Đo hàm cá – uốn lưỡi câu

Văn bản trong sách Phép dạy làm thơ – Ảnh: L.Điền

Hồi còn sanh viên chưa tốt nghiệp, một dịp tết về quê ghé nhà dượng Hai Xuân thấy ngay chỗ bàn khách treo bức thư pháp chữ Việt viết hai câu: Mấy ai lặn lội đo mồm cá/ Mà biết vuông tròn uốn lưỡi câu. Mặc dù không thích thư pháp Việt lắm nhưng vì hai câu này mà mình tấm tắc khen: ở đâu ra hai câu này hay quá dượng? Dượng Xuân cười cười nói có người đem tới tặng mà tao cũng hổng biết hai câu này ở đâu, có điều thấy hay nên treo ở đây chơi thôi.

Mình cũng chịu, chẳng biết lai lịch hai câu này thế nào. Có điều ý tứ quá hay, trong nghề câu có nhiều loại lưỡi câu, lưỡi câu cá khác lưỡi câu ếch, lưỡi câu cá đồng khác lưỡi câu cá biển, và lớn nhỏ khác nhau thì tất nhiên rồi, khỏi nói. Nhưng mà, để có được các loại lưỡi câu đó, là có người đi đo miệng cá đặng uốn lưỡi câu chăng, có người tính toán con ếch táp mồi khác con cá rô ăn mồi chăng, sao mà lưỡi câu khác nhau quá vậy?

Và rồi ở đời cũng thế, người này sống với người kia, phe này giành lại phe kia, cánh này “câu” được cánh kia, cũng là từ cái pháp “đo mồm cá – uốn lưỡi câu” cả hay sao?

Đến chừng qua tết, vào lại trường bèn đọc cho Trung tà đạo bằng hữu nghe. Rồi nhân lúc ghé chỗ Cao tiên sinh, có kể chuyện về quê đọc được câu thơ hay, mà không biết lai lịch thế nào. Cao tiên sinh cũng chịu là câu ấy hay nhưng chưa rõ xuất xứ. Xong rồi cả mình với Trung tà đạo đều kêu hay là tiên sinh dịch ngược sang Hán thi cho nó có mùi cổ kính chút. Cao tiên sinh nhẩm trong đầu sao đó, kêu lên á không được, mồm cá mà dịch ra tiếng Hán thì người ta hiểu là cái… đó đó nghen. Không được.

Nhưng sau đó ít lâu Cao tiên sinh cũng dịch sang Hán thi hai câu ấy, là thế này: Ngư chủy hà nhân lao trắc độ/ Thiết câu trường đoản tự năng ao. Thiệt là khoan khoái.

Thế rồi đến giáp tết vừa rồi, tính từ lúc biết hai câu kia là cả quãng thời gian gần hai mươi năm, mình mua được một quyển sách cũ quắc, rách bìa. Sở dĩ hiếu kỳ mà mua vì người bán đã làm cái bìa, và ghi lên đó dòng chữ “Phép dạy làm thơ”. Chỉ vậy thôi, sách không còn tên tác giả, không còn tên sách chính thức được in. Sách bắt đầu bằng bài viết có tên “Phép dạy làm thơ”, nội dung là giới thiệu cách làm thơ luật (thất ngôn bát cú) một cách vắn tắt. Rồi tiếp theo là các bài thơ được dẫn ra cho đến hết quyển, có lẽ tác giả cho rằng đây là các bài thơ hay, mẫu mực, xứng đáng để tham khảo một khi muốn luyện theo cái “phép làm thơ”.

Sách mất bìa nên cũng không biết in năm nào, và theo Vũ Hà Tuệ thì căn cứ theo chất giấy và mẫu chữ in của sách, có thể đoán định sách in vào đầu thế kỷ 20. Mình đem về đọc, thấy giọng văn, câu cú cũng thuộc vào thời kỳ ấy, và đoán thêm là do một tác giả người Nam kỳ soạn.

Quả nhiên là người soạn sách đã tuyển thật nhiều bài thơ hay, đáng kể có chùm 35 bài thơ Vịnh Kiều của một tác giả khuyết danh, thật là cao thủ. Phàm thơ Vịnh Kiều xưa nay chán vạn, nhưng vịnh Kiều theo lối bám sát các tình cảnh của cuộc đời Thúy Kiều mà dựng thành 35 trường đoạn như thế này, thì trước nay cũng chẳng mấy người làm nổi.

Nhưng phẩm còn đáng kể hơn lượng rất nhiều. Mình đặc biệt chú ý khi đọc đến bài vịnh tình cảnh Thúy Kiều sau khi Từ Hải thất trận mệnh vong, Hồ Tôn Hiến đem Kiều gả cho tên thổ quan. Tình cảnh ấy, những tao nhân mặc khách vịnh Kiều ít nhiều không chú ý. Nhưng lại là một tình cảnh thật đáng nói. Cứ hình dung Thúy Kiều xuất thân lá ngọc cành vàng như thế, rồi sự biến xảy ra, thân lầm cát bụi bấy nhiêu năm, từng thanh lâu mấy lượt thanh y mấy lần, đau khổ ê chề nơi nhà Hoạn Thư rồi vinh quang dưới trướng Từ Hải… Một con người lừng lẫy như thế, dè đâu chỉ vì một phút yếu lòng nghe lời khuyến dụ của họ Hồ nên khuyên chồng đem quân về với triều đình mà thành ra mắc lừa, bị đánh úp. Từ Hải đã chết uất giữa trận, nay đến lượt Thúy Kiều bị ép lấy tên thổ quan. Thổ quan lúc ấy thì hẳn là một tên dân tộc thiểu số nào đó đăng lính như một kế sinh nhai thôi, và cái tình cảnh Thúy Kiều đứng trước việc mình phải thành thân với tên thổ quan như vậy, thiệt đúng cách dân gian vẫn nói: Thương cho cây quế giữa rừng/ Để cho thằng tứng thằng từng nó leo. Haizzzz

Vậy mà tác giả vô danh kia đã vịnh tình cảnh ấy thành một bài Đường thi thật đặc sắc:

Hạ giá thổ quan

Đã ra nương dựa bóng cây cao
Có nhẽ đưa chơn lại bước vào
Mặt ấy hẳn không tơ ấy vướng
Thân nầy đâu có nợ nầy sao
Đã thừa nếm trải mùi cay đắng
Còn thiếu chi mà phải ước ao
Ơn ấy âu thì theo hải thượng
Sống thừa chi để tiếng đời phao.

Hai cặp thực, luận phải nói là quá đắt. “Mặt ấy hẳn không tơ ấy vướng/ Thân nầy đâu có nợ nầy sao”, cỡ như Thúy Kiều thì dẫu có gì đi nữa, làm sao mà lại vướng vô cái tơ của tên thổ quan; chìm nổi trong đời thế nào chăng nữa, thì Kiều cũng đâu đến nỗi phải nợ cái tên lính dân tộc thiểu số này, thần sầu thiệt chớ.

Và trong loạt 35 bài vịnh Kiều ấy, có một bài vịnh lúc Kiều ra ở cái am nhà họ Hoạn. Đây cũng là một tình cảnh oái ăm của Kiều: sau khi bị đánh ghen, bị Hoạn Thư làm nhục trước mặt Thúc Sinh và thấy rõ hàm lượng nam nhi tính trong người Thúc Sinh ở mức nào, Kiều đành chấp nhận ra giữ am và chép kinh, vì Kiều viết chữ đẹp (rốt cuộc nghề thư pháp trở nên hữu dụng lúc này, hehe). Bài ấy như sau:

Thị Thúc ngoạn am

Trần ai ai biết bởi vì đâu
Dầu tuổi xuân xanh cũng bạc đầu
Đúng giọt huỳnh hoa tan giọt lụy
Lấp cung bạc mạng nối cung sầu
Khôn hay lớn nhỏ đo hàm cá
Mà biết vuông tròn uốn lưỡi câu
Ai dẫu có thương rằng phận bạc
Liệu mà xin mở cửa cho mau.

Đọc tới cặp luận mình sáng mắt lên ngay, thì ra hai câu đọc nơi nhà dượng Xuân xưa kia chính là một dị bản ở đây rồi. Khác nhau 4 chữ: mấy ai lặn lội/ khôn hay lớn nhỏ. Xem ra bản ở nhà dượng Xuân cũng mang một nét nghĩa nhất định, nhưng lúc đọc được câu đó, mình cứ nghĩ đó là lời khẩu chiếm của một ai, và nó chỉ tồn tại hai câu vậy thôi; còn nếu trích từ bài thơ nào, thì nó hẳn phải nằm ở vị trí hai câu chuyển kết. Nay đọc bài này, mới biết nguyên tác của nó có đăng đối hẳn hoi: Khôn hay lớn nhỏ đo hàm cá/ Mà biết vuông tròn uốn lưỡi câu; cũng mang một nét nghĩa đắc địa: Khó biết được cái độ lớn nhỏ của hàm cá để mà uống lưỡi câu vuông tròn sao cho hợp.

Đọc đi đọc lại, xong bỗng ngờ ngợ hình như loạt 35 bài vịnh Kiều này mình từng thấy trong quyển sách của cụ Nguyễn Văn Y sưu tập, nhưng lần đó chưa đọc kỹ. Bèn lục lại quyển sách Thơ vịnh Kiều, quả nhiên có bài này, nhưng cụ Nguyễn Văn Y chép có dị biệt đôi chỗ so với quyển Phép dạy làm thơ:

Thị Thúc Hoạn am

Trần ai kia biết bởi vì đâu
Dẫu tuổi xuân xanh cũng bạc đầu
Đọng giọt huỳnh hoa tan giọt lụy
Lấp cung bạc mạng nỗi cung sầu
Khôn hay lặn mọc đo hàm cá
Mà biết vuông tròn uống lưỡi câu
Ai dẫu có thương rằng phận bạc
Liệu mà xin mở cửa cho mau.

So sánh hai bài, thấy cái nhan đề trong sách cụ Nguyễn Văn Y có lý: Thúc Hoạn am tức là am nhà Thúc Sinh – Hoạn Thư; quyển Phép dạy làm thơ chép thành “thúc ngoạn am” là một kiểu sai chánh tả của người miền trung và miền nam: hai chữ “hoạn” và “ngoạn” người miền trung – nam đều có cách phát âm thành “quạng”, và lúc chép vào sách, người có ý thức tránh cái sai của kiểu “đọc sao chép vậy” nên đã trả văn nói thành văn viết, nhưng ở đây, “quạng” không được trả thành “hoạn” mà lại bị trả nhầm thành “ngoạn”.

Chữ đầu câu thứ 3: cụ Nguyễn Văn Y chép “đọng” có lý hơn, và đó có lẽ là “lỗi đánh máy” của quyển Phép dạy làm thơ khi chép chỗ này là “đúng”, vì “đọng” hiệp nghĩa với chữ “tan” sau đó hơn là “đúng”. Cũng theo kiểu đó, cụ Nguyễn Văn Y chép chữ “nỗi” ở câu 4 không hữu lý bằng chữ “nối” trong PDLT, vì “lấp” hiệp nghĩa với “nối” hơn là “nỗi”; chỗ này nói thêm: nếu ở đây là chữ “nổi”, thì cũng có lý, có khi còn có ý nghĩa hơn cả chữ nối. Nhưng nổi là chữ ngoài văn bản, chỉ đoán thêm vậy thôi, còn theo hai văn bản thì chữ nối có lý hơn.

Đến hai câu luận từng ám ảnh mình gần 20 năm, thì cụ Nguyễn Văn Y chép dị biệt hai chữ so với quyển Phép dạy làm thơ: lặn mọc/ lớn nhỏ. Chỗ này thì mình cho rằng văn bản trong Phép dạy làm thơ thuyết phục hơn, vì “khôn hay lớn nhỏ đo hàm cá” có nghĩa là “khó đo hàm cá để biết lớn nhỏ”, còn “khôn hay lặn mọc đo hàm cá” thì tối nghĩa quá, lặn mọc đi với đo cũng tối nghĩa mà đi với hàm cá cũng tối nghĩa nốt.

Do vậy, cân đối giữa hai văn bản, mình bèn chép lại bài thơ này như sau:

Thị Thúc Hoạn am

Trần ai ai biết bởi vì đâu
Dẫu tuổi xuân xanh cũng bạc đầu
Đọng giọt huỳnh hoa tan giọt lụy
Lấp cung bạc mạng nối cung sầu
Khôn hay lớn nhỏ đo hàm cá
Mà biết vuông tròn uốn lưỡi câu
Ai dẫu có thương rằng phận bạc
Liệu mà xin mở cửa cho mau.

P.S. Nhân khi tậu được cây bút từ cô giáo Kiến Con, đem ra chép bài thơ này, chú Bùm chen vào nom thấy, bèn bảo: Bố viết chữ tờ hoa không đúng, bố phải viết nét ngang và nét lên là thanh, còn nét xuống là đậm, thì mới đúng.

Haizzzz

Tìm hiểu Nam kỳ qua nghiên cứu của người Pháp xưa

Sách do Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long dịch – Ảnh: L.Điền

Nhà xuất bản Trẻ vừa ra mắt loạt 6 quyển sách chuyên khảo trong bộ Địa lý học: Tự nhiên, Kinh tế & Lịch sử Nam kỳ vào sáng ngày 22-3.

Đây là thành quả của dự án nghiên cứu về Địa lý học: Tự nhiên, Kinh tế và Lịch sử Nam kỳ do Hội Nghiên cứu Đông Dương thực hiện từ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Mỗi tập khảo cứu về một tỉnh, 6 quyển đầu vừa ra mắt bao gồm các tỉnh (gọi theo thời kỳ người Pháp nghiên cứu): Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Bến Tre, Vĩnh Long, Gia Định.

Dự án nghiên cứu Nam kỳ nói trên được bắt đầu vào năm 1899 do chính ông M. G. Dũrrwell – Chủ tịch Hội Nghiên cứu Đông Dương – phát động. Đây là công trình tập thể, do các Hội viên và cộng tác viên của Hội thực hiện. Để khảo cứu ba mặt của xã hội là Tự nhiên, Kinh tế và Lịch sử, ông Chủ tịch Hội yêu cầu nghiên cứu theo từng hạt (arrondissement) hoặc tổng, thậm chí từng làng; và mỗi chuyên khảo phải kèm theo một bản đồ tổng quát và các bản đồ chi tiết khác; bài viết nên kèm theo bản vẽ, phác họa và hình chụp…

Các chuyên khảo được thực hiện theo đề cương chi tiết chung gồm 4 chương: Địa lý học tự nhiên, Địa lý học kinh tế, Địa lý học lịch sử và chánh trị, Thống kê và hành chánh. Nhìn vào đề cương chi tiết, sẽ thấy dự án này mặc dù chỉ dừng lại ở mức sơ khảo, nhưng các đề mục yêu cầu phải thực hiện đều có tính khoa học và đến nay trở thành sử liệu hữu ích. Chẳng hạn như yêu cầu cho chương 1 – Địa lý học tự nhiên, phải nêu được: tên hạt (viết bằng nguyên ngữ, cố gắng ghi bằng tên Hán Nôm), vị trí địa lý, ranh giới tự nhiên và ước lệ, diện tích, khoảng cách từ tỉnh lỵ khảo cứu tới tỉnh lỵ các tỉnh kế cận; mô tả hình thể tự nhiên, tính chất đất đai, địa hình, địa chất, các dòng nước, kinh đào (chiều rộng, sâu, hoạt động của thủy triều…), đường sá (bề rộng, tình trạng sử dụng, độ dốc…), đường sắt; khí hậu, nhiệt độ, gió, mưa, vệ sinh, thắng cảnh, hang, động, suối…; Tổng và làng thuộc hạt (tên gọi viết bằng chữ Hán Nôm nếu có thể): mô tả chi tiết từng công trình kiến trúc, bia kỷ niệm, nơi dạo chơi, các trò giải trí…

Dịch giả Nguyễn Nghị đang giới thiệu bộ sách chuyên khảo về Nam kỳ – Ảnh: L.Điền

Theo dịch giả Nguyễn Nghị, bộ sách này như một bức hình của từng tỉnh, mang đến cho người đọc những gì người Pháp thấy trước mắt vào thời điểm lúc bấy giờ và đã kỳ công ghi chép lại. Ở đây không đề cập những vấn đề sâu xa của địa phương, nhưng trong Chương 3 của mỗi chuyên khảo có yêu cầu viết về: Lịch sử địa phương, tên cổ xưa của các địa điểm, các nơi đã bị phá hủy, đồn lính, thành trì của người Việt hay người Cam-bốt, các sự kiện lịch sử quan trọng cổ xưa và đương thời, các đền đài, các di tích khảo cổ học… Như vậy, bộ sách này còn là tập tài liệu quan trọng minh chứng cho những gì hiện hữu trong xã hội Nam kỳ thời người Pháp bắt đầu công cuộc đô hộ.

Chia sẻ tại buổi ra mắt sách, dịch giả Nguyễn Nghị cho biết ông biết đến bộ sách này từ hồi ông gia nhập Hội Nghiên cứu Đông Dương khi còn học Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Đến nay, đây là lần đầu tiên loạt sách này được dịch đầy đủ sang tiếng Việt theo đúng cấu trúc từng tập nguyên tác tiếng Pháp. NXb Trẻ cho biết 8 tập còn lại sẽ ấn hành trong năm nay, gồm chuyên khảo các tỉnh: Biên Hòa, Hà Tiên, Mỹ Tho, Bà Rịa, Trà Vinh, Cần Thơ, Sốc Trăng, Đảo Phú Quốc – tỉnh Hà Tiên.

Lam Điền

Bìa sách: Sắm thời trang cho câu chữ

Loạt 3 quyển sách của Eric Maria Remarque được Đông A tái bản với bìa mới – Ảnh: L.Điền

Nhân dịp công ty sách Đông A vừa in lại ba tiểu thuyết của Eric Maria Remarque là Ba người bạn, Bóng tối thiên đường và Khải hoàn môn, một đồng nghiệp từ công ty sách Dân Trí viết trên trang cá nhân: “55 năm kể từ những những ngày đầu tiên đặt chân đến Việt Nam, Erich Maria Remarque đã chính thức quay trở lại trong bộ trang phục mới do Đông A may đo”.

Xem việc thiết kế bìa như nghệ thuật phục trang cho một quyển sách cũng là một cách ví von, ít nhiều khái quát vai trò của cái bìa trong việc trình hiện một bản sách đến với công chúng…

Chọn bìa như chọn hoa hậu

Có một dụ ngôn theo kiểu “đừng đánh giá quyển sách chỉ qua cái bìa”, nhưng trong thực tế thì người mua sách phải tiếp cận trước hết với cái bìa sách. Nói như ông Thành Nam – phó giám đốc NXB Trẻ: “Bìa sách vô cùng quan trọng đối với đời sống một quyển sách. Bìa sách không chỉ là thứ đầu tiên mà người ta nhìn thấy mà nó còn là cơ sở “duy nhất” để quyết định xem có nên tiếp tục khám phá nội dung bên trong của cuốn sách hay không”.

Bởi có vai trò là “bộ cánh” cho sách, nên cái bìa cũng là thành phần nhận được nhiều lời đàm tiếu. Phổ biến nhất là cách nói: Sách này hay nhưng cái bìa không hợp với nội dung; hoặc: quyển sách hay vậy nhưng vì cái bìa không nổi bật nên chẳng mấy người chú ý..v..v..

Tuy nhiên, giới chuyên gia thiết kế bìa sách (designers) lại rất dè dặt khi đưa ra cách hiểu “như thế nào là một bìa sách đẹp”.

“Với từng bìa cho một quyển sách cụ thể nào đó thì có thể nhận xét đánh giá được về các tiêu chuẩn, ý tưởng… để nhận định đẹp hay không đẹp, nhưng không thể đưa ra một quy chuẩn chung về bìa sách đẹp”, ông Trần Đại Thắng – giám đốc công ty sách Đông A, người có thâm niên hơn 20 năm thiết kế bìa sách – chia sẻ.

Còn khi phải diễn đạt về những tiêu chuẩn cho một bìa sách đẹp, họa sĩ thiết kế Bích Khoa của Nxb Kim Đồng cho rằng “Bìa đẹp trước hết phải đáp ứng hai tiêu chí: hình đẹp và phù hợp với nội dung; thứ hai là typo (con chữ) phù hợp với thiết kế tổng thể”.

Trở lại vấn đề bìa sách có hợp với nội dung hay không, nhà thiết kế Tạ Quốc Kỳ Nam – một trong những designer bìa nổi nhất hiện nay – cho rằng: cảm nhận cái đẹp là việc của những cá nhân. “Designer có thể làm ra cái bìa tốt nhất có thể, NXB có thể rất hài lòng với cuốn sách ra lò, nhưng chuyện độc giả cảm thụ tới đâu là nằm ngoài kiểm soát. Quan trọng là bạn, bạn thấy thế nào? Cứ đọc và ngắm đi đã”.

Họa sĩ Bích Khoa phân tích cụ thể hơn, cho biết có một số cơ sở để xác định bìa sách phù hợp cho một quyển sách, đó là: hợp với tuổi của bạn đọc quyển sách đó; hợp với thể loại sách đó (khoa học khác, tình cảm khác, cổ tích khác và nhật ký đời thực khác…); thứ ba là hợp với tác giả: “có những tác giả nổi vật về cái gì đó, chuyên về cái gì đó, mà khi thiết kế bìa, mình phải nghĩ rằng: làm sao để nhìn cái bìa này thì người ta liên tưởng đến tác giả ấy, chứ không thể “lạc” sang tác giả khác. Cái này diễn đạt thì khó, nhưng trong nghề vẫn có thao tác đó”, Bích Khoa chia sẻ.

Và đứng trước một bản thảo đang cần bìa, ông Trần Đại Thắng cho rằng cần có ý kiến của nhà chuyên môn và cũng cần lắng nghe cả ý kiến của số đông công chúng. “Với công ty Đông A, chúng tôi xếp các bìa thiết kế theo 3 cấp độ: có bìa thật xuất sắc, có bìa vừa đạt yêu cầu, và có bìa chỉ vừa đủ các tiêu chí để in cho kịp tiến độ sách”, ông Thắng nói thêm: “cái đẹp thì không có công thức, cho nên phải cân đối giữa các yếu tố của từng bìa cụ thể để chọn, tựa như chọn người đẹp trong cuộc thi hoa hậu vậy”, ông Thắng ví von.

Áo gấm đi… từ quá khứ đến tương lai

Quyển 40 năm nói láo được Nhã Nam kỳ công làm bìa mới nhân lần tái bản – Ảnh: L.Điền

Nhân câu chuyện bìa sách, ông Nhật Anh – giám đốc công ty Nhã Nam – nhớ lại cái lần làm bìa mới để tái bản quyển 40 năm nói láo của Vũ Bằng. Ý tưởng của nhà thiết kế Tạ Quốc Kỳ Nam là phải tìm lại các manchette báo cũ – những tờ mà Vũ Bằng từng viết – rồi lấy kiểu font cũ đó làm font cho nhan đề sách lần này… Quá trình lục tìm tư liệu chỉ để phục vụ cho một cái bìa như vậy mất khá nhiều thời gian. Tuy nhiên, đây là bìa sách đáp ứng được yêu cầu “vừa mang tính hiện đại, vừa giữ được tinh thần của bản sách cũ” mà Nhã Nam đặt ra khi tái bản 40 năm nói láo trong loạt Danh tác Việt Nam. “Một tủ sách của những bạn đọc thế kỷ 21 tất phải có nét hiện đại. Tuy vậy, vẫn phải làm sao giữ được nét cổ điển của những danh tác này (font chữ, vi-nhét, typo) để gợi nhớ về một quá khứ vàng son từng có… Tất cả đều trông cậy vào cái bìa”, ông Nhật Anh tâm sự.

Chia sẻ với ý kiến này, ông Thành Nam nhìn thấy ở bìa sách khả năng “tạo ra kỳ vọng nơi độc giả”. “Nếu độc giả nhìn thấy cái bìa một quyển truyện hay tiểu thuyết được thiết kế quá nghiệp dư, rẻ tiền có thể họ sẽ nghĩ rằng nội dung quyển này cũng không chỉn chu. Một bìa sách được thiết kế đẹp, chuyên nghiệp có thể tạo ấn tượng và cơ sở để độc giả tin tưởng về chất lượng bên trong của quyển sách cũng được làm tươm tất”, ông Nam nói thêm.

Ngoài ra, giới phát hành còn nhìn nhận vai trò của bìa sách chính là một công cụ bán hàng quan trọng, là yếu tố tham gia sớm nhất vào việc quyết định một cuốn sách có bán chạy không, có tồn tại lâu dài không; do đó nếu chất lượng quá tệ thì bìa sách không tạo được hứng thú và tò mò nơi độc giả, thì độc giả không mua, quyển sách sẽ “chết”.

Tác phẩm Chùa đàn của Nguyễn Tuân với hai mẫu bìa năm 1989 và năm 2016 – Ảnh: L.Điền

Chính điều này thúc đẩy các đơn vị làm sách đang ngày một có trách nhiệm hơn trong việc tìm kiếm hình thức và nội dung cho bìa sách. Công ty Sách Dân Trí (DT Books) khi quyết định mua bản quyền và tái bản quyển Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ từ khởi thủy đến 1945, đã kỳ công tìm bức ảnh chụp Một góc chợ Sài Gòn in trên tập san Le Monde Illustré vào ngày 24-12-1864 để làm bìa 1, và tìm bức ảnh chụp Bến Nhà Rồng năm 1866 của Émile Gsell để làm bìa 4. Kỳ công như vậy, “vì quyển này vừa được một đơn vị khác in và phát hành cả nước, mình mua bản quyển tái bản phát hành lại, phải làm đẹp và có ấn tượng mới mong bán được sách” – người phụ trách DT Books thừa nhận.

Cùng với ý thức như vậy, giới xuất bản tin rằng chất lượng bìa sách của Việt Nam sẽ còn tiến xa hơn nữa. Ông Trần Đại Thắng ghi nhận “hiện đang có một thế hệ nhà thiết kế trẻ vượt lên với sự thông minh và sáng tạo hơn thế hệ trước rất nhiều”.

Lam Điền

Box 1:

Theo Tạ Quốc Kỳ Nam, một nhà thiết kế bìa sách chuyên nghiệp bên cạnh các kĩ năng sử dụng phần mềm mà ai theo nghề thiết kế nói chung phải có, làm bìa sách cần nhất là phải thích sách và hiểu sách; Có khả năng tư duy từ con chữ ra hình ảnh tốt; có gu. Ngòai ra còn cần sự kiên nhẫn, vì đây là một công việc phải nghiên cứu, sửa đổi, hay bỏ hẳn phương án rất thường xuyên, trong khi tiền công không cao như những công việc thiết kế khác. Tuy nhiên điều khiến người làm bìa yêu công việc này là tuổi thọ của một bìa sách khá lâu, bìa đẹp có thể ở lại trong tâm trí người đọc mãi mãi, gắn liền với cảm xúc của họ khi đã đọc xong, trong khi một sản phẩm thiết kế thương mại thông thường sẽ trôi qua nhanh hơn.

Trong khi đó, ông Vũ Hoàng Giang – Phó giám đốc Nhã Nam – thì cho rằng: “Nội lực ngành xuất bản của chúng ta còn yếu, hiện các công ty không đủ sức thu hút người tài làm họa sĩ chuyên vẽ bìa. Bởi mức thù lao trả cho bìa không cao, không đủ sức hấp dẫn giới đồ họa/ nhà thiết kế chuyên nghiệp.

Box 2:

Bìa sách của công ty Tao Đàn với lối cách điệu typo – Ảnh: L.Điền

Công ty Tao Đàn từng trình làng quyển Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ với cách tạo ấn tượng cho bìa bằng typo (ảnh). Tuy nhiên, bên cạnh những ý kiến ủng hộ lối cách điệu con chữ như vậy, cũng có ý kiến cho rằng kiểu này rối, nhiều người nói chữ “trú” trên bìa đọc không ra.

Box trích:

Với kinh nghiệm 8 năm làm bìa sách, mình đúc kết có 3 tiêu chí cho một bìa sách đẹp: Đúng, Đẹp và Độc. Đúng là thể hiện đúng thể loại đề tài (non-fiction hay fiction, lãng mạn hay kinh dị), không khí sách (tươi vui, hồi hộp, suy tư, hay hừng hực sức sống?), đối tượng khán giả (thiếu nhi, thiếu niên, người lớn…). Đẹp là xét về mặt mỹ thuật, do đó khá chủ quan và cảm tính, không có quy chuẩn nào mà là do tay nghề, gu thẩm mỹ và sáng tạo của người làm. còn Độc là nói về ý tưởng của bìa sách, khiến bìa này bật ra khác lạ so với bìa kia, dù có thể cùng chung một dòng sách, motif. Một bìa sách tối thiểu phải đạt được chuẩn Đúng. Còn Độc là cái khiến bìa sách khác biệt, nhưng là tiêu chí khó nhất, cần dụng công suy nghĩ nhiều nhất. Bìa Đúng chưa chắc Đẹp, Đẹp chưa chắc hợp sách, nhưng Độc thì nhất định phải đạt được cả 3. (Tạ Quốc Kỳ Nam)

 

庾亮

庾公乘馬有的盧,或语令賣去,庾云:“賣之必有買者,即當害期主,寕可不安己而移於他人哉?昔孫叔敖殺两頭蛇以為後人,古之美談。效之,不亦達乎?”

Dữu Công trong số ngựa dùng để cưỡi có một con tên Đích Lư, có người bảo nên bán đi. Dữu rằng: “Bán thì tất có người mua ngay thôi, rồi con Đích Lư này lại hại người chủ đó, không lẽ đem cái bất an của mình chuyển cho người khác sao? Xưa kia Tôn Thúc Ngao giết rắn hai đầu vì sợ người [đi đường] đến sau [gặp xui xẻo], người xưa khen hay. Làm theo như vậy, chẳng phải là cũng rất được sao?

Thơ Đinh Vũ Ngọc

Sách do NXb Dân Trí cấp phép ấn hành – Ảnh: L.Điền

Năm xưa hồi còn Yahoo! 360, một lần nọ tìm kiếm gì đó trên mạng, bất ngờ gặp một bài thơ Đường. Đọc giọng thơ, mình tin chắc là người đã lớn tuổi, và quan trọng hơn, là một người thạo thơ Đường hiếm thấy trong thời buổi ngày nay.
Còn nhớ, bài thơ đó là Chiếc áo tơ vàng, chép trong một blog, ký tên Đinh Vũ Ngọc. Mình đọc xong, chẳng biết Đinh Vũ Ngọc là ai. Tìm đọc loanh quanh cái blog ấy cũng chỉ cho thêm kết luận là người này thạo thơ Đường, ngoài ra không biết chút gì về nhân thân. Cái blog dạo ấy sơ sài quá.
Nhưng vì tiện tay, và vì để ghi nhớ “đời nay còn người làm thơ Đường hay quá” (lúc ấy mình nghĩ thế), mình bèn họa lại một bài.

Lúc đó mình làm bài họa ngay trong chỗ comment của blog ấy, xong post luôn. Rồi bẵng đi thật lâu không gặp lại cái blog ấy nữa. Cái tên Đinh Vũ Ngọc mình cũng không gặp luôn.
Rồi cách chừng ba bốn năm gì đó, tình cờ lại gặp một bài thơ Đường của Đinh Vũ Ngọc, hình như trên FB của anh Đinh Lê Vũ. Lần này là bài thơ Tặng nón. Mình cũng cao hứng làm một bài họa lại. Cả hai bài họa đều là hú họa, vì post xong bặt vô âm tín chẳng thấy phản hồi gì.
Bi kịch hơn, mình đã quên luôn hai bài thơ họa đã làm.

Sau đó chẳng rõ nhân một lần nào đó, từ em Hoa Linh Thoại mà mình biết được Đinh Vũ Ngọc chính là ông thân sinh của anh Đinh Lê Vũ. À lên một tiếng, thiệt là trái đất tròn mà cũng hẹp biết bao, người nhà của người quen cả.
Và như một cái duyên, sau đó trong một lần tìm sách cũ, mình bắt gặp quyển Đường thi cảm dịch của Đinh Vũ Ngọc cùng thủ bút và chữ ký tặng một nhà thơ. Sau những biến động chi chi đó, tập thơ từ nhà nhà thơ chạy ra chợ trời. Mình cầm lên tay và mừng khôn xiết, vì cái điều đoán định lúc trước nay được củng cố thêm: Đinh Vũ Ngọc chẳng những làm thơ luật hay, mà dịch thơ Đường cũng hay.
Chỉ hận một nỗi, nghĩ lại nhân duyên năm xưa, mình chẳng làm sao nhớ được bài thơ họa mà mình đã làm trong cái blog của bác Đinh Vũ Ngọc.

Rồi có lần nói chuyện với anh Đinh Lê Vũ, mình “xúi” anh in lại các bài thơ Đường của bác Ngọc, bởi theo mình đây là những bài thơ Đường thật hay, thật đáng để lưu giữ và lưu truyền. Bởi phải có một hồn thơ sâu đậm và khả năng dụng ngữ thần tình mới có thể làm thơ Đường đạt đến thần thái ung dung tự tại như Đinh Vũ Ngọc.

Xúi vậy mà anh Đinh Lê Vũ làm thiệt. Kết quả là tập thơ Nắng vườn xưa vừa được in lại và phát hành.
Tháng trước, anh Đinh Lê Vũ từ Quảng Nam gửi vào cho mình mấy tập Nắng vườn xưa, in đẹp, trang nhã, thật quý hóa.
Đọc một lượt, gặp bài Chiếc áo tơ vàng, lại càng băn khoăn về bài thơ họa xưa giờ lạc mất mà trí nhớ suy tàn không lưu giữ được.
Trong tập Nắng vườn xưa lần này không in bài Tặng nón. Nhân đây mình lục lại các chỗ ghi chép thì may quá còn giữ được cả bài Tặng nón của bác Đinh Vũ Ngọc và bài họa của mình.
Vậy là bài họa Chiếc áo tơ vàng trước đó nữa giờ chẳng biết làm sao có được.
Ấy vậy mà trưa hôm qua bất ngờ tự nhiên nhớ lại nguyên cả bài thơ họa Chiếc áo tơ vàng. Thật là trí nhớ chơi đùa mình quá. hehe
Nay bèn chép ra đây, để phòng khi lại quên lại thì sao. ak ak

Bài xướng Chiếc áo tơ vàng:

Chiều nay em bận áo tơ vàng
Nào biết vì ai em điểm trang
Nắng cũng thẹn nhường màu rực rõ
Hoa chừng hờn kém vẻ cao sang
Ngập ngừng cánh gió hương ngưng đọng
Rạo rực nguồn thơ ý chứa chan
Em có giấu thơ trong vạt áo
Ta nghe hồn mộng cũng mơ màng.
(Đinh Vũ Ngọc)

Bài họa:

Bất chợt chiều nay tỉnh mộng vàng
Nghe thời xuân sắc đã sang trang
Mắt câu ngần ngại phần trang điểm
Mày phượng e dè khoản sửa sang
Thanh sắc đường trần giông bão rót
Nghĩa tình dặm khách gió mưa chan
Thì thôi xếp gối phong sương lại
Ngồi tiếp thơ xuân đến muộn màng.
(Lam Điền).

Và bài Tặng nón:

Thương anh cởi nón về dầu
Về nhà mẹ hỏi- qua cầu gió bay
(Ca dao)

Gặp gỡ bên cầu trưa nắng hanh
Thẹn thùng em cởi nón cho anh
Chỉ mong anh khỏi hồi oi bức
Chẳng ngại em trao nón rách lành
Hương tóc còn vương thơm lá trắng
Mồ hôi vẫn đọng thấm quai xanh
Ra đi có nón, về không nón
Mẹ hỏi, em tìm cách giấu quanh…
(Đinh Vũ Ngọc)

Bài họa:

Đôi tấm lòng hanh, nắng cũng hanh
để mình thêm dạn nón trao anh
dẫu chưa mỗi lúc đều che chắn
nhưng đã chung nhau chút ngọt lành
mai nữa nhớ hoài mi mắt biếc
bây giờ thương cả tóc đương xanh
rồi đây cha mẹ thành cha mẹ
tiếng trẻ nhà ai giỡn rộn quanh.
(Lam Điền)

Phải nói là rất cảm ơn anh Đinh Lê Vũ, hẳn là tập thơ Nắng vườn xưa cùng những lần giở trang thơ đã giúp mình nhớ lại cái bài họa hồi xa lắc. Ahihi

Khai bút năm Đinh Dậu – 2017

 

Gió đổi qua chiều tạnh cố nhân
Hoa mùa theo kịp dáng Đông quân
Đã tha thướt với làn li áo
Còn bắt buông cho buổi hợp quần
Lúc trước có duyên đòi tống cựu
Bây giờ không khéo lại nghinh tân
Đêm trừ sắp cộng vào đêm tịch
Để thử nhân chia được mấy phần.
(Xuân Đinh Dậu, 2017)

Ánh mắt Việt Nam và câu chuyện Hàn Quốc

Dịch giả Lê Huy Khoa (trái) đang chia sẻ những cảm nhận về câu chuyện cuộc đời Lee Myung Bak tại buổi giao lưu – Ảnh: L.Điền

Ngày thứ sáu 10-3, khi thông tin về vị Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-Hye chính thức bị phế truất, dịch giả Lê Huy Khoa viết trên trang cá nhân của mình một status dài gồm 11 ý nhận định xung quanh bối cảnh con người Hàn Quốc, trong đó có một ý: “Chính trị là để phục vụ dân cứ không phải là cai trị: Xã hội Hàn quốc đang gặp nhiều điều bí bách cần phải giải quyết (cuộc đốt nến tập hợp ban đầu chỉ là yêu cầu Tổng thống không có năng lực ra đi, nhưng bây giờ thì yêu cầu của họ đã chuyển sang cải cách thể chế chính trị, yêu cầu sửa đổi quan hệ lao động v..v..)”.

Và đến sáng thứ bảy, dịch giả Lê Huy Khoa lại có cuộc giao lưu tại Đường sách TPHCM về quyển sách hồi ký của cựu Tổng thống Lee Myung Bak: Không có gì là huyền thoại, do NXB Tổng hợp TPHCM ấn hành.

Trong tập sách này, Lee Myung Bak có nói một ý: “Những lúc gặp khó khăn, tôi thường nhìn các bạn trẻ. Và từ ánh mắt của họ, tôi thấy được nhiệt huyết hướng đến tương lai… Quyển sách này có lẽ là câu trả lời cho những ánh mắt tràn đầy nhiệt huyết đó”.

Ảnh: L.Điền

Và chúng ta cũng nhìn thấy những ánh mắt tương tự như vị tác giả sách nổi tiếng kia đề cập, trong ánh mắt những bạn trẻ đến với Đường sách hôm nay, dự một buổi nói chuyện về quá trình lập thân của một người Hàn Quốc, xa nhưng không lạ.

Đa số người Hàn Quốc biết rõ chuyện đời của Tổng thống Lee Myung Bak, hai chữ “huyền thoại” cũng là do người đời gán cho ông. Nhưng với ông, cuộc đời này không có gì là huyền thoại cả, tất cả đều do nỗ lực, bất khuất, vươn lên bằng chính mồ hôi và cả máu của mình.

Hồi ký Không có gì là huyền thoại chỉ tập trung vào giai đoạn từ tuổi bé thơ sống trong gia đình đến khi ông trở thành chủ tịch tập đoàn Huyndai. Quãng đời này, với những người dân Hàn Quốc yêu quý Tổng thống của mình thì cho là huyền thoại, cuộc đời ông cũng được dựng thành bộ phim “Thời đại anh hùng” được công chúng hâm mộ.

Nhưng những ánh mắt của bạn trẻ Việt Nam thì chờ đợi gì từ nhưng trang sách cuộc đời như vậy?

Có thể là rất nhiều thứ.

Chẳng hạn như câu chuyện vào năm 1945, vừa 4 tuổi, Lee Myung Bak cùng bố mẹ anh chị em từ Nhật Bản hồi hương Hàn Quốc bằng đường biển. Chẳng may tàu đắm trước khi đến đảo Susima, tuy được cứu thoát nhưng gia đình ông đã về đến quê hương với hai bàn tay trắng đúng nghĩa đen.

Và làm thế nào mà một cậu bé trong gia đình nghèo xơ xác như thế, sống trong chiến tranh, vẫn theo đuổi việc đến trường? Hãy nghe ông, khi làm đến Chủ tịch tập đoàn Huyndai, đã nhớ lại tuổi thơ của mình: “Tôi thường bị đuổi học vì không thể đóng học phí. Mỗi lần như vậy, tôi đều leo lên núi phía sau trường, chơi một lúc và quay vào lớp  nói với thầy cô rằng, cha mẹ tôi nói vài hôm nữa sẽ đóng ngay. Vì ai chẳng biết, tôi có về nhà thì cũng chẳng lấy đâu ra tiền mà đóng cả”.

Những ai từng trải qua một thời cơ cực thuở cắp sách đến trường, đọc những dòng tâm sự này dễ chừng đồng cảm đến rớt nước mắt được.

Nhưng không chỉ có thế, tập sách còn những bài học về dạy dỗ con cái. Mẹ của Lee Myung Bak đã dạy ông nghiêm khắc đến mức khi bụng đói meo mà phải đến nhà hàng xóm giúp phụ đám tiệc cũng không được nhận một miếng cơm thịt quà tặng gì đem về nhà cả, để giữ gìn sự trong sáng của tấm lòng giúp người không vụ lợi. Rồi đến lúc làm cha, Lee Myung Bak lại dạy con gái mình biết phân biệt đúng sai, đến nỗi con ông kể rằng cô đã “nghỉ chơi” với một cô bạn, chỉ vì cô này khi phạm lỗi giao thông lại đem uy thế người bố làm kiểm sát ra để xin được tha.

Quan trọng hơn, câu chuyện Lee Myung Bak khi làm đến phó giám đốc Huyndai, cưới vợ rồi vẫn ở nhà thuê, mà thuê nhà giá rẻ đến nỗi trong 3 năm phải chuyển nhà 8 lần, đến khi nhận chức phó giám đốc thứ 2 của Huyndai thì ông mới sắm được căn nhà hơn 60 mét vuông cho tổ ấm của mình.

Cả cuộc đời Lee Myung Bak là một câu chuyện có tính chất “thân giáo”: bản thân ông chính là câu chuyện giáo dục. Ngay cả khi ông nhận được lời góp ý từ các bậc đàn anh, những chuyển biến trong suy nghĩ và cách sống cũng được ông chia sẻ lại với mọi người.

Là người gắn bó lâu năm với Hàn Quốc, lại trải qua nhiều khúc ngoặt cuộc đời từ lao động bình dân tha hương đến sáng lập trường Hàn ngữ Việt – Hàn Kanata, dịch giả Lê Huy Khoa cho rằng những bài học về cuộc đời ông Lee Myung Bak rất phù hợp với phong trào khởi nghiệp hiện nay ở Việt Nam. “Các bạn trẻ đọc quyển này sẽ có thêm nội lực rất nhiều”, ông chia sẻ.

Và trong ánh mắt các bạn đọc Việt Nam cũng ánh lên điều này. Cho dẫu đó là một cô sinh viên đang học tiếng Hàn gọi Lê Huy Khoa là thầy, hay một nhân viên ngân hàng vốn hâm mộ các dịch phẩm của Lê Huy Khoa… Họ gặp nhau ở nhận định rằng: Chúng ta đang đi sau Hàn Quốc, chúng ta phải học và phải cố gắng vượt lên, phấn đấu tạo ra giá trị mới để cải thiện tình hình hiện thời.

Vâng, nếu thiếu tinh thần ấy, thì dẫu có tìm đến với quyển sách này hay bất kỳ pho bí kíp cẩm nang kỳ diệu nào, bạn đọc sẽ chẳng chờ đợi được gì.

Lam Điền

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.