Phạm Nguyễn Du

Nhà thờ họ Phạm Nguyễn Du, Ảnh: http://vietlandmarks.com

Hồi nhỏ, lần đầu tiên nghe đến cái tên Phạm Nguyễn Du là do đọc trong quyển Chuyện làng văn, có kể câu chuyện một lớp học của thầy đồ Nghệ, một hôm vì phải đi công chuyện chi đó, thầy ra đề cho cả lớp ngồi làm, thầy sẽ vắng mặt ít lâu. Lũ học trò không chịu làm bài mà chạy ra ngoài chơi, thấy cạnh lớp học có ông lão ngày ngày vẫn ngồi đan bồ, bèn sà đến coi. Ông lão bảo, sao không chịu làm bài mà ra đây xem đan bồ, rồi thầy về thầy quở trách làm sao. Bọn nhóc nhao nhao nói thầy ra đề khó lắm, bọn con làm không nổi đâu, đi chơi thôi. Ông lão hỏi vậy chớ đề ra làm sao mà các con bảo khó, bọn nhóc đọc lên rằng: Tại sao nói Lưu Bang sẽ thắng, tại sao biết Hạng Võ sẽ thua. Ông lão nghe xong, mới bảo bọn nhóc đem giấy bút ra ông viết mấy ý rồi theo đó mà làm là được. Bọn nhóc ồ lên, ôi chao, ông lão đan bồ cũng biết chữ há bọn bay. Thế rồi cả bọn đem giấy bút ra, ông lão viết một đoạn thế này (thiệt ra chỉ là một cặp biền ngẫu thôi):

Tam chương sơn Hán ước, Bái Công chi khí tượng tường loan, vô luận Tị thủy long phi, nhi Hán Nghiệp hưng long, dĩ kiến ư Bái Thượng hoàn quân chi nhật;

Ngũ nguyệt hỏa Tần cung, Hạng Võ chi anh hùng ưng chí, vô luận Ô giang mã quệ, nhi Sở đồ thất bại, dĩ kiến ư Hàm Dương khánh tốt chi thu.

Những người soạn sách Chuyện làng văn dịch đoạn trên thế này:

Ước Hán vững ba chương, khí tượng Bái Công như loan phụng, chưa cần nói suối Tị rồng bay, mà nghiệp Hán hưng long, đã thấy lúc về quân Bái Thượng;

Cung Tần đốt năm tháng, anh hùng Hạng Võ giống ưng chiên, chưa cần nói sông Ô ngựa quỵ, mà Sở đồ thất bại, đã thấy khi chôn lính Hàm Dương.

Bọn trẻ thấy văn lão già hay quá, đua nhau chép vào bài, đến chừng thầy đồ trở về, lập tức phát hiện ra là bọn trẻ đã chép của ai đó. Hỏi ra thì học trò bảo do lão già đan bồ ngoài kia làm giúp. Thầy đồ cả kinh, ra thưa hỏi lão già – người mà lâu nay dân trong vùng vẫn gọi là Cố Bồ, mới biết Cố Bồ là Phạm Nguyễn Du.

Mình chỉ biết tới đó, hồi nhỏ sách đâu mà đọc, học trong trường chỉ biết Nguyễn Du, còn Phạm Nguyễn Du cũng đồng hương với Tố Như thì hành trạng ra sao đành chịu.

Đã mấy chục năm, cặp biền ngẫu trên thì mình vẫn nhớ, mà đi lại chẳng thấy sách của Phạm Nguyễn Du. Tình cờ hôm nọ mua được một quyển của ông, là Đoạn trường lục, do Phan Văn Các dịch và giới thiệu.

Mua về giở ra, mới biết Đoạn trường lục là nguyên một tập gồm thơ, văn tế, câu đối do Phạm Nguyễn Du khóc người vợ chết trẻ. Lúc ông làm quan ở Bộ Lại, vợ ông bệnh chết ở kinh đô (Huế), có trối lại là yêu cầu đưa bằng đường thủy về quê an táng. Vợ Phạm Nguyễn Du là Nguyễn Thị Đoan Hương, chị ruột của Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Bà làm vợ Phạm Nguyễn Du từ năm 16 tuổi, sống với nhau 13 năm sinh sáu lần chỉ nuôi được hai con. Trong số các câu đối khóc vợ có câu: “Bách niên tằng nhất kỷ hợp hoan, bán kỷ hợp ly tương đối đãi; Vạn lý cẩn tam thanh khốc tống, lưỡng thanh khốc tiếu vị phân minh” (Cuộc đời nàng chỉ có một kỷ sống với chồng, trong đó phân nửa xa chồng phân nửa gần chồng; Đưa tiễn nàng vạn dặm chỉ có ba tiếng khóc, trong đó hết hai tiếng khóc hay cười còn chưa rõ ràng nữa). Như vậy là lúc vợ mất, hai con của Phạm Nguyễn Du còn nhỏ lắm, thông qua hình ảnh “tiếng khóc chưa phân biệt với tiếng cười” mà ông dùng trong câu đối trên.

Trong số các bài thơ của tập Đoạn trường lục, có nhiều bài ông làm trên đường biển đi thuyền đưa quan tài vợ về quê. Đặc biệt có bài “Sơ thập nhật thích Dục Thúy sơn”. Bài này là một tình cảnh đặc biệt: Năm trước ông có đi hộ tòng lên núi Dục Thúy, có đề thơ ở đây, nay đưa quan tài vợ về ngang, nhìn lên núi, nhớ rằng năm trước đi lên núi tuy không đi cùng vợ nhưng lúc đó mình là người có vợ, nay mình về ngang núi này, là đi cùng với vợ chung một chuyến thuyền nhưng lại là người không vợ. Tình cảnh éo le ấy làm bật ra trong ông một ý thơ ở cặp thực: Tiền độ độc hành nhưng hữu phụ/ Kim phiên giai phản khước vô thê.

Phải là người nặng tình với vợ và lâm vào tình cảnh như vậy, mới “chiếm” được hai câu thơ thần tình như thế.

Nay bèn hỗn dịch bài thơ ấy một phen:

Nguyên văn:

Bia mộ Phạm Nguyễn Du có dòng chữ”Thạch Động hoàng giáp Phạm tướng công mộ bi” – Ảnh: http://vietlandmarks.com

重來忽想舊臨題

青碧依然客眼迷

前度獨行仍有婦

今番偕返卻無妻

似渠水石長相守

嗟我因緣斷不齊

操筆徘徊頻拭淚

數聲飛鳥夕陽西

Trùng lai hốt tưởng cựu lâm đề
Thanh bích y nhiên khách nhãn mê
Tiền độ độc hành nhưng hữu phụ
Kim phiên giai phản khước vô thê
Tự cừ thủy thạch trường tương thủ
Ta ngã nhân duyên đoạn bất tề
Thao bút bồi hồi tần thức lệ
Sổ thanh phi điểu tịch dương tê.

Hỗn dịch:

Về đây sực nhớ khách thơ chơi
Non vẫn xanh tươi mắt vẫn ngời
Năm trước đi riêng mà có vợ
Bây giờ chung chuyến hóa chồng côi
Ấp ôm sông núi còn nhau mãi
Than nỗi duyên ta đứt đoạn rồi
Nhấc bút bồi hồi tay gạt lệ
Chim trời vọng tiếng, bóng chiều trôi.

Lam Điền

Đệ thập quận, đệ thất tằng lâu,
7-10-2017

P.S. Phạm Nguyễn Du để lại nhiều thơ văn, đáng kể có Thạch Động văn sao và Thạch Động thi sao, chẳng biết trong hai tập này có tư liệu nào liên quan đến cái giai thoại Lưu Bang – Hạng Võ kia không. Nếu không, những người soạn quyển Chuyện làng văn đã chép từ đâu nhỉ?

Advertisements

Chuyện tình buồn của Lục Du

釵頭鳳

红酥手,黄縢酒,满城春色宫牆柳。

東風惡,歡情薄。

一懷愁緖,幾年離索。

錯!錯!錯!

春如舊,人空瘦,淚痕紅浥鮫綃透。

桃花落,閑池閣。

山盟雖在,錦書難托。

莫!莫!莫!

Sai đầu phượng

Hồng tô thủ, hoàng đằng tửu, mãn thành xuân sắc cung tường liễu.
đông phong ác, hoan tình bạc.
nhất hoài sầu tự, kỷ niên ly tác.
thác! thác!

Xuân như cựu, nhân không sấu, lệ ngân hồng ấp giao tiêu thấu.
đào hoa lạc, nhàn trì các.
sơn minh tuy tại, cẩm thư nan thác.
mạc! mạc! mạc!

Chuyện tình buồn của Lục Du

Mình ít học ít chữ, không đọc được câu chuyện tình buồn của Lục Du. Đây là nghe thầy giáo mình kể cho. Lục Du sinh trưởng dưới triều Nam Tống, bấy giờ triều đình chủ hòa mà Lục Du lại theo phái chủ chiến. Vì thế ông không được trọng dụng. Thấy đường tiến thân của con không hanh thông, mẹ Lục Du đi xem bói, thầy bói bảo Lục Du không thăng tiến được là do cưới nhằm người vợ không hợp tuổi. Mẹ Lục Du về ép ông ly dị vợ, mặc cho hai vợ chồng Lục Du đang rất hòa thuận nghĩa tình. Nhưng vì chữ hiếu vào thời Tống ấy, Lục Du cũng đành xa vợ.

Mấy năm sau, ông về quê, thấy lòng buồn buồn, bèn đi dạo quanh vùng. Chợt trông có khu vườn hoa đẹp, gọi là vườn Thẩm, bèn cất bước vào xem. Vào vườn dạo chơi, vào đến tận nhà, thấy vợ chồng chủ nhà đang tiệc rượu, nhìn lại thì ra đây là nhà mới của người vợ cũ. Lục Du quay bước không kịp, vợ cũ cũng tự nhiên mời vào. Người chồng thấy vậy kêu vợ [nguyên là vợ Lục Du] tự tay mời rượu ngon (hoàng đằng tửu = rượu ngon niêm bằng giấy vàng) cho Lục Du, rồi có ý tránh vào nhà để nhường cho Lục Du và vợ cũ có không gian riêng.

Lục Du thấy tình cảnh ấy, xúc cảm cầm bút viết lên tường bài từ Sai đầu phượng này, kể hết tâm tình của ông:

Tay hồng mềm mại, rượu quý nhãn vàng, tường liễu bốn bề xuân khắp ngõ.
Gió đông ác, ân tình gầy rạc,
Lòng nặng mối sầu, mấy năm vò võ,
Sai! Sai! Sai!

Xuân còn như cũ, người vẫn chưa gầy, lệ hồng thấm lọt khăn giao
Hoa đào rơi vào gác nhàn ao
Núi thề còn đó, thư gấm khôn trao,
Thôi! Thôi! Thôi!

Lục Du làm xong bài từ “Trâm cài đầu hình phượng” thì buông bút quay về, người vợ sau đó vì bài từ này mà làm lại một bài từ nữa. Rồi nỗi buồn đeo đẳng mãi, mấy năm sau bà lâm bệnh qua đời.
Lục Du bỏ quê đi đến bốn mươi năm sau mới quay về, ghé vườn Thẩm, nghe lại chuyện xưa, cũng làm thêm một bài thơ nữa.
Mình ít học ít chữ, chưa biết bài từ kia bài thơ kia thế nào.

P.S. Cũng nhờ thầy giáo giảng, mới biết trong bài này hai chữ đông phong còn mang nghĩa người mẹ; và cái ý hoa đào rơi vào nhà gác trên ao chính là người vợ nay thuộc về người khác rồi. Còn cái nghĩa của câu “lệ ngân hồng ấp giao tiêu thấu” thì liên quan đến điển tích về “giao nhân” – một tộc người miệt biển, có nghề làm ra loại tơ không thấm nước, vậy mà ở đây Lục Du bảo lệ hồng thấm cả khăn giao, cũng tựa như cái ý “lệ rơi thấm đá” của Nguyễn Du trong Truyện Kiều vậy.

 

Một bài thơ lục tìm được

 

Là bài thơ của thầy Quảng Hiện, làm lúc bố mình mất 8 ngày. Bố mất lúc thầy ở Xuân Quế, đang khởi công xây chùa. Nhưng một hôm, thầy bảo là nóng ruột quá, cứ muốn ra thăm nhà mình, thế là thầy bỏ công trình đó, cùng với 1 thầy nữa bắt xe đò ra, vừa bước vào thấy tấm trướng trước bàn thờ, thầy kêu lên: trời ơi, ở ngoài ngõ nhìn vào cứ tưởng là thôi rồi, bà già ở quê mất, hóa ra lại là anh.
Thầy buồn lắm, đêm đó ngồi bên ngọn đèn dầu tù mù ở nhà mình, thầy viết bài thơ. Sáng mai thầy đạp xe đi thăm mộ bố rồi quay về Long Khánh lại.
Bài thơ thầy viết trên tờ giấy học trò, khi rời nhà vào Sài Gòn học, mình có chép lại vào sổ. Bây giờ không biết tờ giấy ấy thất lạc đâu. Nay lục tìm gặp quyển sổ xưa, chép lại bài thơ của thầy Quảng Hiện. Cả thầy và bố nay đều ra người thiên cổ. Ô hô!

Khóc bạn 
(gởi linh hồn anh Độ)

Anh Độ hỡi! Tôi đã về thăm anh trở lại
Nhưng thôi rồi, anh vĩnh viễn ra đi
Bỏ lại vợ hiền cùng đàn con dại
Tháng năm dài nuốt lệ nghẹn sầu bi

Vẫn biết
Anh ra đi
là phiêu du Phật cảnh
Thanh thoát bồng lai
Và nợ trần giũ sạch
Nhẹ gót liên bang

Nhưng:
Văn chương y lý chưa người giao phó
Võ nghệ bói khoa không kẻ kế thừa
Con còn nhỏ
Vợ yếu suy
Nghiệp nhà đang cần anh nâng đỡ
Muôn dân còn mong đợi giúp soi
Sao anh nỡ ra đi
Khi đàn con thơ cần đấng cha nghiêm nghiêm dạy
Lúc vợ hiền mong mãi chồng kính kính yêu

Tôi về đây không có anh
Như: Thu về không trăng tỏa
Xuân đến cánh mai tàn
Tôi cứ ngỡ:
Anh vẫn còn ngồi bên tôi hàn huyên tâm sự
Nhắm trà sen vang ý Đạo Thiền tâm
Nâng rượu cúc ngâm Đông Pha, Đỗ Phủ
Say sưa rồi cùng Lý Bạch ôm trăng
Nhưng còn đâu anh hỡi
Hương buồn buồn tỏa
Đèn tủi tủi soi
Anh ngồi không nói
Tôi lặng câm lời
Còn đâu anh hỡi!

Tôi buồn tẻ thắp nén nhang khấn nguyện
Anh dẫu xa bay nơi phương trời cao viễn
Hãy về đây soi dõi cánh chim non
Và vợ hiền đang vẹn nghĩa sắt son
Cõi Phật xa bay anh về có thấy
Nơi trần gian thân quyến mỏi mòn trông

Anh về cõi Phật mù xa
Giũ sầu vạn kỷ cho tà huy bay.

(Thích Quảng Hiện)
Ngày 8 tháng 3 năm Tân Mùi – 1991

Sài Gòn ồ bỗng dưng ngon

Sách do NXB Văn hóa văn nghệ ấn hành – Ảnh: L.Điền

[Hồi năm ngoái, đại ka gọi mình kêu mày viết mấy chữ về cái vụ ăn rong cho tao với, death line là lúc này nè, mình dạ dạ xong rồi sém quên, may mà đại ka lại nhắc, rốt cuộc cũng vận công viết mà cứ nghĩ trong đầu là đại ka định làm gì với mấy cái này ta, hay là tái bản sách và in vào tai gấp. hehe
Xong cách đây mấy hôm thấy đại ka khoe sách mới xuất bản, như lệ thường mình nhảy vào đòi tặng 1 quyển có chữ ký. Đại ka nói có người bảo sẽ chuyển sách cho mình, bèn giận lẩy nói phàm là em chỉ xin sách của anh, nay anh lại gán cho người khác thành ra em phải xin người khác hay sao. Đại ka bèn bảo, thì mày chạy tới đây lấy đi. Kẹt cái lúc đó đang không chạy tới chỗ đại ka được.
Rồi bất ngờ hôm nay cái chỗ kia lại mang sách đến cho mình, thoạt nhận nhắn ngay cho đại ka rằng để hôm nào em đem ra đổi quyển có chữ ký chứ khi không nhận sách người ta thế này kỳ quá. Đại ka cũng OK.
Đến chiều muộn giở sách ra đọc mới bất ngờ thấy quyển sách mang tên “Sài Gòn, ồ bỗng dưng ngon” nghe cứ như tên bản nhạc “Ô kìa đời bỗng dưng vui” của Hoàng Thi Thơ. Nhưng quyền bí hơn nữa là lật ra thấy cái lời giới thiệu chính là mấy dòng mình viết hồi năm ngoái. há há
Bèn lục lại máy tính post lên đây cho bằng hữu giang hồ đọc chơi. Biết đâu trong số đó lại có người tìm mua sách của đại ka mà ích lợi cho cả NXB nơi em Dinh Phuong Thao đang tọa trấn. hehe]

LỜI GIỚI THIỆU

Phàm con người ta, trong khi ăn thường lộ ra nhiều thứ. Với Trần Công Khanh, cái ăn của anh rốt cuộc làm phát lộ ra anh là người ham… những chuyện xung quanh chuyện ăn. Nhờ vậy mà những chuyến dung dăng đi vào cuộc rong chơi ẩm thực của anh cũng tựa như hành trình khám phá đề tài cho trang báo. Nói tựa như, vì trong cái chuyện ăn để viết – viết để ăn ấy, bảo dễ thì cũng dễ xuôi lọt, còn bảo khó chắc cũng khó đến nghẹn ngào.
Đọc chuyện anh ăn, thấy chính niềm yêu thích những thứ “bàng môn tả đạo” nằm bên ngoài mực thước tư duy ăn uống theo các “nhà ẩm thực” đã mang lại trong anh “cảm giác ngon” kỳ đặc hơn người. Cũng từ một chuyện nước mắm, nhưng cái khác nhau giữa Phú Quốc, Phan Thiết, Bình Định… đâu chỉ là kết quả của cái lưỡi nếm trải. Mà đâu đó trong hành trình chưng cất từ cá đến mắm, có quan niệm gió mùa thời tiết, có cảm nhận nắng mưa gắt nhạt, có nghệ thuật dùng liều lượng và chất lượng muối biển thế nào… đều không ai giống ai. Những “cái khác” ấy không phải cái lưỡi sành ăn nào cũng chạm tới được.
Trong hành trình ăn rong, cái lưỡi của Công Khanh nhiều khi đến sau bước chân phóng sự và đôi tay ghi nhanh, nên cái ngon trong ẩm thực của anh gom gói nhiều chất vị lắm. Đó là chưa kể, cái sự ăn rong của anh thường khởi phát từ những ưu tư về thời quá vãng, nên miếng ngon của ngày hôm nay còn dắt díu cả những mối dây liên hệ từ thuở nảo nào trong tàng thư hay qua lời nhân chứng kể – mà lắm khi đấy chính là lý giải thuyết phục cho việc sinh ra, trường tồn lẫn biến thiên của các món ăn trong từng cộng đồng cư dân.
Ấy gọi là trong khi đọc chuyện anh ăn, người ta còn ăn chuyện anh đọc nữa vậy.

Lam Điền

Nhớ quyển vè Chèo bẻo đánh quạ

Hồi nhỏ, mình có mua ở Hiệu sách nhân dân huyện một quyển Vè chèo bẻo đánh quạ. Quyển vè gồm mấy trăm câu thơ lục bát, đọc thích mê.
Hôm rồi nhân dịp 60 năm nxb Kim Đồng, nói chuyện với anh Cao Xuân Sơn về các sách Kim Đồng mình đọc thời thơ bé mà quên nhắc quyển này, đến hôm qua nhớ lại, không biết có phải là của nhà Kim Đồng in hồi xưa không nữa. Để hôm nào tìm lại xem, nhưng chắc đúng là nhà Kim Đồng thôi, vì thời thơ ấu của mình dường như chỉ có sách Kim Đồng về với thiếu nhi ở cái xã nghèo khô xác ấy.
Hồi đó đọc câu chuyện chèo bẻo đánh quạ bằng thơ, thích lắm, đặc biệt thích cái cảnh vợ chồng chèo bẻo vì bị quạ khoang chén thịt mất đàn con, mà quyết tâm đi tìm đồng minh, đặng đoàn kết đánh quạ trả thù.
Vì thích nên đọc đi đọc lại, mà cũng vì lúc ấy đâu có mấy sách vở, lâu lâu mua được một quyển thì mấy chị em xúm lại đọc cho kỳ nhão cả sách ra mới thôi. Kết quả là mình thuộc lòng cả bài vè dài ngoằng ấy.
Lớn lên, mỗi lần nhớ lại, thì lại thêm một lần nhận ra cái hay từ bài vè. Như cái việc miêu tả đặc tính của hàng loạt loài chim – mà tác giả bài vè gom vào thành 2 phe: một bên là sợ quạ, không muốn dây vào đánh nhau với quạ; và một bên là không sợ quạ, có thù riêng với quạ.
Bài vè còn hay ở chỗ có mở đầu, có cao trào, có thắt nút mở gút rất logic. Hai vợ chồng chèo bẻo mải đi kiếm mồi khi quay về tổ phát hiện đàn con bị lão quạ khoang chén mất, nên ngậm thù đi tìm cách đánh trả. Thế rồi liên tiếp nhiều ngày tháng chèo bẻo gặp toàn các loài chim sợ quạ, chẳng ai chịu hiệp đồng với chèo bẻo đánh quạ cả. Trong bài vè, cái đoạn này hay nhất, vì tác giả tả chim mà sinh động như thế giới con người. Có loài chim lo làm giàu nên sợ đánh nhau, có loài chim nhút nhát quá không dám đụng đến loài mạnh hơn, lại có cả loài chim tài tử thoát trần không muốn dây vào chuyện thế gian…
Mấy chục năm rồi, bài vè ấy nay mình không còn nhớ trọn vẹn, nhưng nhờ dòng chữ in cuối sách “theo lời kể của cụ Đoàn Văn Tưởng, thôn Đông Sấu, xã Liễu Đôi, huyện Kim Thanh, Hà Nam Ninh” mà khi lớn lên, lúc quyển vè kia tan tác từ lâu, mình bắt gặp quyển sách Văn hóa truyền thống Liễu Đôi, và thấy trong ấy có in bài vè chèo bẻo đánh quạ này.
Thế rồi hôm nay đi đường, tự dưng nhớ lại đoạn vợ chồng chèo bẻo tìm gặp hai nhân vật cuối cùng của “phe sợ quạ”, thật hay:

Ngậm ngùi bẻo cất cánh ra
tối trời gió rét sương sa lạnh lùng
nhà ai đốt lửa bập bùng
vợ chồng nhà vạc bên thung một mình
bẻo vào nói hết ngọn ngành
những mong được vạc đồng tình cho chăng
nghe xong vạc mới lại gần
cất giọng ân cần: “Bác hóa điên chăng?
quạ nó sức vóc ai bằng
đụng vào cửa nó hàm răng chẳng còn
ai mà chả sợ hết hồn
đến tôi đây phải ngủ cồn kiếm đêm.
thôi thôi, khuyên bác chớ nên
một mạng đã đền mấy mạng nữa thôi
nó là thiên tử con trời
đâu đâu cũng cống hết vơi lại đầy
cánh nó chạm chín tầng mây
nó kêu một tiếng đó đây rợn người
nó tàn ác nhất trần đời
binh thư võ nghệ nó thời lại cao”.

Đoạn này, mình nhớ hồi đó cả bố mình đọc xong cũng thích. Hồi đó mình còn nhỏ, không hiểu lắm ông thích vì cái gì, nhưng vẫn nhớ bố đọc đến câu “chính tôi đây phải ngủ cồn kiếm đêm”, ông dừng lại cười ha ha, bảo hay quá, phải ngủ cồn kiếm đêm, há há.
tiếp:

Mấy ngày tìm bạn lao đao
bỗng thấy ai thật lớn cao giữa đồng
mặt mày trông thật oai phong
cái cổ ngất nghễu to bằng cổ tay
đôi cánh vừa rộng vừa dày
chèo bẻo xuống đậu ở ngay cạnh bờ
– “kìa ai đứng đó hững hờ
ta đang bầu rượu túi thơ hữu tình
gẫm trong ba vạn sinh linh
một mình ta tỉnh một mình ta say
trời cho đôi cánh thì bay
nay góc trời này mai góc trời kia
hết đầm thì lại ra đìa
hết đồng ta lại lui về rừng xanh…”
thênh thang trời rộng đất lành
thế gian mới gọi tên anh: lềnh đềnh
to như cái thúng, bụng nổi lềnh phềnh
đố ai bằng kiếp lênh đênh lão này
chèo bảo mới tới giãi bày
đềnh rằng: “Bể khổ khi đầy khi vơi
đứa thì ăn uống nói cười
đứa thì nước mắt xương rơi thịt tàn
thôi thôi chẳng luận chẳng bàn
trải qua trăm sự thế gian chán rồi
ta nay rong ruổi chơi bời
mặc cho ai khóc ai cười mặc ai
kìa trông bể rộng sông dài
túi thơ đã nặng đôi vai rượu đầy…”
chèo bẻo chắp cánh đi ngay,

Đoạn này cũng là đoạn mà bố mình rất thích. Còn nhớ hồi đó em Lam Anh nhỏ xíu, nhưng lại rất có khiếu thơ, đọc đoạn này đến chỗ “to như cái thúng, bụng nổi lềnh phềnh” em bảo câu này sao kỳ quá, không giống mấy câu kia, và đề nghị đọc lại là, “to như thúng, bụng nổi phềnh”, ý này được cả chị Kiều ủng hộ, rồi khi bố mình nghe vậy, lại càng ủng hộ kèm theo nhận xét: con Lam Anh vậy mà hay. Xong mình lấy cây bút bi sửa luôn dòng chữ in thành “to như thúng, bụng nổi phềnh”. hehe
Còn đoạn vè sau tìm gặp đồng minh đánh nhau với quạ khoang một trận kịch liệt giành thắng lợi hoàn toàn cũng rất chí lý. Nhưng giờ nhẩm lại mình không còn nhớ câu nào. Lại rất khoái cái loại lãng tử của còn chim lềnh đềnh kia, mà rốt cuộc vẫn không biết lềnh đềnh là loài chim nào luôn. ahihi

[Tây Cống 10-7-2017]
Lam Điền

Hư Vân ngữ trích – 020

從前在罽賓国近著僧伽藍的地,有條毒龍時常出來為害地方。五百位阿羅漢聚在一起,用襌定力去驅遂他,總没法把他趕跑。後來另有一為僧人,也不入襌定,僅對那毒龍說了一句話:“賢善遠此處去。” 那毒龍便逺跑了。
眾羅漢問那僧人,什麽神通把毒龍趕跑?他說:“我不以襌定力,直以謹慎於戒,守護輕戒,猶如重禁。”
我們想想,五百位羅漢的襌定力,也不及一位嚴守禁戒僧人。

Hồi xưa ở nước Kế Tân, gần ngôi chùa Phật nổi tiếng, có con rồng độc vẫn thường xuất hiện làm hại người dân địa phương. Năm trăm vị la hán cùng hợp lại, dùng sức thiền định để đuổi nó, rốt cuộc không có cách nào đuổi nó được. Sau đó có một vị tăng, không nhập thiền định, chỉ đối trước con rồng độc kia nói một câu: “Này hiền thiện, đi xa khỏi chốn này đi”. Con rồng độc ấy liền bỏ chạy mất.
Các vị la hán mới hỏi vị tăng, thần thông nào giúp đuổi con rồng độc ấy vậy? Vị tăng đáp: “Tôi không dùng sức thiền định, chỉ cẩn thận đối với giới luật, giữ gìn các giới nhỏ nhặt cũng như các điều trọng cấm”.
Chúng ta nghĩ xem, sức thiền định của năm trăm vị la hán cũng không bằng một vị tăng giữ nghiêm giới cấm.
(Hư Vân ngữ trích)

Tiếp trận mưa lờ (2)

 

Hôm nọ vì bất ngờ thấy các cụ mô phạm một thời như Quách Tấn, Tôn Thất Lương, Tôn Thất Mỹ rất hào hứng làm thơ vịnh lờ, mình ghi cái note Một trận mưa lờ, ý là để ghi nhận nguồn chất liệu dân gian mà các cụ đã sử dụng để mần thơ.
Ngay khi đó, nhà văn Trần Quốc Toàn đã vào comment hẹn hôm sau ra đường sách sẽ rỉ tai mình chỉ thêm vài câu nữa. Nghe đã thấy hấp dẫn.
Đến hôm sau tại Đường sách, quả nhiên bác Trần Quốc Toàn có bổ sung mấy câu, thuộc loại lợi hại:

1/ Có một quan điểm khi đọc câu thơ của Hàn Mặc Tử “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì cho rằng đây là ý nói đến một nét mặt con trai, chứ cho rằng mặt chữ điền trong thơ là của con gái như lâu nay vẫn thấy, là nhầm. Thế rồi bác Toàn dẫn một câu của dân gian, có tác dụng kéo gương mặt chữ điền trong thơ Hàn Mặc Tử về với con gái, đó là câu: Mặt chữ điền l. liền với đít. hic

2/ Bác toàn còn 1 câu thuộc chuyên ngành đông y: Thuốc nam thuốc bắc bú c. cho cơm. Mình không rõ cơm đây là cơm nào, cơm gạo nghĩa đen hay cơm trong câu “sáng đưa cơm đi ăn phở trưa đưa phở đi ăn cơm chiều về với cơm mà nhớ phở” nữa. hehe

3/ Lại có 1 câu, cũng bác Toàn cung cấp, gần giống với câu trách “nóc nhà xa hơn chợ/ l. vợ gần hơn mộ cha”, là câu “bên l. thì chắc, bên c. thì lép”, dùng cái đó để nói về hai bên nội ngoại khi người con trai có gia đình riêng, cũng là 1 ca đặc biệt vậy.

4/ Thế rồi đến cuối buổi ở Đường sách, bác Toàn còn nhớ một bản dịch Nôm cái bài thơ Hán “trường túc bất tri lao”: theo bác Toàn thì người dịch là Nguyễn Bính, nhưng bác không nhớ hết, chỉ nhớ hai cặp lục bát: “Những người cẳng sếu chân giang/ nứng l. thì gọi cả làng tới chơi”, và “những người mặt đỏ hồng hồng/ nước l. tát mấy gàu sòng chưa vơi”. Cái này hay, nhưng lúc ấy mình không nhớ cái bài chữ Hán nguyên văn kia, nên không biết bản dịch Nôm lục bát ấy nó ăn nhập thế nào. Đành gác lại.
Đến nay thì đã có chuyện hay, mình tìm được nguyên văn bài chữ Hán, được xem như một kinh nghiệm xem tướng phụ nữ, truyền tụng từ thời xưa, và sau khi lục lọi trên mạng thì mình ngờ là bản gốc này do mấy cụ đồ nhà ta chế ra chứ không phải chính văn từ Trung Quốc. Bài ấy như sau:

Hồng diện đa dâm thủy
Mi trường hộ tố mao
Triết yêu chân đại huyệt
Trường túc bất tri lao
紅面多淫水
眉長戶多毛
折腰真大穴
長足不知勞.

Thế và quan trọng hơn là có một người Việt ở hải ngoại đã khảo dị bài này, và cho rằng hồi 1947 từng có một người tên Đoàn Bá Ninh đã dịch trong lúc ở tại trại giam Thái Nguyên, thành mấy câu lục bát như sau:

Những cô má đỏ hồng hồng,
Nước L…tát bẩy gầu sòng chưa vơi!
Những cô mày rậm mi dài,
Lông L…đốt được một vài thúng tro!
Những cô thắt đáy tò vò,
Cửa L…rộng phải gọi đò sang ngang!
Những cô cẳng sếu chân giang,
Nứng L…thách phét cả làng không thua.

Có điều, chính việc tìm kiếm này đã làm phát lộ 1 thông tin, là hiện có 1 quyển sách, nhan đề là: Thơ tục cổ kim, do một nhóm văn thi nhạc hải ngọai sưu tầm (Quê hương xuất bản 1992). Liệu các lộ giang hồ nào có hoan hỷ tìm giúp quyển này không, thật là hoan hỷ!

5/ Nhưng hôm ở đường sách ấy còn một pha cực kỳ lợi hại. Là trên đường quay ra, đi ngang cà phê Phương Nam gặp một tiên sinh đức cao vọng trọng, đang ngồi với thầy Nhật Chiêu. Mình thấy hai người bèn chắp tay lại chào, tiên sinh kia đã ghé tai mình nói nhỏ: “Đàn ông học trống học kèn/ Đàn bà học đ. cho quen cái l.“. Ôi chao ôi, cái sự học hành giáo dục đào tạo nước nhà rốt lại nếu làm theo công thức của dân gian như vầy thì có phải đơn giản biết nhường nào hay chăng.
há há

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.