một số dự kiến cho tương lai… thì công việc tìm hiểu về những vùng đất là những hành trình khoa học nhân văn đầy thú vị.

Với một vùng đất thú vị như Sài Gòn, công việc tìm hiểu chưa bao giờ thôi quyến rũ, nhiều lớp người nghiên cứu, nhập cư, sẻ chia và tạo dựng đã hình thành một mạch chảy trong đời sống thực tế: mong muốn hiểu rõ hơn những phần chìm nổi của Sài Gòn.

Trong ý hướng đó, việc tổ chức tập sách theo kiểu giai phẩm như Sài Gòn những biểu tượng mà Phanbook thực hiện vừa ra mắt, là một cách để nắm bắt Sài Gòn kỹ hơn, qua hệ thống những biểu tượng.

Giới đọc sách và quan tâm đến Sài Gòn hẳn biết ý tưởng cho các tập giai phẩm không định kỳ này được khởi đi từ năm trước, khi ấy, Sài Gòn phong lưu là một cách trình hiện ra trước công chúng một dáng dấp Sài Gòn không lẫn vào đâu được bằng cái chất phong lưu của nhiều tầng nấc đời sống thị dân.

Vẫn với sự quán xuyến của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên, tập giai phẩm thứ hai muốn đưa người đọc đến với Sài Gòn theo một tư duy mới mẻ hơn: những biểu tượng.

Vẫn với hai phần nội dung, tập giai phẩm bao gồm các bài tùy bút và những công trình biên khảo. Tùy bút, tề tựu ở đây là những trang viết có chút gì tương đồng với… Sài Gòn, bởi lắm khi đó là những tâm sự riêng, thật thà và khó gặp. Như người ta có thể bất ngờ gặp một bữa cơm cá kho đúng chất vị miền trung ngay giữa Sài Gòn sau nhiều chục năm vắng bữa. Trong chiều hướng đó, lần giở trang giai phẩm sẽ gặp Du Tử Lê với những “lát cắt ăn chơi” trong không gian văn nghệ Sài Gòn một thời mà tác giả là người trong cuộc; bắt gặp tòa soạn báo Thiếu Nhi một thời sống động và nay vẫn còn thao thức trong ký ức của nhà báo Phạm Công Luận. Riêng chuyện hẻm và quán cóc – không gian đặc trưng của Sài Gòn – cũng có những trang viết thật cảm tình. Đó là tâm sự của tác giả Nguyễn Tường Bách khi chỉ với một chỗ ngồi nơi quán cóc ở đường Võ Văn Tần, ông chứng kiến và chiêm nghiệm những thịnh suy trôi qua những phận người Sài Gòn. Hà Quan San xâu chuỗi những mảnh đời ở hẻm Sài Gòn thành biết bao tâm sự, đáng yêu nhất là hình ảnh hẻm Sài Gòn đi vào nhạc cũng như một biểu tượng: “Nhớ đến một chuyện tình, người ta thường nhớ về một con đường dù là hẻm cụt, lầy lội, quanh co. Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ có đến ba ca khúc nhớ về ngõ xóm ấy: “Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở” (Trăng tàn trên hè phố), “Tôi về qua xóm nhỏ con đò nay đã già” (Những ngày xưa thân ái); “Nhớ đêm nào đường về nhà em có trăng lên sáng soi lối vào” (Thư về em gái thành đô)… Và hẻm nối liền ký ức của các thế hệ dân cư: “Hẻm không nhiều nhưng xóm không thể thiếu hẻm. “Dân Sài Gòn” gọi đúng phải là “dân hẻm Sài Gòn” vì dân mặt tiền trước đây hầu hết cũng là dân trong xóm. Dân cư Sài Gòn bây giờ đông hơn rất nhiều so với các thập niên cuối thế kỷ trước, hẻm cũng vì thế mà dài hơn, quanh co hơn. Nhiều thị dân lớn tuổi đi xa trở về không dễ gì nhận ra các hẻm xóm ngày xưa…”.

Phần các thiên biên khảo mới đúng là “chút gì để lại” với Sài Gòn. Ở đây là công trình khảo cứu về “Điêu khắc trong kiến trúc thuộc địa ở Sài Gòn” (Hà Vũ Trọng), trình bày như một cẩm nang để người đọc nắm bắt được những hình tượng điêu khắc ở bề mặt các công thự trọng yếu nằm dọc các trục lộ trung tâm Sài Gòn như: Dinh phó toàn quyền, Tòa thị chính, Tòa nhà bưu điện, Nhà hát lớn, Pháp đình Sài Gòn, Trụ sở thuế và hải quan… Bài khảo cứu như “một cuộc dạo ngắm cận cảnh”, nhưng qua đó, tác giả lưu ý những vấn đề không đơn giản: “Về mỹ thuật, có một mối tương quan nội tại không thể phủ nhận giữa kiến trúc, điêu khắc, hội họa và trang trí cùng ý nghĩa chính trị của chúng được duy trì chặt chẽ trong các phong cách nghệ thuật, mà ở đây là phong cách Tân Cổ điển thời Đệ tam Cộng hòa Pháp”. Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về: những trục đường Sài Gòn thuở ban đầu (Nguyễn Đỗ Dũng), thương mại của người Việt đầu thế kỷ 20 ở Sài Gòn và Chợ Lớn (Nguyễn Đức Hiệp)…

Lam Điền

 

gốc mai thưởng trà…

hehe

 

Post nhân tìm thấy app

Trong cuộc khua khoắng các nơi để xem thử có chỗ nào thoát khỏi FB, hốt nhiên mình thấy anh worpress này có app tự bao giờ mà mình không biết. hehe

Nên bèn load về cái, post một phát xem thế nào.

Câu đối của cụ Nguyễn Sinh Sắc 

Hồi lão Lý còn sống, có lần ông nhắc đến câu đối của cụ Nguyễn Sinh Sắc, nội dung về đạo Phật, mà lão Lý nhớ nguyên văn chữ Hán, đọc cho mình nghe là:
Đại đạo quảng khai thố giác khiêu đàm để nguyệt; 
Thiền cơ giáo dưỡng quy mao phược thụ đầu phong. 
Lão Lý cũng bảo là đôi câu đối này viết thành cặp liễn còn để ở một ngôi chùa ở Bình Dương, ngặt nỗi lão Lý không nhớ cụ thể ngôi chùa nào.
Sau đó có lần nghe đường chủ Hủ nho nhắc câu này, và hình như có thông tin cặp liễn khắc câu này hiện ở đâu dưới Tiền Giang chứ không phải Bình Dương.
Mình chú ý đến câu đối trên không phải vì tác giả, mà vì nội dung, nó bày tỏ một thái độ mang tính nhận thức về đạo…
Và mãi đến chiều qua trong cơn mưa giông bất ngờ, ghé lại hẻm tự dưng bắt gặp quyển sách có in bản chụp câu liễn trên, lại có ghi chú xuất xứ là ở chùa Kim Tiên thuộc Cai Lậy, Tiền Giang nữa mới hay chứ.
Sáng nay trong lúc đi đường, nhẩm dịch hai câu ấy thế này:
Đạo lớn mở mang, sừng thỏ khều trăng đáy nước; 
Thiền cơ dạy dỗ, lông rùa cột gió ngọn cây. 
hehe

P.S. Cơ mà post xong đọc lại, thấy chữ thứ 7 câu sau là chữ thằng chứ không phải phược, vẫn cùng nghĩa trói, cột.
Vậy vế sau đọc lại là: Thiền cơ giáo dưỡng quy mao thằng thụ đầu phong.

 

Đời vờ

1/ Năm xưa, nhân một lần ghé nói chuyện với lão ka hờ nờ tờ, ông bảo rằng vừa đọc lại cái quyển Triết học Phật giáo của Phan Văn Hùm, và thấy cái bài tựa cha mẹ ơi là hay.
Mình cũng hiếu kỳ, về tìm quyển Triết học Phật giáo ấy đọc cái bài tựa xem thế nào. Thấy quả đúng là văn chương thời các cụ ý nhị hay ho. Lão hờ nờ tờ khen văn hay, còn mình thấy ở bài tựa ấy còn một bài thơ thất ngôn cũng rất hay (hình 1):
Xưa bốn mươi thầy Khổng hết ngờ
Giờ ta tuổi ấy rõ đời vờ
Gia đình ngoảnh lại, lần “lưng túc”
Xã hội chường ra, thẹn mặt bơ
Lấm tấm sương dầm đôi mái tóc
Lạnh lùng tuyết quyến một lòng tơ
Mong nào sự nghiệp công danh muộn
Tràn đến, già như nước vỡ bờ.

2/ Hôm trước đi Bình Định, có đem theo 1 quyển sách để đọc khi nào rỗi rãi (hình 2). Ra đến Quy Nhơn, có lúc nằm trong khách sạn, giở ra xem, mới thấy cái quyển sách mua lúc đi nhà sách nghêu ngao vậy mà có chỗ lợi hại. Đó là quyển sách xuất bản hồi cuối năm 2017 mà đến giờ mình mới bắt gặp. Tác giả nghe không quen, mà nội dung thì có chú ý, vì đây là tập sách viết về các món ăn quê một thời đã đi vào kỷ niệm của tác giả: Vũ Tam Huề.
Con người ta, khi đi xa thường nhớ về quê cũ, lúc lớn lên hay nhớ món ăn hồi nhỏ, cái kỷ niệm hằn trong ký ức được lọc qua thời gian và không gian, còn lại được những gì đều là đáng kể. Nếu đấy là ký ức của người nhạy cảm, trí thức, quảng giao… và sau khi chắt lọc qua không gian thời gian kia, còn được viết ra bởi một người có trường ngữ vựng sáng sủa, thì những câu chuyện ấy rất là đáng quý. May sao, quyển sách Miếng nhớ miếng thương này thuộc đúng vào loại ấy. hehe

3/ Đến khi quay về lại Sài Gòn, mình có nói với chú Bùm lúc soạn đồ đạc, rằng, chuyến đi này bố học thêm được một chữ. Chú không quan tâm lắm, chỉ cười lên một tiếng xem chừng bố lại nói chuyện gì kỳ cục. Nhưng quả thật là mình học được một chữ sau chuyến đi ấy. Đó là chữ vờ, chữ cuối trong câu thơ thứ 2 trên kia của cụ Phan Văn Hùm: Giờ ta tuổi ấy rõ đời vờ. Hồi mấy năm xưa khi theo lời lão hờ nờ tờ đọc bài này, thấy câu thơ ấy, thì hiểu ngay rằng, cụ Phan Văn Hùm làm bài thơ ấy hẳn ở tuổi 40, cái độ tuổi mà thầy Khổng Tử bảo là “tứ thập nhi bất hoặc” tức là đến tuổi bốn mươi thì không còn chuyện gì phải nghi ngờ về mình nữa. Nay cụ Phan Văn Hùm cũng ở tuổi ấy, nhớ câu ấy của thầy Khổng, lại nhìn lại mình và dùng mấy chữ “rõ đời vờ”. Mình đọc, hiểu là cụ Hùm tự cho cái đời của mình không có gì thật chắc, làm công trạng chưa có gì vững chãi, bụng bảo dạ, cụ dùng chữ đời vờ này lạ hè.
Nhưng hóa ra không phải vậy. Nay đọc cái quyển sách kia, mới biết trong số các món ăn của người Bắc bộ, có món ăn làm từ con phù du của dân vùng Văn Giang – Hưng Yên. Con phù du còn có tên là con vờ, và khi vờ vỡ tổ thì dân làng đổ ra dùng vợt vớt về chế biến thành món ăn mà tác giả Vũ Tam Huề miêu tả là nhắm rượu rất ngon. Cái bài viết về món phù du ấy, tác giả kể kèm luôn khung cảnh năm xưa ông ở trọ trong nhà ông lang – một người thất chí trước thời cuộc. Nhờ gặp dịp có món vờ nhắm rượu, mà các câu nói quen miệng của người dân như “xác như vờ xơ như nhộng”, hoặc “đời làm quan khác chi với đời vờ” được ông chủ nhà đem ra nói với anh tác giả bấy giờ.
Ái chà, đọc đến đây mình mới vỡ lẽ ra, hóa ra cái chữ “đời vờ” cụ Phan Văn Hùm dùng trong bài thơ trên kia là chữ vờ = phù du này. Lúc đọc, mình đoán nghĩa theo câu chỉ có thể hiểu phiên phiến, còn chữ cụ dùng, thì đến nay gặp văn bản mới biết rõ được.

4/ Cuối cùng là, sau khi học thêm được một chữ vờ ấy, thì mình lại băn khoăn là cụ Phan Văn Hùm sanh trưởng ở Lái Thiêu miệt chợ Búng. Cụ dùng một từ miền bắc như vậy là do đâu nhỉ. Hay chữ “đời vờ” vốn phổ thông lâu rồi mà bấy nay mình không biết vậy. ahuhu

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Sóng, núi và viết

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.