Shibuasawa Eiichi và bài học từ Nhật Bản: Tổ quốc có tính siêu lịch sử

Nguyễn Lương Hải Khôi, nhận bằng tiến sĩ triết học ở Đại học Nihon, Nhật Bản, năm 2014, nguyên tổ trưởng tổ Lý luận, trường ĐH Sư phạm TPHCM, hiện là nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu, Đại học Oregon, Hoa Kỳ – Ảnh: L.Điền

Để chào đón triều đại mới của Nhật hoàng Naruhito, nước Nhật sẽ đưa chân dung một nhân vật tiếng tăm thời Minh Trị lên tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhất (10.000 yen), chính thức lưu hành vào năm 2024. Đó là Shibusawa Ei-ichi, người được mệnh danh là “tổ phụ” của nền kinh tế thị trường Nhật Bản.

Như một trùng hợp ngẫu nhiên, quyển tự truyện Vũ Dạ Đàm của Shibusawa Ei-ichi do TS Nguyễn Lương Hải Khôi chuyển ngữ cũng vừa ra mắt bạn đọc Việt Nam.

Tuổi Trẻ có dịp trao đổi với TS Nguyễn Lương Hải Khôi xoay quanh cuộc đời Shibusawa, tinh thần trí thức Nhật Bản và những bài học có thể có ích cho Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai.

Đọc qua hành trình Shibusawa Eiichi từ một nông dân hoàn toàn “áo vải” trở thành nhà thiết kế nhiều quy chuẩn/ định chế tài chính cho Chính phủ Nhật Bản và giữ vai trò quan trọng trong việc hoạch định hướng đi cho quốc gia Nhật Bản hiện đại ngay từ lúc giao thời Minh Trị, loại bỏ yếu tố cơ may, quả thật con người Shibusawa Eiichi phải có tố chất nào đó đặc biệt. Ông tâm đắc những tố chất nào của Shibusawa Eiichi?

Nguyễn Lương Hải Khôi (NLHK): Có thể thấy yếu tố quyết định sự thành công của Shibusawa Ei-ichi chính là tính cách và tư tưởng. Tố chất quyết định là thực học. Ông học nghề trồng cây tràm, trông dâu nuôi tằm, buôn bán, học cách nghiên cứu về thị trường (để biết xã hội đang khuyết điều gì).

Ngay cả việc học sách vở, ta thấy Shibusawa Ei-ichi và giới sĩ phu Nhật Bản đương thời cũng khác Nho sĩ Việt Nam ở chỗ thực học. Shibusawa cũng như thế hệ của ông được học cả tư tưởng Nho giáo Trung Quốc lẫn Nho giáo Nhật Bản, học cả lịch sử Trung Quốc lẫn lịch sử Nhật Bản, học cả những công trình nghiên cứu Nhật Bản của các danh Nho thời Edo. Điều đó giúp ý thức dân tộc của ông cũng như của giới Võ sĩ đạo thế hệ ông mạnh mẽ ngay cả trong thời bình chứ không đợi đến khi mất nước thì mới biết yêu nước, mới hy sinh cho nước. Điều này khác hoàn toàn với giới Nho sĩ Việt Nam: có khí tiết, trong sạch, nhưng ngơ ngác trước thời đại, bởi họ học những kiến thức và tư tưởng từng ra đời ở Trung Quốc nhiều thiên niên kỷ trước, hoàn toàn bất lực trước xu thế toàn cầu hóa giai đoạn thực dân chủ nghĩa.

Theo như ông biết, trong giới trí thức Nhật Bản hiện nay, Shibusawa Eiichi có tầm vóc như thế nào? Những ảnh hưởng đáng kể nào từ nhân vật này đến ngày nay vẫn còn và sẽ tiếp tục ở Nhật Bản?

Tạp chí Tozo Keizai, năm 1981, có làm một cuộc khảo sát giới doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản, tức giới doanh nhân đã tái tạo Nhật Bản sau thế chiến thứ hai, xem mẫu hình nhân cách lý tưởng của họ là ai, và cuốn sách ảnh hưởng đến cuộc đời doanh nhân của họ nhất là cuốn nào. Câu trả lời là: Shibusawa Ei-ichi cùng với cuốn sách “Luận ngữ và bàn tính” của chính ông.

Tháng 4 năm 2019, chính phủ Nhật Bản quyết định lấy hình ảnh ông in lên đồng tiền 10.000 Yên, là tờ tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật.

“Luận ngữ và bàn tính” luận giải về tư tưởng “nghĩa lợi lưỡng toàn”, tức kết hợp hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp và đạo đức nhân nghĩa đối với quốc gia, làm cho doanh nhân trở thành mẫu hình đạo đức của xã hội, tương tự như mẫu hình “thánh hiền” của Nho giáo thời trước. Shibusawa xây dựng tư tưởng đó và thực hành nó một cách nghiêm túc, bền bỉ, từ lúc làm quan cho Mạc phủ, cho Minh Trị, rồi như một doanh nhân độc lập trước chính quyền, cho đến khi qua đời. Ông không chỉ xây dựng hơn 500 công ty, tức mạng lưới doanh nghiệp hiện đại của Nhật Bản, mà đồng thời còn thực hiện cũng hơn 500 dự án giáo dục đại học, y tế, xã hội và văn hóa khác nhau.

Ngày nay, thế giới nói chung rất tín nhiệm doanh nhân Nhật Bản về chữ tín. Chữ tín của thương nhân là điều đã được các Nho gia và các Sư Phật giáo thời Edo khởi xướng, được Shibusawa phát triển và thực hành triệt để cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Từ đó, nó trở thành một đặc trưng nổi bật của doanh nhân Nhật Bản hiện đại.

Có bài học nào trong việc thế hệ Shibusawa đã chống Tây phương giai đoạn đầu, nhưng lại Tây phương hóa quyết liệt ngay sau đó?

Shibusawa ở tuổi 20 từng lập kế hoạch giết người phương Tây, nhưng khi hiểu được sức mạnh của nền văn minh phương Tây, ông viết thư cho người thầy Hán học của mình “Trong những ngày này, trong thời đại này, đất nước chúng ta không thể cứ cố bịt tai bịt mắt để trở nên trơ trọi và dị hợm trước phần còn lại của thế giới.” Sở dĩ Shibusawa và thế hệ của ông có thể tiến hóa về tư tưởng nhanh chóng, quyết liệt như vậy vì nền tảng Nho giáo Nhật Bản của ông là một Nho giáo “thực học”. Kế thừa tư tưởng trọng thị thương nhân từ những nhà Nho thế hệ trước như Ishida Baikan, cộng với bối cảnh kinh tế xã hội và tư tưởng thời Edo đã giúp sĩ phu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của chế độ Mạc phủ, trong đó có Shibusawa, có thể thay đổi nhận thức và Tây phương hóa một cách quyết đoán.

Những năm đầu Minh Trị, khi Chính phủ Nhật Bản còn chưa biết xây dựng một nền pháp luật như thế nào cho phù hợp với thế giới đương đại, Shibusawa Eiichi đã đề xuất thiết lập một “văn phòng chuyên trách” với ý tưởng là “thu nạp những cán sự tốt nhất hiện có, để họ nghiên cứu xem những cải cách nào nên được thực hiện trước, cơ chế cũ nào nên đổi mới, cơ chế mới nào nên được thiết lập…”. Kiểu văn phòng này mang dáng dấp một think tank của Chính phủ lúc ấy, thế mà đến nay sau hơn một 150 năm, hai chữ think tank đối với chính phủ Việt Nam vẫn còn xa vời, theo ông là tại sao?

Hai chữ think tank đối với chính phủ Việt Nam hôm nay vẫn còn xa lạ bởi chúng ta tổ chức chính phủ theo kiểu phong kiến trá hình. Trong chế độ phong kiến, chỉ có vua và các quan, không có think thank. Các quan có thể là quân sư, tư vấn cho vua ở một số sự vụ, chính sách nhất định. Ngoài ra, còn có một cơ quan là “Cơ mật viện” (tên gọi thời Nguyễn) để giúp vua ra quyết định những vấn đề hệ trọng. Bản chất của các “quân sư quạt mo” và “Cơ mật viện” là tìm hiểu vấn đề theo định hướng. Ngoài ra, việc “nghiên cứu chính sách” của họ chỉ là nhiệm vụ kiêm nhiệm. Họ không được trao quyền lực độc lập với các nhóm lợi ích khác nhau trong hệ thống nhà nước để có thể xây dựng những chính sách vì lợi ích dài hạn của quốc gia, mà luôn phải tính đến lợi ích của các nhóm tác động đến họ.

Chúng ta ngày nay cũng vậy. Hệ thống quan chức cũng thường xuyên phải học tập bồi dưỡng lý luận chính trị các loại, nhưng cái họ học chỉ giúp họ nhận thức về chế độ, về Đảng của họ, chính quyền của họ. Họ vẫn sử dụng khái niệm “đất nước” và “tổ quốc” nhưng chưa bao giờ đất nước hay tổ quốc được họ định nghĩa như là một cái gì cao vượt hơn chế độ chính trị, có tính siêu lịch sử mà nếu sau này họ chết đi rồi thì tổ quốc vẫn còn ở lại, ghi dấu bao nỗ lực, máu và nước mắt của thế hệ trước, thế hệ họ và thế hệ tương lai.

Trong một đời sống tinh thần như vậy, tổ chức think tank thành ra không cần thiết. Think tank chỉ cần thiết khi họ có những con người sống và chiến đấu cho ý niệm về một “quốc gia” như là cái gì thiêng liêng hơn hệ thống chính trị, xã hội nhất thời, do đó, họ nghiên cứu chính sách trong tư thế và tâm thế của kẻ sĩ, tách mình khỏi mọi quan hệ kim tiền, chỉ đi tìm lời đáp cho những câu hỏi lớn đối với vận mệnh quốc gia. Ngược lại thì think tank, nếu có đi nữa, cũng chỉ là mặt nạ trang trí cho hình ảnh “cởi mở” của các chính trị gia.

Có một quan điểm về doanh nhân được Shibusawa Eiichi diễn đạt từ khi Nhật Bản còn chưa hình thành tầng lớp doanh nhân, đó là: “phải xóa bỏ thói quen tuân theo và dựa dẫm vào mệnh lệnh quan chức của người dân” để “nếu phát triển trí tuệ cho giới doanh nhân, nâng cao phẩm cách của họ, thì đồng thời cũng sẽ thúc đẩy được khả năng kinh tế của họ”. Điều này quả là xa lạ với Việt Nam khi mà ngày nay việc nói trái (thậm chí chỉ cần nghĩ trái) ý quan chức luôn để ngỏ khả năng gặp phải tai họa; và việc phát triển kinh tế như thế nào lại cũng chính từ miệng quan chức nói ra để người dân tuân theo. Ông nghĩ gì về điều này?

Như trên đã nói, Nhật Bản nhận ra vai trò quan trọng của doanh nhân đối với quốc gia từ rất sớm. Khi Shibusawa từ quan để bước vào thương trường năm 1873, một người bạn ông đã tức giận viết thư cho ông, mắng rằng “tao không ngờ mày lại là thằng hám tiền đến như vậy, từ bỏ chức quan cao quý trong triều đình để đi theo bọn con buôn”. Ông viết thư trả lời: “Nhật Bản tệ hại như ngày nay bởi những thằng như mày quá đông. Công thương nghiệp là nền tảng của quốc gia. Chọn những kẻ tầm thường làm quan chức triều đình thì cũng chẳng sao. Nhưng doanh nhân phải là bậc hiền tài. Nếu lực lượng doanh nhân là những bậc hiền tài thì sẽ bảo vệ được sự phồn thịnh của quốc gia. Xưa nay người Nhật tôn kính tầng lớp võ sĩ, cho rằng trở thành quan cao trong chính phủ là vinh quang tối thượng, còn trở thành một thương nhân là điều đáng xấu hổ. Đó là kiểu tư duy lầm lạc từ xưa đến nay. Ngày nay, nhiệm vụ cấp bách của nước ta là thấu hiểu lề lối tư duy của xã hội, loại trừ những những suy nghĩ sai trái của nó, nâng cao vị thế xã hội của doanh nhân, phát triển nhân tài để xây dựng xã hội thương nghiệp, làm cho doanh nhân trở thành tầng lớp thượng lưu của xã hội”.

Một nhân vật lỗi lạc cùng thời với Shibusawa Ei-ichi là Fukuzawa Yukichi, ông này chia lịch sử con người làm ba giai đoạn: dã man, bán khai và văn minh. Trong đó, “văn minh” là giai đoạn con người được giải phóng khỏi sự áp chế của hệ thống chính trị để được sống như những cá nhân tự do. Theo đó thì có thể thấy nước ta ngày nay vẫn trong giai đoạn “bán khai” tức ngay cả doanh nhân cũng quỵ lụy chính quyền, quan chức. Điều đó không có gì là lạ. Nhật Bản thời “bán khai” cũng như vậy mà.

Lam Điền thực hiện

Bản dịch Vũ Dạ Đàm của Nguyễn Lương Hải Khôi vừa ra mắt bạn đọc Việt Nam – Ảnh: L. Điền
Advertisements

Ôm người bạn thật chặt, ôm kẻ thù chặt hơn

TS Lê Vĩnh Trương (giữa) đang thằng thắn chia sẻ các quan điểm về Trung Quốc trỗi dậy – Ảnh: L.Điền

Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng dẫn câu ngạn ngữ tâm đắc để mở đầu cuộc nói chuyện chuyên đề: Sự trỗi dậy của Trung Quốc, do Khoa Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học KHXH&NV TPHCM tổ chức sáng 19-9.

Cùng với TS Dương Ngọc Dũng còn có TS Lê Vĩnh Trương – tác giả quyển sách Bàn về Trung Quốc trỗi dậy – tham gia diễn thuyết.

Có mặt tại buổi giao lưu, TS Bùi Hải Đăng – Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế – nhấn mạnh rằng Trung Quốc là đề tài chưa bao giời thôi hấp dẫn đối với các sinh viên cũng như giới nghiên cứu Việt Nam. Và rằng trong tình hình hiện nay, mọi sự chuyển biến, thay đổi, và các vấn đề liên quan đến Trung Quốc đều tạo nên sự tác động mạnh mẽ có quy mô toàn cầu.

Trong mối quan hệ địa chính trị đặc biệt của Việt Nam và Trung Quốc, việc nghiên cứu tìm hiểu lẫn nhau là rất cần thiết. Tuy nhiên, như ghi nhận của TS Dương Ngọc Dũng từ mạng xã hội và nhiều nguồn khác nữa, “tôi cảm nhận hình như có một diễn ngôn là chống Trung Quốc, chống bất cứ thứ gì của Trung Quốc”.

Theo ông Dũng, Trung Quốc cũng có đóng góp vào sự hình thành thái độ này. “Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có nhiều thứ để ta nghiên cứu”.

Ông cũng đề xuất phân biệt hai thái độ rõ ràng: Thái độ của nhân dân đối với Trung Quốc; và thái độ của cộng đồng học thuật đối với Trung Quốc.

Riêng về học thuật, TS Dương Ngọc Dũng lưu ý một thực trạng là các nhà nghiên cứu về Trung Quốc hiện đại bị hạn chế về tư liệu. “Chúng ta khó lòng nắm được ý đồ của các lãnh đạo Trung Quốc muốn gì trong các quyết định của họ”. Chỉ khi nào có tài liệu gốc, giới nghiên cứu mới có thể khẳng định, nhưng những tài liệu này luôn được lưu giữ dưới dạng mật, do vậy, những sử gia, nhà nghiên cứu khó biết được sự thật lịch sử.

Và vì nghiên cứu chủ yếu dựa trên suy đoán như vậy, TS Dũng đề xuất cả học giới và các sinh viên nên cẩn trọng trong trao đổi và kết luận về vấn đề nào đó.

TS Lê Vĩnh Trương chia sẻ đồng cảm với TS Dương Ngọc Dũng bằng cách nhắc lại quan điểm của nhân vật chính trong phim Bố Già, rằng không được căm ghét kẻ thù, mà phải hiểu một cách trung tính để biết cặn kẽ kẻ thù.

Trong mối quan hệ với Trung Quốc, TS Lê Vĩnh Trương lưu ý rằng vào thời Đường, tổng sản lượng Trung Quốc chiếm 58% thế giối; thời Tống, tổng sản lượng Trung Quốc chiếm đến 80% tổng sản lượng của thế giới. “Điều này có nghĩa là chúng ta từng sống cạnh người láng giềng hùng mạnh nhất thế giới trong bao nhiêu thế kỷ, chứ không phải đến bây giờ chúng ta mới bắt đầu chuẩn bị cho câu hỏi: Khi Trung Quốc vươn lên nhất thế giới thì ta làm gì?

Và câu chuyện Trung Quốc trỗi dậy có một dư địa lớn để cho các bạn sinh viên khoa Quan hệ Quốc tế theo đuổi nghiên cứu.

“Hãy xem những lãnh đạo Trung Quốc đang làm gì có ảnh hưởng đến chúng ta: Trung Quốc ra một quyết nào đó sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp chúng ta, du học sinh chúng ta, và cộng đồng học giới chúng ta”, ông Lê Vĩnh Trương nêu ví dụ.

Buổi nói chuyện chuyên đề thực sự thu hút mối quan tâm của nhiều giới. Ban tổ chức đã kê thêm ghế phụ và khán phòng chật kín khách đến nghe – Ảnh: L.Điền

TS Lê Vĩnh Trương cũng chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa chính sách của Trung Quốc dưới thời chủ tịch Tập Cận Bình lãnh đạo với các chính sách thời trước.

Các vấn đề xung đột căng thẳng ở bãi Tư Chính gần đây cũng như các hệ lụy đang dần thấy từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung cũng được các cử tọa đề cập nhằm tìm kiếm thông tin và chia sẻ quan điểm với các diễn giả.

Một giảng viên khoa Nhật Bản học đặt vấn đề sự phát triển của các quốc gia là bình thường, nhưng tại sao sự phát triển của Trung Quốc lại gắn với chữ “trỗi dậy” và thu hút quan tâm của cả thế giới như vậy?

Về vấn đề này, TS Lê Vĩnh Trương từ góc độ quan hệ với Việt Nam, đã nhắc lại rằng Trung Quốc va chạm với Việt Nam suốt 25 thế kỷ tổng cộng có 37 lần. “Mình sống làm sao mà người ta đánh mình nhiều như vậy? Nhưng đồng thời cũng phải nghĩ rằng: Những hệ quả từ quá khứ sẽ kéo dài đến hiện tại và đến tương lai, cho nên việc các trí thức quan tâm đến vấn đề trỗi dậy của Trung Quốc là chính đáng.

Còn nữa, đơn cử một vấn đề như cách ứng xử với nguồn nước sông Mekong, TS Lê Vĩnh Trương cho rằng Trung Quốc đã xem phần nước sông Mekong trên đất Trung Quốc là thuộc chủ quyền Trung Quốc, nên họ có quyền ngắt, không cho các nước hạ lưu hưởng nguồn nước sông Mekong “như ngắt một bình truyền dịch”. Hay như vấn đề do chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng đặt ra, là quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc thực chất lợi ích có sòng phẳng không? Đây chính là các vấn đề rõ nhất cho thấy sự trỗi dậy của Trung Quốc rất cần được tìm hiểu kỹ hơn, cho một thế giới có trật tự hơn.

Để khép lại chương trình, TS Dương Ngọc Dũng bày tỏ: “Tôi mong rằng sau cuộc nói chuyện này, các sinh viên ngành quan hệ Quốc tế hoặc giới nghiên cứu Trung Quốc có nhiều hào hứng hơn để đi theo hướng của TS Lê Vĩnh Trương đã vạch ra. Tôi thích một câu tiếng Anh mà tôi nghĩ có khi bắt nguồn từ Trung Quốc: cần phải ôm thật chặt người bạn thân của mình, nhưng ôm kẻ thù chặt hơn. Tôi không có ý nói Trung Quốc là kẻ thù, mà tôi muốn nói cái việc ôm chặt ở đây có thể là khảo sát kỹ hơn, tìm hiểu kỹ hơn. Nếu ta thực sự xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có những yếu tố đe dọa đến nền an ninh và chủ quyền lãnh thổ, thì ta càng cần phải nghiên cứu Trung Quốc kỹ lưỡng hơn nữa, chứ thể tung ra các khẩu hiệu ái quốc chung chung”.

TS Dương Ngọc Dũng (trái): “cần phải ôm thật chặt người bạn thân của mình, nhưng ôm kẻ thù chặt hơn. Tôi không có ý nói Trung Quốc là kẻ thù, mà tôi muốn nói cái việc ôm chặt ở đây có thể là khảo sát kỹ hơn, tìm hiểu kỹ hơn” – Ảnh: L.Điền

LAM ĐIỀN

KIM LÂN

(Vũ Thư HIên)

Nguyễn Tuân là người giới thiệu tôi với Kim Lân. Tác giả Vang Bóng Một Thời, Quê Hương Chùa Đàn… có tiếng là người quảng giao, biết nhiều người, chơi với nhiều người, nhưng trong việc chọn bạn ông kỹ tính chứ không xô bồ.
Nguyễn Tuân nói với tôi: Viết về nông thôn anh này là số một. Con mắt anh ta lạ, vừa lờ đờ vừa hoay hoáy. Lờ đờ là bề ngoài, là giả tảng, hoay hoáy mới là thật – anh ta nhìn thấy những cái mà chúng mình không thấy. Giỏi!

Cha tôi có một tủ sách đầy ắp – sách tiếng Việt, sách tiếng Pháp, những chồng tạp chí Illustration, Tiểu thuyết Thứ Bảy dày cộp. Sách của ông cũng đủ loại, từ Triết học Vương Dương Minh, Bất Khả Tri Luận cho tới Sách Hồng cho trẻ con (“Hôm qua đổ trận mưa rào, Mặt trời sợ ướt lẩn vào đám mây…”) Ông truyền cho tôi cái tính ham học, ham đọc từ bé. Tôi đọc ngốn ngấu mọi thứ. Tôi đọc cho tới khi ngủ rũ với cuốn sách trong tay. Nhiều cuốn tôi đọc mà chẳng hiểu gì. Nhiều tác phẩm của Kim Lân có trong nhà tô: Vợ Nhặt, Đứa Con Người Vợ Lẽ, Con Người Cô Đầu,… Tôi đọc Kim Lân từ ngày ấy.

Về sau này, các tác phẩm của Kim Lân vẫn cuốn hút tôi bởi cái thế giới lạ lẫm của riêng ông. Cùng với Kim Lân còn có Hồ Dzếnh, với giọng văn đẹp một cách tự nhiên, mộc mạc, không cần đến hư cấu.

Cái sự Nguyễn Tuân quý Kim Lân cách riêng làm tôi thấy lạ. Không đến nỗi là hai thái cực, nhưng đặt hai người bên cạnh nhau thì thấy họ khác nhau rất nhiều. Không kể hình dáng bề ngoài, về văn chương hai người cũng khác nhau lắm: người này quan cách chữ nghĩa, người kia chân chất ruộng đồng.

Kim Lân nổi tiếng trong cả nước trước năm 1945 mà ta quen gọi là thời tiền chiến. Ông tiếp tục nổi tiếng ở phần phía Bắc đất nước, nhưng dường như bị lãng quên ở phía Nam. Người đọc bình thường ở miền Nam Việt Nam hầu như không biết đến ông. Ít nhất là tôi đã có cảm tưởng như thế khi trò chuyện với bè bạn về những tên tuổi được nhiều người nhắc tới ở đó. Cũng như thế, không phải có nhiều người biết ở miền Bắc các văn nghệ sĩ đã phải trải qua những khổ nạn nào.
Vào đầu thập niên 60, sau cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” đến vụ “Nhân văn Giai phẩm”mọi người muốn hay không cũng đều phải thận trọng , mà thận trọng đến mức bệnh hoạn, trong sự giao thiệp. “Cải cách ruộng đất” tiếng là chỉ tiến hành ở nông thôn, nhưng người ở thành thị thường cũng từ nông thôn mà ra cũng nơm nớp vì những dây mơ rễ má của quá khứ: từng có ruộng cho phát canh thu tô hoặc từng có chức vụ trong làng xã. “Nhân văn Giai phẩm” tiếng là chỉ đụng tới văn nghệ sĩ nhưng nó đụng tới cả những Ba Giai, Tú Xuất hiện đại ở nông thôn, những nhà thơ làng có những bài vè ác khẩu.
Người hết tin người, đến nỗi khi khai lý lịch người ta thường để trống mục “bè bạn”. Để trống không có nghĩa là không có ai. Nó chỉ có nghĩa là tôi không có người nào đáng ghi vào mục ấy thôi. Bè bạn khác với người quen, người tôi giao thiệp, hà cớ phải ghi vào. “Tin người quá, dễ dãi quá, có ngày mất chỗ đội mũ”, Kim Lân nói bằng giọng tiên tri bỡn cợt. Ông có lý. Lớ ngớ điền vào đấy một ông bạn bá vơ nào đó để rồi vào một ngày kia ông ta bỗng dưng bị phát hiện hay bị tố cáo là “Ku Zét” (Quốc dân đảng), thậm chí dínhdáng với Phòng Nhì của Pháp hay CIA của Mỹ thì chết. Trong trường hợp này anh sẽ là kẻ “liên quan”. Mà chỉ liên quan thôi cũng đủ lôi thôi rồi – anh sẽ bị gọi đến những nơi không ai muốn đến, ở đấy anh phải trả lời đủ thứ câu hỏi lăng nhăng của các viên chức mẫn cán trong việc truy tầm các phần tử phản cách mạng. Mất thời giờ là cái mất ít nhất. Anh còn có thể bị mất nhiều thứ lớn hơn mà anh không ngờ tới – ngồi tù cùng với ông bạn với tư cách kẻ khả nghi, bị sa thải, bị chuyển công tác, đưa về địa phương, mất béng công việc đang ngon lành.
Không biết trong lần đầu gặp gỡ khi quan sát tôi Kim Lân có nhìn tôi hoay hoáy hay không, nhưng tôi nhớ ánh mắt của ông khi nghe Nguyễn Tuân giới thiệu tôi. Văn gia Nguyễn Tuân nói quá lời, Kim Lân không đến nỗi xét nét quá đáng khi nhìn người mới quen. Cũng có thể ông tin lời giới thiệu của Nguyễn Tuân, nên với tôi ông có cái nhìn ấm áp đôn hậu đi cùng với cái bắt tay chặt.
Kim Lân hay bá vai tôi khi đi cùng. Đó là cử chỉ thân mật. Cánh tay ông nhẹ. Thân hình ông cũng vậy, chắc nhẹ bỗng. Gương mặt xương xẩu, da xạm, nhưng nụ cười toả nắng. Tôi bao giờ cũng nghi ngờ những nhà văn béo tốt, họ dường như đi lạc vào làng văn.
Tôi kính Nguyễn Tuân và một số nhà văn khác bởi văn tài của họ chứ, nói chung, các nhà văn “có môn bài” không hề được lũ viết văn trẻ chúng tôi hiển nhiên coi trọng. “Có môn bài” ở đây được hiểu là sự có chân trong Hội Nhà văn. Vào được cái hội danh giá này thời ấy khó lắm – không phải cứ có sách in là người ta cho vào. Để trở thành hội viên còn phải thông qua sự sàng lọc của một thứ chẳng liên quan gì tới văn chương là “đảng đoàn Hội Nhà văn”. Đảng rõ ràng là tổ chức không dính líu tới văn chương, nhưng đảng lãnh đạo toàn diện, cho nên nó có buộc vào cổ văn chương bằng sợi dây tam cố cũng là chuyện đương nhiên.
Chơi với Kim Lân tôi thấy ông không mặn mà bao nhiêu với cái chân trong Hội Nhà văn. Ông nổi tiếng, người ta không thể không đặt ông vào đấy thì ông vào, ông lững thững vào, chứ chân kia ông để ở ngoài – ông có nhiều bạn văn vô danh tiểu tốt hơn bất kỳ nhà văn nào trong cái hội nọ.
“Này, truyện ngắn Đêm Mất Ngủ của ông được lắm, nó lạ, nó mới, không sa vào lối mòn. Với nó ông có thể trải một chiếu trong đình làng văn được rồi”, ông nói vào một lần tôi được ông kéo về nhà mình trong ngõ hẹp.
Ông thủ thỉ khen tôi sau hai điếu thuốc lào. Tôi thích ngắm Kim Lân vào lúc này. Ông không hút như cách người nghiện đến cơn thèm. Ông hút chậm rãi, tận hưởng đến cùng cái thú của sự hút. Sau khi bắt cái điếu kêu lên một tràng giòn tan, ông rít đến khi vê thuốc đỏ lửa chìm dần vào nõ mới từ từ ngửa mặt lên, miệng không mím cũng không mở, từ đó bay ra một đám mây vần vụ. Đoạn, ông quất cái xe điếu đánh chát vào thànhcái điếu bát đã ngả màu gụ, đặt dấu chấm hết cho điếu thuốc làm ông hài lòng.
Truyện ngắn Đêm Mất Ngủ vừa mới xuất hiện trên tờ Văn Học đã có điều ong tiếng ve rằng nó đi ngược con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Đỉnh điểm của những lời phê phán là bài “Giương cao ngọn cờ tính Đảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ” của Tố Hữu, đăng trên tờ Nhân Dân, sau đó được tất cả các báo nhất tề đăng lại, không trừ cả báo Văn Nghệ đã đăng truyện ngắn này. Ông giáo sư Hoàng Xuân Nhị[1]còn gán thêm cho tôi một tội mà nhà lãnh đạo văn nghệ bỏ sót: “Vũ Thư Hiên đã phất cao ngọn cờ ấn tượng chủ nghĩa nhằm chống lại đường lối văn nghệ xã hội chủ nghĩa của Đảng”. Khốn nạn, khi viết truyện ngắn và cả sau đó nữa tôi nào có biết mặt ngang mũi dọc của cái ấn tượng chủ nghĩa nó là thế nào đâu. Say máu cuồng tín người ta nghĩ ra nhiều đòn, nhiều tội để buộc tôi vào một tội nào đó, không cần biết nó có thật hay không, không cần biết nó lá cái gì . Trong trận đòn hội chợ này nhà phê bình văn học Phong Lê cũng không bỏ lỡ để bồi thêm cho tôi một quả đấm muộn trên tập san Nghiên cứu Văn Học.
Người đưa truyện ngắn của tôi lên trang nhất tờ báo là nhà văn Đỗ Quang Tiến. Ông kể ông cũng bị hạch hỏi, bị kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, nhưng ông cứ một mực đổ cho tập thể đã thông qua. Mà tập thể rồi cũng phải nhận tội vì thiếu tinh thần cảnh giác cách mạng nên để lọt, lờ đi cái tội lười, không đọc, hoặc đọc lướt, cho nên ông nhà đoan đi làm văn Đỗ Quang Tiến riết rồi cũng bình an vô sự.
Đỗ Quang Tiến cũng là bạn Kim Lân. Ông cười hì hì khi nghe chuyện bạn bị kiểm điểm:

Giỏi! Tập thể tức là chẳng có thằng chó nào hết.
Kim Lân không phải không biết cái sự coi thường những lời vàng ngọc của ông vua văn nghệ sẽ có hậu quả thế nào. Có thể ông tin tôi không phải kẻ ưa đưa chuyện sẽ đem câu nói của ông đi khoe với thiên hạ. Mà cũng có thể ông nói văng mạng, chẳng biết sợ là gì.
Tôi ở tuổi coi trời bằng vung, Lời Tố Hữu phê phán tôi chẳng có tác dụng gì. Lời khen của Kim Lân mới là cái quan trọng. Nó cho tôi thêm vững dạ để bước tiếp.
Nhờ Kim Lân và Hồ Dzếnh tôi mới quen Thanh Châu, nhà văn lãng mạn, một cây bút chủ lực của tuần báo Tiểu thuyết Thứ bảy ngày trước. Cũng lại là sự lạ – Kim Lân không hề lãng mạn chút nào lại là bạn, mà là bạn thiết, của Thanh Châu.
Thanh Châu nói về Kim Lân:

Văn ở người này hay người kia khác nhau còn ở cái tạng, ông ạ. Tạng tôi dù có muốn viết như ông ấy đến mấy cũng không thành. Mà tôi mê cái chất mộc mạc của ông ấy lắm, nhưng bắt chước không được.
Việc kiên quyết xoá sạch quá khứ, trong văn học cũng như trong mọi mặt đời sống tinh thần trước cách mạng là chuyện đương nhiên của đảng cầm quyền. Văn Thanh Châu, và nói chung dòng văn lãng mạn bị giập tắt hoàn toàn ngay lập tức để nhường chỗ cho văn chương công nông binh.
Chúng tôi, những đứa trẻ mê văn, rất biết ơn các tác giả của nền văn học trước cách mạng. Mặc cho mọi phủ định, mọi bài nói bài viết chê bai, dè bỉu của những cây bút phê bình mới nổi, chúng tôi hiểu rằng mọi bút pháp văn xuôi, và cả thơ nữa, được phong phú như bây giờ là nhờ công khai sơn phá thạch của các vị ấy. Những tác phẩm của thời kỳ trước cách mạng bị coi là văn hoá độc hại, bị tịch thu, bị thiêu huỷ, nhưng chúng không biến mất hoàn toàn, chúng tôi vẫn tìm ra chúng ở những người yêu sách đã cất giấu được, ở những hiệu sách cũ.
Các nhà văn cũ bị chìm nghỉm trong cơn sóng lừng của những cấm đoán khắt khe.
Thanh Châu chẳng chờ bị nhận chìm, như nhiều nhà văn tiền chiến ông tự chìm. Ông ngồi nhà, khoá trái cửa, tránh mọi giao tiếp.
Đến với Thanh Châu, tôi phải thận trọng từng bước leo một cái thang mảnh dẻ và lung lay, chui qua một cái lỗ nhỏ hình vuông vừa đủ cho một người, để lết vào bên trong cái gác lửng thấp tè. Ngồi ở đó, bên bàn trà của Thanh Châu, tôi được hưởng sự yên tĩnh ở một thế giới khác, bỏ lại sau mình cái thế giới chán phè.
Nhà Thanh Châu là chỗ ẩn náu của mấy nhà văn không ưa thời cuộc bên ngoài. Họ lui tới với Thanh Châu vì ở đó là nơi có thể bàn chuyệnđời, chuyện văn, muốn nói gì thì nói. Lạ một cái là ở đấy chúng tôi chẳng phê phán ai, chẳng chống đối ai, chẳng chống đối cái gì, chúng tôi không rỗi hơi để làm việc ruồi bu, thế mà người ta cũng biết ai thường đến đấy, nói cái gì. Không thể hiểu tại sao – ai đó sểnh miệng hay có người không đáng tin nhập cuộc. Thành thử khi có chuyện ấy xảy ra thì giữa chúng tôi cũng có cái nhột nhột trong câu nói, trong giọng nói, như một phản xạ có điều kiện.
Đến thời có cuộc “đấu tranh giữa hai đường lối” (tức là hai cái gọi là “giáo điều” và “xét lại”) thì tình hình căng như dây đàn. Trong bầu không khí ngột ngạt, ở mọi cơ quan báo chí xuất bản các bài viết, các tác phẩm văn học nghệ thuật đều bị lôi ra xem xét dưới kính phóng đại. Mọi nhà văn nhà báo đều bị coi là xét lại, hoặc tình nghi xét lại. Người ta thổi phồng cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại hiện đại được Bắc Kinh khởi xướng như là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng vô sản, được các loa đầu đường ra rả phát lại. Mọi văn nghệ sĩ phải tự xem lại mình, tự kiểm điểm , tự đấm ngực mà kêu mea culpa (tôi là kẻ có tội). Có cả những người chẳng hề quan tâm các thứ chính trị linh tinh vội vã xưng mình có tội để được coi là kẻ trung thành với đường lối chính thống. Nhìn quang cảnh ấy tôi thấy xấu hổ cho giới trí thức.
Trong cuộc săn phù thuỷ này có rất nhiều sắc thợ săn – kẻ vì danh, lợi, kẻ chỉ mong được tồn tại, được sống sót. Tôi cũng suýt chết. Những bài báo tôi viết có nói đến tình hữu nghị với Liên Xô, nước được coi là tên đầu sỏ xét lại bị đem ra mổ xẻ, lên án. Chỉ đến khi tôi đưa ra chứng cứ rằng bản quyền những câu chữ ấy không phải của tôi mà của các lãnh tụ đảng được tôi cóp pi nguyên văn thì những nhà phê phán, từ thư ký toà soạn tới chị đánh máy mới ngã ngửa người ra đành phải cho tôi trắng án.
Hiền lành như Kim Lân mà rồi cũng không thoát cuộc đấu tranh giữa hai đường lối một mất một còn để trở thành nạn nhân vì truyện ngắn Con Chó Xấu Xí. Tôi không nhớ ai là người đầu têu phê phán truyện Con Chó Xấu Xí. Trong những cuộc họp té nước theo mưa, bằng giọng cao đạo người ta nổ như pháo rằng Kim Lân là một tên xỏ lá có hạng, Kim Lân dám ví Đảng như ông chủ, còn trí thức là con chó. Cả nhà ông chủ hắt hủi con chó ghẻ lở gày còm, nó bị đạp, bị đá, nhìn thấy bóng người là nó len lét lủi như chạch. Chỉ đến khi nó hết bệnh, trở nên khoẻ mạnh, béo tốt, thân hình nể nang của nó hứa hẹn những đĩa luộc, đĩa dồi và nồi nhựa mận bốc mùi ngào ngạt, nó mới được mọi người hết lời khen ngợi. Con chó khốn khổ thì chỉ biết một mực trung thành với chủ, nó giữ nhà cho chủ khi chủ chạy Tây càn cho đến khi nó bị thương gần chết vẫn còn lết đến mừng chủ trở về. Miêu tả thân phận con chó còi cọc đói khổ trên nền xám của nông thôn Việt Nam Con Chó Xấu Xí là một truyện ngắn cực hay.
Như có một cái dớp, mọi tác phẩm mang tên các con vật như Văn Ngan Tướng Công của Vũ Tú Nam, Con Nai Đen của Nguyễn Đình Thi đều chịu chung số phận với Con Chó Xấu Xí. Tôi cũng không nhớ ai đã viết thế này về Văn Ngan Tướng Công: “Vũ Tú Nam ví đảng như con ngan, bay không biết bay, bơi không biết bơi, chỉ nỏ mồm cạc cạc”. Con Nai Đen, không bị đánh công khai, có lẽ do người ta còn chút nể nang ông chủ tịch Hội Nhà văn nhưng lời phê phán của Tố Hữu rằng tác giả đi chệch đường, lấy truyện xưa để nói nay, một thứ sáng tác bệnh hoạn được truyền miệng rộng rãi. Nguyễn Đình Thi và Vũ Tú Nam dù cùng gặp tai nạn với Kim Lân nhưng trước sau hai vị vẫn là ”người của đảng”, không được lũ viết văn trẻ chúng tôi coi là “người cánh ta”.
Tôi kể chuyện này để thấy tôi không lầm về Kim Lân.
Cũng như mọi người, ông sống thận trọng. Một hôm, từ nhà Thanh Châu ra về ông bảo tôi: “Này, ông phải cẩn thận đấy. Đỗ Nhuận vừa nói trong cuộc họp ở hội rằng Vũ Thư Hiên là một tên xét lại”.
“Xét lại” là một từ rất xấu, rất nguy hiểm. Người bị gọi là “xét lại” là người có thể bị nhiều tai ương không ngờ.
Tôi ngây thơ cứ nghĩ Đỗ Nhuận đối với tôi có tình. Chúng tôi hể hả khi gặp nhau, trò chuyện vui vẻ. Tôi quý tác giả bài ca Sơn La Âm U, Núi Khuất trong Sương Mù, Giải Phóng Điện Biên, Bộ Đội Ta Tiến quân Trở Về…Mới hôm trước anh còn rủ tôi đi cà phê Lâm Toét: “Thể nào ông cũng viết cho tôi một bài về nhạc kịch Cô Sao đấy nhá! Tôi thích cách ông viết. Ông phải “lăng-xê” nó cho tôi”.
Thêm một lần tôi hiểu con người có hai mặt hoặc nhiều mặt trong cái xã hội tôi đang sống.
Tôi cảm ơn Kim Lân đã nhắc nhở. Nhưng tôi không biết phải cẩn thận thì cẩn thận thế nào cho đủ.

Đừng nghĩ tới chuyện viết trong thời gian này – Kim Lân nói – Tôi cũng thế, tôi im. Hoặc tôi xuất bản bằng mồm.
Trong các truyện ngắn xuất bản bằng mồm của Kim Lân, có tôi, Thanh Châu và Hồ Dzếnh cùng nghe, có một truyện tôi đặc biệt nhớ: Thằng Câm. Truyện này rồi sau Kim Lân hoá ra cũng chẳng viết ra giấy. Nó chẳng được in ở đâu, cũng không nghe ai nói tới một bản thảo của Kim Lân có tên như thế.
Như mọi truyện của Kim Lân, truyện Thằng Câm rất đơn giản. Ở một hợp tác xã nông nghiệp nọ có một chàng trai ế vợ. Anh khoẻ mạnh, không đẹp trai, cũng không xấu xí. Nhưng anh bị câm bẩm sinh. Sau nhiều mai mối, cuối cùng một cô gái làng bên thuận lấy anh. Họ sống với nhau được một thời gian không dài. Cho đến một ngày, trong cuộc chấm điểm lao động của hợp tác xã, anh bất bình với cách chấm điểm mà anh cho là không hợp lý, anh ú ớ cãi lại. Vợ anh cũng không hiểu anh nói gì, cô dịch lời của anh sai, anh quát cô, anh la hét rầm rĩ, vung tay định tát cô ngay trong cuộc họp. Cô bỏ chạy, nước mắt ròng ròng. Đêm hôm đó, cô thu xếp quần áo cho vào tay nải, đợi anh ngủ say thì đi. Nhưng ra đến cổng, cô bịn rịn quay lại nhìn vào cửa sổ nơi anh nằm và giật mình: qua những chấn song cô nhìn thấy mặt anh thẫn thờ, tuyệt vọng, đau đớn. Anh vẫn thức, anh biết chị sẽ bỏ đi, anh không cản, anh chấp nhận số phận hẩm hiu của kẻ tật nguyền.
Chuyện chỉ có thế. Nhưng cách kể chuyện của Kim Lân làm người nghe rùng mình về tình người không nói ra.
Nếu nó được viết ra thì Thằng Câm chắc chắn sẽ là một truyện ngắn tuyệt vời. Kim Lân là phù thuỷ trong chuyện đời được viết thành văn.
Kim Lân nói về nghề văn:

Chữ nghĩa của ta thật hay. Nó có chữ “ngứa nghề”. Tôi đã hỏi các vị thần sầu tiếng Tây thì các vị ấy bảo trong tiếng Tây cũng không có chữ ấy. Ngứa thì phải gãi. Trong văn cũng vậy. có ngứa nghề mới viết được. Ngứa là thế nào? Là có một cái gì đó nhập vào ta, bắt ta phải chú ý đến nó, đòi ta phải suy nghĩ về nó, phải kiếm cách cho nó được bộc lộ ra. Lúc ấy là phải gãi, phải viết nó ra. Không ngứa mà gãi là không thành, là thành cái vô duyên
Rồi chúng tôi xa nhau một thời gian dài.
Trong xà lim cấm cố tôi nhớ nhiều thứ tôi bỏ lại bên ngoài. Tôi nhớ về vùng quê thời thơ ấu, của tôi, rồi tỉ mẩn ghi lại những gì tôi còn nhớ vào những mẩu giấy mà người tù bị biệt giam còn có thể có – giấy gói kẹo, vỏ bao thuốc lá… Những mẫu ghi chép ấy về sau này được mẹ tôi và các em tôi giấu giếm mang được ra ngoài, chép lại, để rồi sau này, như nhờ một phép màu, nó được in thành cuốn Miền Thơ Ấu.
Rồi Miền Thơ Ấu cũng đến tay Kim Lân.
Găp lại Kim Lân ở Sài Gòn, tôi nói với ông:

Viết về nông thôn tôi sợ nhất ông. Nông thôn dưới ngòi bút của ông mới là nông thôn đích thực.
Kim Lân ôm lấy tôi:

Tôi xúc động đọc Miền Thơ Ấu. Tôi là thằng nhà quê, viết chuyện nhà quê, bằng văn nhà quê. Còn ông là dân tỉnh, viết chuyện nhà quê bằng văn tỉnh. Khác nhau có thế thôi, ông ạ.
Đó là lần gặp gỡ cuối cùng của tôi với Kim Lân.
Ông đi, để lại trong tôi một trống vắng không thể lấp đầy.
8.2019

[1] Hoàng Xuân Nhị (sinh 1914), giáo sư khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đóng góp nhiều cho nền phê bình văn học xã hội chủ nghĩa, nhất nhất theo quan điểm bảo thủ mác-xít.

Nguồn: FB của nhà văn Vũ Thư Hiên

Thơ Nguyễn Bắc Sơn trở lại nhân 4 năm ngày mất của ông

Sách vừa ra mắt tháng 8-2019 – Ảnh: L.Điền

Thi phẩm của Nguyễn Bắc Sơn vừa trở lại với bạn đọc nhân kỷ niệm 5 năm ngày ông giã biệt văn đàn: Nguyễn Bắc Sơn – tác phẩm và dư luận được gia đình và bạn bè thực hiện.

Đây cũng là dịp tập thơ nổi tiếng của Nguyễn Bắc Sơn – Chiến tranh Việt Nam và tôi – được in lại toàn bộ, bên cạnh đó là loạt thơ rời ông làm từ sau 1972 đến cuối đời. Phần còn lại như một phụ lục, là bài viết của bạn bè, người hâm mộ và các chuyên gia nhận định về tác giả Nguyễn Bắc Sơn và tác phẩm của ông.

Nguyễn Bắc Sơn có thể xem là một “trường hợp thơ” phát lộ từ cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây là một loại “hệ quả nhân văn” kỳ lạ của chiến tranh, bởi nếu Nguyễn Bắc Sơn trưởng thành trong bối cảnh xã hội khác và không mất nhiều năm tháng tuổi xanh cho khói lửa đạn bom, hẳn chúng ta không có một nhà thơ viết về chiến tranh độc đáo như vậy.

Điều độc đáo khi được cộng hưởng sẽ trở thành đáng quý. Tròn 5 năm ngày ông mất, một tập sách đầy đặn mang lại cho khách yêu thơ hôm nay cơ hội được một lần nữa cùng thưởng thức những câu chữ ý tứ và tinh thần nhập thế của một người con vùng đất Bình Thuận nắng cát khô cằn.

Nguyễn Bắc Sơn chính là người sớm đưa những địa danh vốn lạ lẫm nơi vùng phía bắc Bình Thuận vào thơ. Những tên gọi Ma Lâm, Sông Lũy, Sông Mao, động Thái An, khu Lê Hồng Phong… gắn với chiến tranh khốc liệt một thời. Và bằng một cách tự nhiên, những nơi này hiện lên trong thơ Nguyễn Bắc Sơn với cách thế lãng mạn nhiều hơn là… cách mạng.

Bởi không ai viết về giờ phút trước khi vào trận bằng lời thoại phân công: “Khi tao đi lấy khẩu phần/ Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao“, và cũng chẳng có người lính nào trong trận mạc lại hồn nhiên thừa nhận: “Mùa này gió núi mưa bưng/ Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan“.

Và trong cuộc chiến với hệ lụy bộn bề cho nhiều phía ấy, Nguyễn Bắc Sơn có cơ duyên sống cùng sắc lính gồm những người Chăm. Có lẽ cho đến nay, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đủ để cắt nghĩa một cách ngọn ngành cụm từ “ý thức dân tộc” trong trường hợp các cộng đồng dân tộc thiểu số hiện diện trong chiến tranh Việt Nam.

Nhưng thật kỳ lạ, từ trong lúc chiến tranh hãy còn khốc liệt vào thời trước 1972, ông đã viết bốn câu thuật tả cái tình cảnh éo le mà cũng thật dễ thương ấy: “Đốt lửa đồi cao không thấy ấm/ Lính Chàm giận ghét Chế Bồng Nga/ Chiến chinh chinh chiến bao giờ dứt/ Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà?“.

Và có lẽ cũng chính chiến tranh Việt Nam đã dồn đẩy Nguyễn Bắc Sơn vào chỗ phải chiêm nghiệm sâu hơn với cuộc đời. Điều này có khác những thân phận người dân chung cuộc chiến ở chỗ: Chiến tranh dồn đẩy một nhà thơ sẽ làm bật ra những cấu tứ lạ. Với Nguyễn Bắc Sơn, cái lạ ấy chính là lắm khi tâm hồn ông thoát hẳn ra ngoài không khí chiến tranh để nói một cách dung dị về cuộc đời, về tình người. Thêm một lần nữa, sự dung dị của Nguyễn Bắc Sơn tưởng đùa chơi bỗng dưng trở thành triết lý cho nhiều thế hệ: “Vì đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên ta bảo mình thôi hãy quên em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đời ta nhớ nhớ quên quên”.

Và về ý niệm thời gian, có lẽ đây chính là đề tài quen thuộc của các dòng văn thơ viết về chiến tranh. Nguyễn Duy từng khắc họa thời gian qua mái tóc người lính thật tài tình: “Có người ngủ thế thành quen/ Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình”. Thì ở đây, Nguyễn Bắc Sơn cũng thực sự đóng góp cho gia tài thơ Việt hai câu độc đáo: “Dù mỗi ngày ta xé đi năm mười tờ lịch/ Nhưng thời gian đâu có chịu trôi nhanh”, một lối nói tự nhiên mà thành riêng một giọng điệu giữa muôn trùng chữ nghĩa.

Và quãng đời nhà thơ sau cuộc chiến cũng hiện diện trong tập sách lần này. Không còn thấy bóng dáng chiến tranh, những vần thơ Nguyễn Bắc Sơn chiêm nghiệm cuộc đời thời hậu chiến vừa chính là nỗi lòng chia sẻ với tiền nhân: “Nguyễn Du cười khóc văn chương lạnh/ Thúy Kiều chìm nổi một dòng sông/ Đã biết phận người là khổ lụy/ Sao còn đứt ruột giữa mênh mông”, vừa là nỗi ưu tư của một kẻ làm thơ đặt mình vào trong chỗ vô cùng của nhân loại: “Tiếc loài người bày ra xích xiềng huyễn mộng/ Đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên/ Câu chuyện tình như ngọn gió miên miên/ Thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch”.

Lam Điền

Võ Đắc Danh và nỗi ám ảnh quê nhà

Ảnh: Lam Điền

Trong chiều hướng không dứt khỏi sự quan tâm đến quê nhà, tác giả Võ Đắc Danh cho biết toàn bộ doanh thu từ tập sách Chuyện đời chuyện nghề này sẽ được dùng để xây cầu nông thôn và sản xuất bộ phim tài liệu “Hành trình cây lúa Việt Nam”

Cái khái niệm “quê nhà” của Võ Đắc Danh, xem chừng khó cắt nghĩa cho rành rẽ lắm. Nếu ai để ý đến những bài viết bên dưới ký ba chữ Võ Đắc Danh từ hồi trước năm 2000, sẽ thấy ở đó đã có ý niệm về quê nhà rất rõ; nhưng tiếp đến sau này, và mãi đến gần đây khi mạng xã hội facebook ra đời, những bài viết của Võ Đắc Danh cũng không thoát được cái ấn tượng quê nhà, có điều khái niệm ấy dần dần ngấm vào câu chữ, ngấm vào suy nghĩ, thổn thức trong hơi văn của tác giả… Nên gọi đó là nỗi ám ảnh quê nhà cũng không phải quá đáng.

Nhiều năm trước, anh kể câu chuyện chính anh đã đem bộ nhau thai khi sinh con ngâm rượu uống để ý niệm “chôn nhau cắt rún” được chuyển hóa vào trong lòng người. Như vậy thì, quê nhà trong văn Võ Đắc Danh không còn khuôn hẹp trong một vùng một xứ một miền nào nữa.

Như trên trang cá nhân anh từng giới thiệu, ở tập sách mới ra mắt lần này, anh vẫn dùng dòng cước chú “Tự sự của một người nông dân cầm bút”, đó chẳng phải cũng là một nỗi ám ảnh hay sao?

Năm xưa lúc mới đi làm báo, ai đó bên nxb Trẻ đưa cho quyển Nỗi niềm U Minh hạ kêu tôi đọc. Đó là lần đầu chú ý đến văn của Võ Đắc Danh. Sau đó thì thường đọc anh, trên báo Văn Nghệ trung ương, và thỉnh thoảng lại thấy anh ra sách. Nhớ khoảng năm 2001 đi cùng nxb Trẻ có cả nhà văn Sơn Nam và Vũ Đức Sao Biển làm một chuyến rong ruổi miền Tây, điểm cuối là Cà Mau với chương trình đinh là gặp gỡ Nguyễn Ngọc Tư và Võ Đắc Danh. Chẳng hiểu tự lúc nào, khi gặp Võ Đắc Danh tôi cứ nhìn nhìn vào mặt anh, dường như vô thức. Bởi tự đâu đó trong suy nghĩ của mình, tôi muốn nhìn rõ hơn ở anh một chút, bởi nếu chỉ qua lời văn, tôi không biết làm sao lại có người chứng kiến mấy câu chuyện đời hay quá vậy. Năm đó xuống Cà Mau cả đoàn ở khách sạn, Võ Đắc Danh đêm đó cũng bỏ nhà ra khách sạn để nằm chung phòng trò chuyện với ông già tía Sơn Nam. Và vì ông Sơn Nam với tôi ở chung phòng, nên cả ba bèn nói chuyện trên trời dưới ruộng. Cũng cái đêm đó, tôi phát hiện ra nhà văn Sơn Nam thích thơ Đường, nhưng ông già không nhớ thơ, tôi bèn mở van đọc một mớ thơ Đường làm ông khoái quá, cứ nói tao nhớ ở nhà trên Sài Gòn còn một quyển thơ Đường của Tản Đà dịch, khi nào mày ghé, tao cho mày. Hehe

Anh Võ Đắc Danh đêm đó cũng nhiệt tình nói chuyện văn thơ, đến hồi tôi nhắc mấy câu thơ “gió không phải là roi mà vách núi phải mòn/ em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím” để bảo rằng Việt Nam có mấy câu thơ về biển thiệt hay, thì anh nói đó là tài thơ của Xuân Diệu. Tôi bảo, đâu có, mấy câu đó của Hữu Thỉnh chớ. Anh cãi, Hữu Thỉnh sao làm được thơ hay như vậy. Tôi nói, Hữu Thỉnh làm bao nhiêu cái dở em không biết, nhưng chẳng may bài Thơ viết ở biển có mấy câu ấy là của y mà. Hehe. Võ Đắc Danh cũng không chịu, anh kêu ông già tía Sơn Nam làm trọng tài, nhưng ông già tía chỉ hút thuốc cười cười. Giờ nghĩ lại hồi đó chưa có giáo sư Google, chẳng phải là một thiệt thòi cho mấy trường hợp nhậu say rồi nhớ thơ quên thơ loạn xạ cả hay sao? Vậy chớ anh em vẫn vui lắm, thấy tôi nhìn nhìn hoài, anh nói mày nhìn cái gì, chiều mai chạy về nhà tao cho biết. Đó là lần đầu tiên tôi ghé nhà Võ Đắc Danh ở thành phố Cà Mau.

Và sau lần gặp nhau ở buổi ra mắt sách Người Sài Gòn bất đắc dĩ hồi năm kia, đến nay vẫn chưa gặp lại anh Võ Đắc Danh. Bây giờ lật mấy trang sách anh mới in, bắt gặp câu chuyện anh kể chi tiết ông già anh có biệt tài bắt ếch mà dân trong vùng ai cũng thán phục vì không ai làm được: đó là giả tiếng ếch kêu quệt quệt để ếch đến bu quanh rồi chỉ việc bật đèn lên tóm lấy từng con. Mà đâu chỉ có thế, còn biệt tài giăng câu của ông già anh nữa, ông thuộc lòng tánh nết từng loại cá thích ăn mồi gì và cả cách ăn như thế nào, để khi giăng câu bắt cá trê vàng là chỉ bắt đúng cá trê vàng trăm con không trật. Những câu chuyện đó hồi ông già anh còn sống, tức anh chưa tới mười tuổi đầu, vậy mà anh vẫn nhớ như in, đó chính là lý do khiến tôi lại muốn gặp anh, nhìn nhìn vào khuôn mặt anh, để tìm xem có điều gì đặc biệt lộ ra nơi diện tướng anh cho thấy Võ Đắc Danh là một người thú vị như vậy hay không.

Chứ còn quê nhà trong những trang văn của anh thì phải nó là quá nhiều cung bậc thú vị. Anh gọi tên tập sách là Chuyện đời chuyện nghề, ý chừng anh chỉ nói xoay quanh các chuyện của mình. Nhưng hóa ra cái hoàn cảnh của anh, của dòng tộc anh, của xứ sở anh… lại là một loại điển hình của dân, của nước. Sự trôi giạt từ đời ông, cha anh chèo ghe bồng trống nhau đi khai khẩn dựng nhà đứng chân trên đồng chó ngáp đến khi trằn mình chịu binh lửa chiến tranh, nội ngoại họ hàng có 49 liệt sĩ mà riêng nhà anh đóng góp ba người là ba cha con ruột thịt của anh.

Đọc Võ Đắc Danh trong tập này có những đoạn viết về không gian thời thơ bé thật vui và đặc biệt đậm chất miền tây. Những câu chuyện đan rập bắt cua, lượm trứng le le trong đồng, đốt cả mẫu đồng cỏ năn để lùa chuột, đan lá dừa nước thành những chiếc “cách” để đi săn tìm những sản vật từ đồng cỏ… lại gợi nhớ đến những “Giấc mơ ông lão vườn chim”, “Mùa con cúm núm kêu”, “Bắt sấu rừng U Minh hạ”… từng đóng đinh trong trí nhớ nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam về sản vật miền Tây.

Nhưng nếu chỉ vậy thôi thì hình tượng quê nhà trong văn Võ Đắc Danh không đủ thành ám ảnh. Đọc, thấy quê hương tác giả qua đủ loại thăng trầm, thấy tác giả là người bước ra từ đất mặn đồng chua và dường như mãi mãi vẫn không dứt được mối tình với đất với người nông dân vẫn còn lam lũ. Tác giả chỉ kể chuyện mình, nhưng càng đọc, càng thấy thương dân mình quá. Nhà văn có biệt tài không mở miệng nói thương ai, anh chỉ tỉnh khô kể chuyện chiến tranh tràn qua những thân phận cơ cực nghèo xơ xác nhưng một lòng quyết giữ đất và nghe theo lời những người kêu họ cùng giữ gìn đất nước. Để rồi đến chừng hết giặc, những người dân quê anh bỗng chứng kiến đến cây củi đước họ cũng không còn được sử dụng nữa. “Củi đước được đổi tên gọi thành “chất đốt” do nhà nước độc quyền quản lý… dân nông thôn thì quơ luộc sạp các loại cây tạp trong vườn, dân chợ thì chuyển sang các lò mạt cưa, nhà giàu thì mua củi lậu với giá cao” (Đi qua thời niên thiếu). Chỉ một chuyện củi thôi, mà thấu cả thế thái nhơn tình đắng cả quê hương qua mấy hồi dâu bể.

Thế cho nên, viết giới thiệu về Võ Đắc Danh ắt sẽ thừa, chi bằng để bạn đọc tự mình chiêm nghiệm qua trang văn của anh. Có điều nhân dịp này anh in lại câu chuyện về tác phẩm Kính thưa nhà thơ Trần Mạnh Hảo từng chấn động làng văn làng báo cả nước hồi năm 2002 – 2003, cũng để cho những ai chưa nắm bắt được dịp đọc lại một câu chuyện ly kỳ về hệ lụy anh phải gánh chịu từ trang viết của mình. Nhưng qua đó lại nhận chân được biết bao nhân cách, tình người và cả thói đời… Nhưng đây chỉ là tập 1 thôi, Chuyện đời chuyện nghề của Võ Đắc Danh còn hứa hẹn bạn đọc ra thêm tập 2 nữa.

Lam Điền

Việt Nam trong cái nhìn của học giả quốc tế

Đề tài Biển Đông tạo sức nóng tại Hội thảo Việt Nam học lần 4

Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ tư 2019 vừa diễn ra ngày 26-7 tại Đại học KHXH&NV TP.HCM là một dịp nữa để học giả trong nước và quốc tế cùng ngồi với nhau nhìn lại Việt Nam trong nhiều chiều kích.

Nếu xem sự xuất hiện của Việt Nam trong thế giới hiện đại bắt đầu từ những nhà du hành và các nhà truyền giáo từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, thì đó là những nhà “Việt Nam học” đầu tiên hiểu theo nghĩa đặt Việt Nam trong cái nhìn của thế giới hiện đại.

Từ bấy đến nay, Việt Nam học là một khái niệm được hình thành qua lịch sử, theo đúng nội hàm của từ khoa học: đi từ cái chưa biết đến biết, đi từ hiểu sai đến hiểu đúng đắn hơn. Mặc dù hội thảo chưa có sự góp mặt đông đảo của các học giả đến từ Âu, Mỹ, nhưng 119 tham luận của các tác giả là chuyên gia của nhiều lĩnh vực cả trong nước và từ nhiều nền học thuật uy tín như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan cho thấy mức độ quan tâm của học giới các nước đến Việt Nam hiện nay.

Biển Đông và địa chính trị Việt Nam

Hội thảo Việt Nam học lần này xuất hiện tại tiểu ban “Lịch sử – xã hội Việt Nam” một tham luận về đề tài biển đảo của TS Lưu Hồng Sơn: Một số nghiên cứu của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông liên quan đến Việt Nam. Đây là nội dung có tính thời sự, tác giả người Việt chọn cách tiếp cận từ phía các học giả Trung Quốc “đã viết gì” về Biển Đông liên quan đến chủ quyền của Việt Nam. Trong khuôn khổ một tham luận, Lưu Hồng Sơn đã khảo sát các bài viết thể hiện quan điểm của 4 nhóm tác giả Trung Quốc: Vu Hướng Đông – Hác Hiểu Tĩnh, Lý Tuệ, Lư Huyên, Khương Dân Chân. Theo đó, các học giả Trung Quốc có theo dõi tình hình học giới Việt Nam nghiên cứu về đề tài Biển Đông, thể hiện qua việc họ có đọc các tác giả Việt Nam nghiên cứu về đề tài này như: Phạm Hoàng Quân, Trần Trường Thủy, Quốc Pháp, Phương Loan, Vũ Cao Phan…

Các tác giả Trung Quốc một mặt cho rằng bản thân các công trình nghiên cứu của học giới (lĩnh vực học thuật) cũng góp phần mang lại luận chứng luận cứ cho phía Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền (lĩnh vực chính trị), một mặt các học giới cũng bày tỏ thái độ cực đoan, tiêu biểu như Lý Tuệ (Li Hui) cho rằng: Việc biến đường chín đoạn (Việt Nam còn gọi là đường lưỡi bò – LĐ) thành đường biên giới của Trung Quốc là rất khó, nhưng “không có nghĩa là không thể được”, và tác giả này đề xuất luôn phương pháp để Trung Quốc hiện thực hóa việc ấy.
Về nội dung này, TS Lý Vĩnh Long (Lee Yung-lung) của đại học Tịnh Nghi (Đài Loan) chia sẻ rằng hiện nay học giới Trung Quốc cũng có nhiều thái độ về vấn đề Biển Đông, và rằng tài liệu về đề tài này có rất nhiều nguồn từ Trung Quốc, phía Việt Nam có thể tiếp cận thông qua các nơi như đại học Hạ Môn, Nam Kinh, Hải Nam, và đặc biệt là các văn kiện liên quan đến chủ quyền Biển Đông từ thời Trung Hoa Dân Quốc mà hiện ông biết là Đài Loan còn lưu giữ rất nhiều.

TS. Lưu Hồng Sơn cho rằng trước tình hình như vậy, học giới Việt Nam cần tăng cường đối thoại khoa học với học giả Trung Quốc về đề tài này, tăng cường công bố quốc tế các công trình khoa học về chủ quyền biển đảo. Đặc biệt, ông Sơn còn đề xuất hai hướng tiếp cận quan trọng: “Yêu cầu tòa án quốc tế hữu quan có biện pháp hữu hiệu, mạnh mẽ hơn trong việc xử lý các hoạt động ngang ngược, phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông; và kêu gọi sự ủng hộ, đồng tình của dân chúng trong nước và cộng đồng quốc tế, gây áp lực buộc Trung Quốc phải tuân thủ các quy tắc ứng xử chung có văn minh về biển”.

Việt Nam được tìm hiểu rất sâu

Đó là cảm nhận chung của nhiều chuyên gia khi dự hội thảo Việt Nam học. Chính điều này tạo nên một không khí học thuật: niềm thích thú khám phá các đề tài khoa học từ học giới trong và ngoài nước.

Ở nhiều lĩnh vực, có tiếp xúc mới biết những nhà Việt Nam học nước ngoài thực sự có công phu tìm hiểu và đạt mức độ am hiểu Việt Nam đáng kể. Như GS. TS. Shimizu Masaaki (Đại học Osaka – Nhật Bản) trình bày một đề tài gây ngạc nhiên cho không ít người: Việc dạy tiếng Việt tại Nhật hồi thế kỷ 18 đến thế kỷ 20. Không những chỉ ra một thực tế đáng kiêu hãnh là sự phát triển của tiếng Việt trong cộng đồng Nhật Bản từ rất lâu xa, mà tham luận của GS Shimizu Masaaki còn cho thấy học giới Nhật Bản như ông đã nghiên cứu tiếng Việt sâu sắc kỹ càng, so sánh đối chiếu đến cách phát âm của từng âm tiết tiếng Việt và tiếng Nhật giống và khác nhau ra sao…

Nếu không nghe công bố những công trình như vậy, ngay cả học giới trong nước cũng chưa chắc đã biết được thực trạng “người ta nghiên cứu mình kỹ đến thế nào”.

Ở lĩnh vực lịch sử – xã hội, GS. TS. Lee Yung-lung (Lý Vĩnh Long) trình bày đề tài “Một số công bằng phân phối ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp” có sức nóng và nhiều gợi ý cho giới báo chí truyền thông. Bởi ở đây, GS Lee đã mạnh dạn đặt vấn đề về công bằng trong phân phối tư liệu sản xuất, phúc lợi xã hội, và lưu thông hàng hóa tại Việt Nam hiện nay. Vấn đề công bằng được ông nêu thẳng thắn: “Một số doanh nghiệp như FLC và Vinhome đã trở thành “những địa chủ thời hiện đại” về tài nguyên và tư liệu sản xuất, dẫn đến thao túng một phần rất lớn tư liệu sản xuất, mà đúng ra cần được minh bạch trong đấu thầu”.

Còn nhiều vấn đề như ngân hàng, câu chuyện nông thôn mới… được GS Lee đề cập, là gợi ý rất sâu để các nhà Việt Nam học trong nước tìm thấy một hướng tiếp cận lẽ ra là sở trường của mình về đề tài Việt Nam hiện thực.

Từ trong nước, TS Nguyễn Thị Quốc Minh có tham luận về “Chương trình giáo dục miền Nam 1954 – 1975: Triết lý “Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng” từ mơ ước đến hiện thực”, là một công trình có tính giới thiệu rằng chúng ta từng có một nền giáo dục “độc lập tương đối với chính thể… hàng triệu người đã được đào tạo, trong đó có không ít nhân tài”, để học giới nước ngoài và cả những nhà Việt Nam học hôm nay chiêm nghiệm…
Và như vậy, đề tài Việt Nam học chắc chắn sẽ không dừng lại trong bối cảnh toàn cầu hóa đang mang các nhà khoa học đến gần nhau hơn. Nói như PGS. TS. Lê Giang: “Các nhà Việt Nam học đã tìm hiểu Việt Nam, đã tạo dựng hình ảnh Việt Nam – bằng các công trình khoa học, để Việt Nam ngày càng được hiểu đúng hơn, sâu hơn trong thế giới năm châu – một thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa và sâu sắc, mà Việt Nam đang hòa mình trong ấy, đang đóng góp những giá trị của mình trong quá trình ấy”

Lam Điền

Box:
Sáng kiến của Hội thảo Việt Nam học lần thứ 4 – 2019 này là vận động thành lập Ban Liên lạc các nhà Việt Nam học quốc tế, với mục đích gắn kết với nhau, trao đổi thông tin và nếu được, hằng năm Việt Nam sẽ vận động thu thập bài vở để ấn hành một đặc san về Việt Nam học phát hành rộng trong học giới các nước.

Chú thích ảnh:
– Shimizu: Giáo sư Shimizu đang trình bày tham luận về lịch sử giảng dạy tiếng Việt tại Nhật Bản trong phiên toàn thể – Ảnh: L.Điền

ĐẤT THỦ THIÊM

Tôi đọc kết luận của Thanh tra Chính phủ về những sai phạm ở Thủ Thiêm trong trạng thái hồi hộp và hy vọng. Nhưng cuối cùng thì sao ? Xin quý vị đọc lại toàn bộ bài viết dưới đây và lên google tìm đọc toàn văn kết luận của Thanh tra CP về ĐẤT THỦ THIÊM để hiểu thêm, tôi xin không tranh cải.

ĐẤT THỦ THIÊM
Bút ký của Võ Đắc Danh

I: GIẤC NGỦ BA TRĂM NĂM
Tôi đã bỏ ra một thời gian để sưu tầm tài liệu liên quan đến lịch sử vùng đất Thủ Thiêm, nhưng hầu như không tìm thấy tư liệu nào để có thể gọi là ” bề dầy lịch sử ” của vùng đất nầy ngoài một vài trận chiến thời kỳ nhà Nguyễn cùng với những cuộc di dân cũng từa tựa như những cuộc di dân trên vùng đất phương Nam.
Song, điều đáng ngạc nhiên mà chưa thấy nhà nghiên cứu nào lý giải rằng vì sao chỉ cách trung tâm Sài Gòn có vài ba trăm mét bởi một con sông mà Sài Gòn – ngay từ khi chiếm được Nam kỳ, người Pháp đã muốn biến Sài Gòn thành Hòn Ngọc Viễn Đông để cạnh tranh với các nước thuộc địa của Anh trong khu vực.
Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế ký 20, dọc theo bờ sông Sài Gòn, cùng với thương cảng Bến Nghé, Bạch Đằng, hàng loạt công trình nguy nga đã được mọc lên trên đường Catinat ( Đồng Khởi ), Kênh Lớn ( Nguyễn Huệ ), Kênh Xáng ( Hàm Nghi ) . . . rồi đến nhà thờ Đức Bà, nhà hát Lớn, chợ Bến Thành . . . Sài Gòn đã trở thành thủ phủ của Đông Dương. Nhưng bên kia sông, cách Sài Gòm chỉ vài ba trăm mét, Thủ Thiêm như một vùng đất bị lãng quên.
Hai mươi năm với hai nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Sài Gòn đã trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông thì bên kia sông Sài Gòn, Thủ Thiêm vẫn như một vùng đất bị lãng quên.
Sau năm 75, gần một phần ba thế kỷ, Sài Gòn phát triển khá rầm rộ với những khu đô thị mới mọc lên ở ngoại thành, những tòa nhà cao tầng mọc lên ở ven sông Sài Gòn, nhưng phía bên khia sông, Thủ Thiêm vẫn như một vùng đất bị lãng quên.
Có thể nói, trong lịch sử ba trăm năm hình thành và phát triển Sài Gòn, Thủ Thiêm như bị chìm trong giấc ngủ ba trăm năm. Rồi bỗng một ngày, Thủ Thiêm thức dậy, vội vã khoác lên mình chiếc áo đô thị mới còn dở dang trong tiếng khóc than, rên rỉ xé lòng của người dân mất nhà mất đất . . . Và, chiếc áo ấy sẽ còn dở dang, nham nhỡ cho đến bao giờ ?
Tôi nhớ cách đây gần hai mươi năm, một cô bạn đồng nghiệp kể chuyện vừa đi chơi Thủ Thiêm mới về, tôi ngồi nghe mà cứ hình dung như cô đang kể về một vùng đất xa xôi nào đó ở miền tây nam bộ, rằng cô thuê một chiếc xuồng chèo đi len lỏi trong những con rạch hoang vu, mênh mông dừa nước, mắm, bần, cóc kèn, ô rô, cỏ lác, có cả những đám lúa ma, cô gặp nhưng người dân đi săn chuột đồng, cắm câu, giăng lưới, đặt lờ đặt lọp, làm ruộng, nấu rượu, nuôi heo. . . Rồi cô kết luận: Cách trung tâm Sài Gòn chỉ một dòng sông mà Thủ Thiêm giống như một miền cổ tích.
Nhà văn Sơn Nam được xem là Nhà Nam Bộ Học, nhưng trong cuốn sách Bến Nghé Xưa dầy 240 trang, ông chỉ dành cho Thủ Thiêm mấy dòng ngắn gọn: “ Bên kia sông, chợ Thủ Thiêm ở làng An Lợi ( thành lập chánh thức vào năm 1751 ), sau tách ra thêm làng An Lợi Đông, phía lưng giáp với Giồng Ông Tố chuyên ruộng nương và vườn tược, muốn qua Sài Gòn phải nhờ “con đò Thủ Thiêm”.
Có lẽ vì sự ngủ yên của Thủ Thiêm không có gì cần thiết để ông nghiên cứu chăng ? Nhưng tôi chú ý cụm từ “con đò Thủ Thiêm” mà nhà văn Sơn Nam dùng co chữ nghiêng và đặt trong ngoặc kép.
Ầu ơ . . . Bao giờ Chợ Quán hết vôi
Thủ Thiêm hết giặc em thôi đưa đò
Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Nói là nói vậy, nhưng “con đò Thủ Thiêm” vẫn tồn tại đến hơn ba mươi năm kể từ ngày “Thủ Thiêm hết giặc”.
Cụm từ “con đò Thủ Thiêm” như là một thuật ngữ, một hình ảnh, một dấu ấn văn hóa mang tính đặc trưng của một vùng đất. Chưa có tài liệu nào cho biết “ con đò Thủ Thiên” ra đời vào thời điểm nào, cũng có thể là vài trăm năm, trước khi có chợ Thủ Thiêm ( 1751 ), nghĩa là khi những cư dân đầu tiên trên vùng đất nầy có nhu cầu đi lại giữa hai bờ sông. Ngay cả cái bến đò Thủ Thiêm, người ta chỉ xác định được thời gian qua một dấu chấm trên tấm bảng đồ Environs de Saigon do chính quyền Nam kỳ vẽ vào năm 1911 để căn cứ vào đó như cái mốc lịch sử của bến đò.
Một tài liệu nghiên cứu tổng hợp về Thủ Thiêm cho biết, trước năm 1975, bến đò Cây Bàng có 127 chiếc đò, bến đò An Lợi Đông có hơn 60 chiếc, bao gồm đò dọc, đò ngang, đò chèo, đò máy. Chúng ta chưa có số liệu để so sánh rằng có bến sông nào trên đất nước nầy mà số lượng đò nhiều như Thủ Thiêm chăng ?
Lịch sử thăng trầm của một bến đò qua bao thế kỷ, bao nhiêu thế hệ đưa đò, bao nhiêu thế hệ khách sang sông, bao nhiêu đời người mỗi ngày qua lại, bao nhiêu xác con đò đã qua đời, vùi lấp dưới đáy sông . . . !
*
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tín với bút ký Đi Chơi Thủ Thiêm đăng trên báo Người Lao Động Cuối Tuần phát hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, kể rằng, anh đến Thủ Thiêm lần nầy là lần thứ hai, lần thứ nhất vào đầu thập niên 80, lúc bấy giờ “ con đường Lương Định Của còn là con đường độc đạo chạy một mạch lên ngã ba Cát Lái, không còn đường nào cắt ngang, với đất đỏ và ngổn ngang ổ gà, xe đạp phải men theo lề đường. Hai bên đường trống trơn toàn đất bãi với bần, đế, cỏ lác . . .”. Đất Thủ Thiêm vào những năm nầy người ta sang nhượng cho nhau với đơn vị tính là công và mẩu, nhưng đến những năm cuối thế kỷ 20 bước qua đầu thế kỷ 21, khi dư luận râm ran về đại lộ Đông – Tây và đường hầm Thủ Thiêm thì đơn vị tính của đất chuyển từ công, từ mẩu sang mỗi mét vuông, và theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Trọng Tín thì lúc bấy giờ, tức thời điểm năm 2001, đất trên đường Lương Định Của đã lên đến ba triệu đồng một mét vuông.
Cách nay chưa lâu, khi câu chuyện về Đất Thủ Thiêm bùng nổ trên báo chí và mạng xã hội, đầy vẩy những hình ảnh với âm thanh gào khóc của những người dân mất đất, tôi đem câu chuyện về giấc ngủ ba trăm năm của Thủ Thiêm ra trao đổi với một người bạn, anh nầy vốn là cử nhân Phật học, một nhà phong thủy có uy tín, sau khi tốt nghiệp ở học viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam, anh không đi tu mà ra làm kinh doanh ngành in và nghiên cứu về phong thủy, anh ngồi trầm ngâm nghe tôi kể về giấc ngủ của Thủ Thiêm bên cạnh ba trăm năm hình thành và phát triển của Sài Gòn, anh kết luận một câu ngắn gọn: Vậy là đất Thủ Thiêm chắc chắn có vấn đề về phong thủy.
Thật tình, tôi không rành và cũng không quan tâm tới vấn đề phong thủy, chỉ luôn đặt câu hỏi trong đầu vì sao cách Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông chỉ một con sông 300 mét mà Thủ Thiêm vẫn chìm trong giấc ngủ ba trăm năm ? Câu hỏi ấy đã thúc bách tôi lao vào tra cứu, tìm kiếm những tài liệu liên quan đến Thủ Thiêm, nhưng cuối cùng, đến giờ nầy vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng. Trong những ngày lang thang qua Thủ Thiêm, tiếp cận với những người dân kêu cứu vì mất đất, đầu óc tôi càng căn thẳng, cứ lảm nhảm như một thằng điên, gặp ai, ngồi với ai cũng kể chuyện Thủ Thiêm như nỗi oan ức của chính mình. Một hôm, thằng em tôi nói: Hồi xưa, ông Nguyễn Tấn Đời có một dự án về Thủ Thiêm nhưng không thành. Tôi hỏi tài liệu đó ở đâu ? Nó nói tôi quên rồi. Gần suốt một đêm, theo đường dẫn của Google, tôi đọc gần hết những câu chuyện về Nguyễn Tấn Đời nhưng không hề tìm thấy cái dự án của ông về Thủ Thiêm, buộc lòng sáng hôm sau tôi phải nhờ “500 anh em trên facebook”. Và như một cơ duyên, chị Mai Lan, cựu phóng viên báo SGGP nhắn tin bảo tôi qua nhà chị lấy cuốn Hồi Ký Nguyễn Tấn Đời.
Có lẽ trong chúng ta, không ít người biết về cuộc đời và sự nghiệp của tỷ phú Nguyễn Tấn Đời. Ông xuất thân từ một gia đình địa chủ ở Long Xuyên, nhưng khi được giao cho cai quản điền địa, ông đã đứng về phía tá điền để chống lại cha mình và bỏ nhà đi theo Việt Minh. Rồi vì một chuyện bất đồng với người chỉ huy, ông bỏ ngũ. Năm 1945, toàn bộ ruộng đất và tài sản của gia đình ông bị Cách mạng tịch thu, bản thân ông bị kết án tử hình vì tội đào ngũ. Ông bỏ trốn lên Sài Gòn với hai bàn tay trắng. Từ cuộc mưu sinh bằng công việc làm môi giới vật liệu xây dựng, ông trở thành chủ hãng gạch bông Đời Tân, vua cao ốc và trùm Ngân hàng Tín nghĩa. Nhưng rồi không hiểu vì sao, ông bị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tổ chức ám sát hụt chết hai lần rồi bị bắt giam, tịch thu gia sản cùng với cả hệ thống Tín nghĩa Ngân hàng. Năm 1975, ông vượt biên sang Canada với hai bàn tay trắng. Ở đây, ông bắt đầu gầy dựng lại cơ nghiệp và lại thành công với chuỗi nhà hàng Kobe từ Canada sang Bắc Mỹ. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 1995 tại Orlando, bang Florida, Hoa Kỳ, thọ 73 tuổi. Cuốn hồi ký ông xuất bản cũng tại Florida vào năm 1988, dầy 310 trang, trong đó ông dành hơn 5 trang để kể tóm tắt về dự án Mỗi Người Dân Một Mái Nhà như sau:
“ Sau khi thành công trên đường sự nghiệp, một ngày đẹp trời nọ, tôi đứng trên cao ốc, tầng 12 của Président Hotel 727 đường Trần Hưng Đạo Saigon. Nhìn quanh tứ phía, tôi thấy nhà cửa dân nghèo ở Thủ đô được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông hay Saigon Hoa Lệ, người dân đang sống trong các chòi ọp ẹp, sình lầy, tối tăm, bẩn thỉu . . . Tôi chạnh lòng nhớ đến những tá điền quen thuộc xưa kia, họ mộc mạc, hiền lương, đầy tình người và thật thà, giản dị . . . Cũng tự nghĩ, dù tôi có làm giàu đến đâu đi nữa, chỉ được tiếng giàu có như “Thạch Sùng”, cũng chỉ ngày ba bữa ăn mà thôi, rồi khi chết, chỉ còn hai bàn tay trắng với một nấm mồ ở lòng đất lạnh.
Nay tôi đã giàu có rồi, dư ăn dư để, thử hỏi tại sao tôi phải tiếp tục làm giàu thêm để sống một nếp sống ích kỷ, không nghĩ đến kẻ bất hạnh nghèo khó, chân lấm tay bùn, họ chỉ vì an ninh mà bỏ nơi chôn nhau cắt rún, bỏ ruộng vườn, nhà cửa cũng vì chiến tranh, họ tìm nơi lánh nạn, nên đã chịu chui rúc như ổ chuột.
Vậy tôi phải làm gì, trước để giúp người dân, sau để lòng mình được an vui thanh thản, còn để lại tiếng tốt cho mai sau, hơn là cứ dấn thân vào tiền tiền, bạc bạc mãi.
Đắn đo suy nghĩ mãi, rôi cũng tìm ra được một chương trình “ Mỗi Người Dân Một Mái Nhà” mà không tốn tiền công quỹ quốc gia”
Theo Nguyễn Tấn Đời, chương trình “Mỗi Người Dân Một Mái Nhà” của ông được phác thảo với nhiều dự án trải dài từ các quận ngoại thành đến vùng ven đô thị của các tỉnh miền Nam. Giải pháp ông đưa ra là mua đất của dân theo giá cả hiện hành, quy hoạch thành các trung tâm thương mại và khu đô thị sang trọng, bao gồm những khu nhà song lập, biệt lập và nhà liên kế để kinh doanh, tạo ra nguồn quỹ để xây những khu nhà bình dân cấp không cho người nghèo.
Nguyễn Tấn Đời chọn Thủ Thiêm để thiết lập dự án đầu tiên cho chương trình Mỗi Người Dân Một Mái Nhà. Theo dự án nầy, ông sẽ mua 500 mẩu đất từ bến đò Thủ Thiêm lên Cát Lái. Ngay chỗ bến đò Thủ Thiêm, ông sẽ cho xáng múc con kinh chiều ngang 30 mét, sâu 25 mét, dài 500 mét ăn sâu vô đất liền. Ở đoạn cuối con kinh, ông cho làm cái hồ nhân tạo, ngang 500 mét, dài 1.000 mét, sâu 15 mét, dùng xáng thổi đất lên bốn phía bờ hồ để san lấp mặt bằng. Xung quanh bờ hồ và dọc theo hai bờ kinh, ông xây dựng thành khu thương mại, đồng thời, xây dựng những khu nhà biệt lập, song lập để kinh doang, tạo nguồn quỹ để xây dựng những khu nhà bình dân lân cận, cấp không cho người nghèo. Trong khu nhà bình dân sẽ có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật, đường xá, điện nước, cây xanh, đầy đủ tiện nghi phục vụ cho đời sống. Theo ông, Thủ Thiêm sẽ là một Saigon mới, một Hongkong thứ hai, có bến phà lớn, có xe bus qua lại liên tục cho người dân đi về với Saigon, Chợ Lớn để mưu sinh, có bến tàu thương mại để vận chuyển hàng hóa từ các tỉnh và ngược lại. Khu thương mại chung quanh bờ hồ và hai bên bờ kinh được ăn thông với sông Saigon để ghe thương hồ mang hàng hóa trực tiếp đến người tiêu thụ, giảm bớt trung gian. Hồ nhân tạo ngoài vai trò cảnh quan và giao thương còn là nơi sinh hoạt lễ hội với các hoạt động văn hóa tượng trưng cho miền sông nước. Trên các đường phố, mỗi lề đường sẽ được trồng mợt loài cây riêng biệt và giao cho từng gia đình chăm sóc, hàng năm tổ chức cuộc thi cây đẹp trong từng khu phố và cây đẹp trong toàn vùng để trao giải thưởng để khuyến khích người dân tham gia làm nên vẻ đẹp của thành phố.
Soạn thảo chương trình xong, Nguyễn Tấn Đời trình với phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được ông Thơ góp ý, chỉnh sửa rồi trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Diệm cho mời ông Đời vào dinh, tỏ ý hoan nghinh. Chỉ một tháng sau, chương trình Mỗi Người Dân Một Mái Nhà của Nguyễn Tấn Đời đã được ông Diệm phê duyệt trên nguyên tắc. Theo đó, ông Diệm quyết định xuất 500 triệu từ quỹ xổ số kiến thiết cho Nguyễn Tất Dời vay không lãi trong mười năm với điều kiện ông Đời phải đem toàn bột tài sản ra thế chấp cho Chính phủ, giao cho Nguyễn Tấn Đời được toàn quyền điều hành dự án dưới sự giám sát về kỹ thuật của Bộ Công Chánh và giám sát nguồn thu và nguồn chi của Bộ Tài Chánh.
Nhưng tiếc thay, dự án Thủ Thiêm chưa kịp triển khai thì Tổng thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh.
Từ năm 1965 đến năm 1972, chính phủ đệ nhị Cộng hòa cũng đã hai lần thuê các chuyên gia nước ngoài lập đồ án quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm nhưng không thành. Nhiều người cho rằng do hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng theo bạn tôi thì đất Thủ Thiêm có vấn đề về phong thủy.

II: CÚ LỪA NGOẠN MỤC
Tháng Năm năm 2018, trong những ngày Thủ Thiêm trào nước mắt với tiếng kêu thảm khóc của những người dân bị cướp nhà cướp đất dậy sóng trên mạng xã hội, bất chợt người ta thấy trên Facebook của chị Mai Xuân Phượng có một stt ngắn với những lời ” Xin lỗi nhân dân, tôi ngàn lần xin lỗi nhân dân… với trách nhiệm là chủ tịch phường An Khánh, tôi đã thuyết phục bà con chấp hành giao đất, hy sinh lợi ích riêng tư rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó từ thời thơ ấu đến tuổi xế chiều để nhường chỗ cho việc hình thành khu đô thị mới Thủ Thiêm. Tôi ngàn lần xin lỗi bà con vì tôi đã tin tưởng tuyệt đối cấp trên sẽ đưa dân mình vào tái định cư tại chỗ theo quy hoạch để cuối cùng tôi cũng cùng chung số phận với bà con, ra đi rồi không có chỗ để quay về. Xin bà con hãy tha thứ cho tôi – Mai Xuân Phượng, nguyên phó bí thư, chủ tịch phường An Khánh”. Và rồi chỉ trong phút chốc, những lời xin lỗi ấy bỗng biến mất đi.
Cảm giác có cái gì đó bí ẩn ở người phụ nữ nầy, chúng tôi tìm đến chị ở phường Thạnh Mỹ Lợi, cách Thủ Thiêm hơn mười cây số.
Chị Phượng kể, gia đình chị ba đời sống ở Thủ Thiêm, tính ra đã hơn một trăm năm, từ khi nơi đây còn là vùng đất hoang vu. Cha chị, ông Mai Văn Năm đã từng làm phó chủ tịch xã An Khánh, mẹ chị, bà Nguyễn Thị Bông, từng là “Việt cộng năm vùng”, từng vào tù ra khám và đã qua đời. Chị Phượng đi Thanh niên xung phong từ năm 1976, tham gia tải đạn ở chiến trường biên giới Tây nam. Sau một trận sốt rét rừng bán sống bán chết, chị được giải ngũ, đi học văn hóa, chính trị rồi về An Khánh làm chủ tịch phường từ năm 1997 đến giữa năm 2004. Cũng trong những năm ấy, Thủ Thiêm được Chính phủ phê duyệt quy hoạch thành khu đô thị mới. Nhìn vào bản đồ quy hoạch, người ta hình dung một Thủ Thiêm nguy nga, tráng lệ như Phố Đông của Thượng Hải, như Manhattan của New York, một trung tâm thương mại, tài chính, văn hóa mang tầm quốc tế, một khu đô thị sinh thái đậm chất Nam Bộ với những dòng sông, ao hồ, kinh rạch ngoằn ngoèo, những làng biệt thự, những tòa nhà chọc trời từ 32 đến 40 tầng soi bóng nước.
Nhưng theo chị Phượng, niềm vui lớn nhất của chị là 14 ngàn 600 hộ dân với 60 ngàn cư dân trong vùng dự án sẽ được táo định cư tại chỗ trên diện tích 160 héc ta theo quy hoạch. Nghĩa là họ sẽ thoát khỏi cảnh bùn lầy, ao tù nước đọng, nhà cửa nhếch nhác, âm u, muỗi mòng, rắn rết để tận hưởng đời sống của một khu đô thị Thủ Thiêm mang tầm quốc tế. Từng ngày, từng ngày đi tuyên truyền, vận động bà con trong phường giao đất, chị đã nói như thế. Và, bà con đã hăm hở giao đất cho nhà nước để ra đi về nơi tạm cư với một niềm tin như thế, một niềm tin đổi đời cho ngày trở lại với một Thủ Thiêm như một thiên đường.
Năm ấy, ông Mai Văn Năm, ba chị Phượng đã tám mươi hai tuổi. Chị Phượng còn nhớ như in, ngày dọn nhà ra đi, ba chị quảy cái túi trên vai, tay cầm cái bình thủy đứng trước sân, nhìn lại ngôi nhà, nhìn lại khu vườn mà rưng rưng nước mắt, ông nói hơn tám mươi năm ba đã gắn bó với nơi nầy, biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui của một đời người… nhưng mà thôi . . . mình ra đi là để trở về với một Thủ Thiêm đàng hoàng hơn, văn minh hơn . . .
Nghĩ thế mà ông Năm vừa cười vừa lau nước mắt.
Nhưng sau đó không lâu, ông Năm lâm bệnh và qua đời ở nơi tạm cư. Chị Phượng nói . . . cũng may phước cho ba tôi là ông mang xuống mồ một viễn cảnh huy hoàng của Thủ Thiêm trong tương lai con cháu, cũng may phước là ông không phải chứng kiến cái cảnh ta thán nhân tình của Thủ Thiêm suốt gần hai chục năm qua khi mà sau đó hơn mười bốn ngàn hộ dân với hơn sáu vạn con người bị sa vào một cú lừa ngoạn mục, nghĩa là 160 héc ta đất tái định cư của dân bị cướp trên tay để biến thành đất kinh doanh của những đại gia bất động sản. Họ ra đi rồi không có đường quay lại như lời hứa ban đầu. Mỗi gia đình nhận một ít tiền hỗ trợ để mua đất tái định cư tận trên Cát Lái, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi và Nam Rạch Chiếc, cách xa nơi chôn nhau cắt rún của họ hơn mười cây số.
Dân Cát Lái, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Nam Rạch Chiếc lại bị người ta nhân danh “ thu hồi đất để tái định cư cho dự án Thủ Thiêm”, phải chịu lây mất đất. Nhưng lòng tham không dừng lại, dự án tái định cư cho Thủ Thiêm ở Nam Cát Lái, người dân ở đây bị thu hồi 90 héc ta, nhưng người ta lại bán cho tập đoàn Novalan 30 héc ta để xây làng biệt thự và tập đoàn Đất Xanh 30 héc ta để xây khu resort.
Chị Phượng vừa hỗ thẹn với bà con, vừa xót đau cho thân phận của mình bởi chính chị cũng nằm trong hàng vạn con người bị một cú lừa ngoạn mục.

III: TA THÁN NHÂN TÌNH

Các- Mác từng nói: Khi lợi nhuận tăng lên 100 phần trăm thì cha nó nó cũng giết.
Điều đó cũng có thể hiểu rằng, vì sao người ta bất chấp tình đồng loại, bất chấp đạo lý, bất chấp nghĩa nhân và luật pháp để đuổi hàng vạn người dân cố cựu ra khỏi Thủ Thiêm – vốn là nơi chôn nhau cắt rún của họ để nuốt trọn 160 héc ta đất tái định cư của dân mà Chính phủ đã phê duyệt. Không có gì khó hiểu khi bùn đen đã trở thành vàng, không có gì khó hiểu khi đất từ hai trăm ngàn đồng lên vài trăm triệu đồng trên mỗi mét vuông.
Trong những trang tiểu thuyết, những tuồng tích kiếm hiệp, thỉnh thoảng ta thấy xuất hiện những tay giang hồ hảo hớn chuyên cướp của người giàu để chia cho người nghèo. Ngay cả cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh cũng tịch thu đất đai của điền chủ để phân phát cho tá điền. Vậy thì tại sao ngày nay, người ta nhân danh chính quyền của dân, do dân,vì dân lại đi cướp đất của người dân khốn khổ để giao cho những đại gia bất động sản tiếp tục làm giàu ? Điều nầy chỉ có những quan chức trong cuộc mới có thể tự lý giải với lương tâm ( nếu có lương tâm ) hoặc trả lời trước vành móng ngựa ( nếu có thể lôi họ ra được vành móng ngựa )
Sau khi nuốt trọn 160 héc ta đất tái định cư của dân, người ta lại tiếp tục cướp luôn phần đất đai và cả sự sống của những hộ dân nằm ngoài khu quy hoạch. Nghĩa là họ không thể để cho người dân lân cận được “ăn theo” môi trường sang trọng của khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Chúng tôi gặp cụ Lê Huy Tiêu, 83 tuổi chống gậy đi từng bước chậm với sự dìu dắt của người vợ là cụ bà Trần Thị Mỹ, 77 tuổi. Hầu như mỗi ngày hai ông bà đều tới quán cà phê số 16 Vũ Tông Phan của anh Bùi Quốc Toản để trò chuyện cùng với hàng chục dân oan Thủ Thiêm, những người cùng nỗi niềm mất đất. Anh Toản sau khi bị cướp đất cướp nhà, anh về đây thuê một căn phố để mở quán cà phê kiếm sống. Khách của anh hầu hết là những dân oan. Vốn là người học cao hiểu rộng, am tường về pháp luật nên anh Toản tư vấn hồ sơ khiếu kiện giúp cho từng hộ gia đình. Mỗi người khách đến đây đều quảy trên lưng một ba lô chứa đựng hồ sơ. Có lẽ, đó là phần tài sản duy nhất, sự sống duy nhất của họ sau khi nhà cửa đất đai bị cướp. Riêng cô Trần Thị Mỹ thì bộ hồ sơ của cô đóng thành một tập dầy cộm, có cả những bức ảnh màu chụp nhiều hình ảnh của khu vườn và ngôi nhà bị cướp.
Cô Mỹ và chú Tiêu thuộc thế hệ đầu của trường đại học Bách khoa Hà Nội. Chú Tiêu từng du học ở Đức, ở Liên Xô và từng làm chuyên gia cho Bỉ, cho Hà Lan rồi về nước làm việc ở Viện nghiên cứu khoa học của Bộ Thủy Lợi, cô Mỹ làm chuyên viên của Tổng Công ty xây dựng số 4.
Cô Mỹ kể rằng, hồi xưa quê cô ở làng Vũ Đại, cha cô, ông Trần Đức Thùy, gia đình nghèo không ruộng đất phải đi cạo mủ cao su. Năm 18 tuổi, ông tha hương cầu thực vào Nam, rồi sang Campuchia làm công nhân cho một đồn điền cao su của Pháp. Cô Mỹ được sinh ra trên đất khách. Năm 1945, cha cô hồi hương, tham gia Việt Minh ở Sài Gòn. Năm 1958, cô Mỹ được đi tập kết ra Bắc. Năm 1978, cả hai vợ chồng cùng chuyển vào Nam. Đầu thập niên 90, họ lần lượt về hưu và sống cùng con cháu trong căn hộ chung cư ở quận 5.
Năm 2001, họ qua Thủ Thiêm mua 2120 mét vuông đất ruộng trên đường Lương Định Của rồi san lấp thành một khu vườn, trồng xoài, trồng mít, trồng mận, trồng nhãn, trồng hoa kiểng và nuôi mấy đàn ong. Năm 2005, khi vườn cây bắt đầu cho trái, cô chú vừa mới tìm được niềm vui sau những năm khai hoang nhọc nhằn vất vả, cứ tưởng bắt đầu từ đây sẽ được tận hưởng thành quả lao động trong niềm vui của tuổi xế chiều. Cứ nghĩ, biết rằng tuổi mình không còn vui thú điền viên được bao lâu nhưng ít ra cũng làm nên một gia sản để lại cho đời con đời cháu. Nhưng có ngờ đâu nhân tai ập đến, cô nhận được thông báo giải thỏa với mức đền bù theo giá đấn nông nghiệp là 150.000 đồng một mét vuông cộng với 50.000 đồng công san lấp, nghĩa là họ sẽ đền bù cho cô tổng cộng trên 400 triệu đồng, nghĩa là tổng cộng số tiền không bù nổi công san lấp ( ! ).
Cô Mỹ bắt đầu đi kiện, cuộc khiếu kiện kéo dài đến năm 2012, họ nâng lên mức đề bù cho cô mỗi mét vuông là 920.000 đồng, cô vẫn không chấp nhận. Lúc bấy giờ, những hộ chung quanh xóm cô đều bị cướp nhà cướp đất được mệnh danh bằng cụm từ cưỡng chế giải tỏa thu hồi đất. Cô nghĩ, trước sau gì cũng tới phận mình, nhưng với lòng tự trọng của người trí thức, cô không muốn bị tổn thương khi người ta đem cobe, xe ủi, xe cứu thương, cứu hỏa cùng với hàng trăm nhân viên công lực bao vây lôi mình ra sân để chiếm đoạt nhà cửa đất đai, cô lên quận làm giấy tờ thỏa thuận rằng, cô tạm thời giao đất cho chính quyền và tạm nhận căn hộ chu cư để tiếp tục đi khiếu kiện, tất nhiên, cô không chấp nhận đồng tiền gọi là đền bù giải tỏa trên bốn tỷ đồng.
Vậy là thừ ấy đến nay, mười bảy năm cô về sống Thủ Thiêm thì đã mất mười bốn năm đi kiện với hàng trăm lá đơn kêu cứu. Nhưng đất trời nào có thấu ? Cô kiện thì cứ kiện, trên trang web của ban quản lý dự án người ta vẫn kêu gọi đầu tư vào khu đất của cô, và, trong các dự án giáp ranh với khu đất ấy, một mét vuông đã lên đến hơn 200 triệu đồng.
Tôi nhìn cô dìu chú Tiêu đi từng bước chậm mà không kềm được nỗi xót xa, cô chú sẽ còn tiếp tục đi kiện đến bao giờ, còn đủ sức và quỹ thời gian để đi kiện được bao lâu trong khi hai tấm thân già đã tới tuổi gần đất xa trời !
*
Ông Nguyễn Phi Thường, 71 tuổi, nhưng trông dáng người lụm khụm, khắc khổ, trầm buồn, lúc nào cũng như đang khóc. Có lẽ vì chuyện bi kịch đất đai đã quá sức chịu đựng của ông.
Ông Thường sinh năm 1948 ở Ninh Bình, năm 22 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ, vượt Trường Sơn vào Nam, tham gia những trận chiến bán sống bán chết ở Quảng Bình, Quảng Trị, Campuchia, mang trên người nhiều thương tích và chiến tích. Năm 1987, ông ra quân vì mất sức. Sau nhiều năm lang thang trong hẻm hóc ở Sài Gòn, đến năm 2001 ông cùng sáu anh em trong gia đình hợp sức, bán hết tài sản hùn lại sang Thủ Thiêm, thuộc phường Bình Khánh mua gần mười ngàn mét vuông đất ruộng chỗ cầu Cá Trê và giao cho ông Thường đứng tên cai quản. Thấy trồng lúa không khá nổi, ông xin chuyển sang đất thổ vườn, ông san lấp 400 mét vuông làm nhà ở, toàn bộ phần còn lại ông đào ao lên liếp, dưới nước nuôi cá, trên bờ trồng 400 cây xoài và tu dưỡng hơn 40 cây dừa của người chủ cũ. Những ao cá đã cho ông đủ cập nhật manh áo chén cơm, nhưng vườn xoài phải đợi chờ qua nhiều năm tháng. Nghĩ thế, ông Thường chuyển sang nghề kinh doanh cây kiểng, ông ươm trồng và mua bán các loại hoa. Cần cù và chịu khó, chỉ sau ba năm, vườn kiểng An Bình của ông Thường trở nên nổi tiếng ở Thủ Thiêm, ông trồng mai vừa bán vừa cho thuê trong dịp tết, ông nhận chăm sóc mai cho khách, ông trồng cau sâm banh cung cấp cho các biệt thự sân vườn . . . 400 cây xoài và gần 50 cây dừa cũng đã đơm bông kết trái.
Thế rồi đùng một cái, nhà chức trách tới báo cho ông biết rằng đất của ông nằm trong khu quy hoạch, phải thu hồi. Người ta đưa cho ông bảng chiếc tính đền bù 150.000 đồng một mét vuông, hỗ trợ tái định cư 720.000 đồng một mét vuông với điều kiện phải ra đi tự tìm chỗ tái định cư, nếu ông nhận căn hộ chung cư thì sẽ không nhận 720.000 đồng của mỗi mét vuông phần hỗ trợ. Tùy ông lựa chọn. Không cần lựa chọn, không cần nghĩ suy toan tính, ông Thường hiểu ngay rằng, với một vườn kiểng, vườn cây ăn trái, ao cá gần một héc ta đổi lấy một căn hộ chung cư thì chỉ có thằng điên mới chấp nhận. Nhưng nghịch lý thay, đây không phải là cuộc thỏa thuận mà là sự áp đặt của kẻ cầm quyền. Chấp nhận hay không là việc của ông, còn việc của chính quyền là cưỡng chế thu hồi đất bằng bạo lực.
Ngày 14 tháng 10 năm 2011, khoảng mười giờ sáng, sau khi cưỡng chế hai căn nhà bên cạnh, họ kéo tới trước nhà ông, hàng trăm nhân viên công lực được trang bị tận răng trong tư thế sẵn sáng chiến đấu, xe cuốc, xe ủi, xe cứu thương, xe cứu hỏa cùng một đoàn xe tải xếp hàng chờ lệnh. Biết mình không thể chống cự, ông Thường cùng vợ con, cháu nội cháu ngoại chị biết khóc lóc đứng nhìn. Sau khi nhà chức trách đọc xong lệnh cưỡng chế, xe ủi, xe cuốc xông vào san phẳng ngôi nhà, nhân viên công lực cầm cưa máy xông vào quật ngã vườn cây. Vườn mai hàng trăm cây của ông và của khách gởi ông chăm sóc, trị giá hàng tỷ đồng bị chúng nó khiêng từng chậu chất đầy tám chiếc xe tải, chở đi đâu ông không biết . . .
Câu chuyện xảy ra gần tròn bảy năm, giờ ông Thường kể lại vẫn trong trạng thái kinh hoàng, rưng rưng nước mắt. Ông cho tôi xem bức ảnh chụp vường cau sâm banh bị chúng cưa đứt đọt, hàng trăm cây xếp hàng dọc hàng ngang, trông thê thảm như hàng trăm con người bị chém đứt đầu. Những bức ảnh chụp khu vườn xoài vườn kiểng hoa trái xum xuê cùng với những bức ảnh chụp khu vườn đổ nát, hoàng tàng sau khi bị cướp. Ông Thường nói, nhà tôi hồi năm 1953 bị Tây đốt một lần, tới năm 1966, một lần nữa bị bom Mỹ đánh sập, nhưng không đến nỗi kinh hoàng, khủng khiếp như lần nầy . . .
Suốt bảy năm qua, ông Thường vừa cùng với bà con Thủ Thiêm đi kiện, mặt khác, ông xin vào làm bảo vệ cho một công ty để kiếm đồng lương phụ với con cái thuê nhà. Nhưng đầu năm nay, tuổi cao sức yếu, người ta không thèm thuê ông nữa.

IV: TỘI ÁC NỐI DÀI TỘI ÁC

“Chị ơi ! Sắp đến ngày kỷ niệm 43 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Em hy vọng đảng bộ thành phố sẽ giải quyết dứt điểm vụ khiếu nại tố cáo của việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật tại địa chỉ B26/9 khu phố 1, phường Bình An, quận 2 theo đúng pháp luật để chúng em còn ổn định lại cuộc sống. Đập nhà chúng em, thu gom toàn bộ từ xác nhà và tất cả đồ đạc chở đi đâu đến nay chúng em không biết, làm cho một gia đình đang sinh sống ổn định, hạnh phúc, bỗng chốc nhà tan cửa nát, đó là tội ác. Gần sáu năm nay chúng em sống vất vưỡng, chồng em cũng vì việc nầy mà sinh đổ bệnh rồi chết. Tại sao đất nước HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP mà chúng em không có TỰ DO, HẠNH PHÚC ? Kính xin chị và đoàn đại biểu Quốc hội hãy lên tiếng cho chúng em. Xin hãy thương xót cảnh mẹ góa con côi, thương cảnh con gái em sanh không có nhà để ở . . . ”
Đó là những dòng tin nhắn của chị Nguyễn Thị Kim Phượng gởi chị Nguyễn Thị Quyết Tâm, phó bí thư thành ủy. Trong chiếc điện thoại “cùi bắp” của chị Phượng còn lưu lại hàng loạt tin nhắn với nội dung tương tự như vậy gởi cho các vị lãnh đạo thành phố, nhưng phần lớn những tin nhắn ấy chìm trong im lặng, cũng có vài tin nhắn mà phía dưới có vài câu phản hồi ngắn gọn, vô cảm, khô khốc, lạnh lùng, đại loại như “hãy yên tâm chờ … giải quyết”.
Chị Phượng nói buồn quá, đau quá, tuyệt vọng quá không biết làm gì, chị gởi tin nhắn để cầu may.
Tháng 3 năm 1976, chị Phượng tham gia lực lượng thanh niên xung phong, đi xây dựng nông trường Phạm Văn Hai cùng với ông Trương Tấn Sang. Năm 1978, chị tình nguyện chuyển sang quân đội, làm việc tại phòng vận tải trung đoàn 657, thuộc cục hậu cần quân khu 7. Năm 1981, chị ra quân với cấp hàm thượng sĩ, chuyển qua làm việc tại công ty dược 3/2. Năm 1985, chị kết hôn với anh Trương Việt Hiếu, công nhân cơ khí cùng cơ quan. Năm 1986, vợ chồng chị được cấp và hóa giá căn nhà 87 mét vuông trên đường Lương Định Của. Họ sinh được hai đứa con, một trai một gái. Cuộc sống sẽ kéo dài hạnh phúc, và căn nhà của chị vốn nằm ngoài ranh quy hoạch, cạnh khu đô thị mới Thủ Thiêm, vợ chồng chị sẽ sở hữu khối tài sản trị giá vài chục tỷ đồng nếu ngôi nhà không bị cướp.
Một hôm, có một nhóm người của nhà nước tới cho chị hay, nhà của chị nằm trong diện phải thu hồi, đề nghị chị cho họ đo vẽ để chiết tính giá đền bù. Anh Hiếu nói đất của anh không nằm trong quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm, và anh đuổi họ ra khỏi nhà. Cứ thế, mỗi lần họ tới đo vẽ đều bị đuổi. Cuối cùng họ dùng biện pháp cưỡng chế. Ngày 4 tháng 11 năm 2010, hơn một trăm nhân viên công lực cùng với nhân viên địa chính, xe cứu thương, cứu hỏa kéo tới, họ cắt hàng rào lưới B40 rồi xông vào đo vẽ. Sau đó họ lập bảng chiết tính, áp giá đền bù cho vợ chồng chị theo hai phương án: Thứ nhất, chị sẽ nhận số tiền 236.449.000 đồng và được mua căn hộ chung cư 51 mét vuông bằng số tiền ấy, nếu muốn mua căn hộ diện tích rộng hơn thì chị phải trả tiền thêm theo giá bảo toàn vốn. Phương án thứ hai, nếu chị không mua căn hộ tái định cư thì sẽ nhận khoảng đền bù cộng với tiền hỗ trợ di dời tương đương 18.000.000 đồng trên mỗi mét vuông cả nhà lẩn đất, tức khoảng hơn 1,5 tỷ đồng rồi tự đi tìm chỗ ở.
Anh Hiếu và chị Phượng cùng hàng trăm bà con Thủ Thiêm làm đơn khiếu nại, nhưng không thành. Ngày 29 tháng 6 năm 2012, chúng đem quân tới cưỡng chế. Chị Phượng thương lượng xin hoãn lại hai tuần, họ chấp nhận không đập nhà. Chị viết thư gởi khẩn cấp cho ông Trương Tấn Sang hy vọng cầu cứu ở người sếp cũ. Ông Sang chỉ đạo cho văn phòng Chủ tịch nước làm công văn gởi ông Tất Thành Cang, yêu cầu ông Cang tiếp chị Phượng và báo cáo sự việc lên Chủ tịch nước trước ngày 20 tháng 8 năm 2012. Chị Phượng mừng rỡ mang “lá bùa” ấy lên ủy ban quận 2, nhưng ông Cang không tiếp. Ngày 31 tháng 7 năm 2012, tức là trước thời hạn 20 ngày ông Tất Thành Cang phải trả lời Chủ tịch nước, một đoàn xe cứu hỏa, cứu thương, xe tải, xe ủi, xe cuốc cùng với hàng trăm nhân viên công lực kéo đi giải tỏa, đập phá sáu căn nhà ở khu phố 1, đường Lương Địng Của, phường Bình An. Căn nhà chị Phượng bị đập vào lúc 10 giờ 30 sáng, toàn bộ vật dụng trong nhà chúng chất lên xe tải chở đi đâu không biết, chỉ nghe chúng nói chở vào khu tạm cư. Vợ chồng chị Phượng không vào khu tạp cư, chị nói trong đó chúng nhét mỗi gia đìng vô căn phòng tạm bợ 21 mét vuông, không đủ chứa vật dụng thì làm sao ăn ở. Hai đứa con, một đứa về nhà cậu, một đứa về nhà ngoại, anh Hiếu vào ở trong cơ quan, chị Phượng lấy bốn khúc tre với tấm nilon dựng mái lều trên cái nền nhà đổ nát, đi kiếm việc làm thuê tạm sống qua ngày, ai kêu lau nhà thì tới lau nhà, ai kêu đón con thì đi đón con. Anh Hiếu có hôm thì ở cơ quan, có hôm thì về tá túc trong mái lều với chị.
Trong cảnh màng trời chiếu đất, anh Hiếu lại lâm trọng bệnh, khi đưa anh vào nhập viện, chị Phượng như sét đáng ngang tai, người ta cho chị hay anh Hiếu bị ung thư phổi ở giai đoạn cuối. Không còn khả năng điều trị, nhưng về đâu ? Không thể đưa anh về chờ chết trong mái lều bạt trên nền nhà cũ. May thay, người chị ruột của chị ở Gò Vấp bảo chị đưa anh về đó tạm trú trong những ngày tháng cuối đời. Và cuối cùng, anh Hiếu đã ra đi trong cảnh tan nhà nát cửa. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh nói với chị Phượng rằng khi di quan, hãy cho chiếc xe tang chở anh đi qua con đường Lương Định Của để anh chào vĩnh biệt ngôi nhà, dù bây giờ nó chỉ còn là mái lều trơ trọi. Nhưng khi di quan, nhân viên của nhà chức trách bước lên chiếc xe tang, ngồi cạnh tài xế với lý do là để can thiệp khi tình huống kẹt xe. Thế là, chiếc xe tang đi thẳng về nhà hỏa táng Bình Hưng Hòa.
Tiếp xúc với chị Phượng, tôi cảm nhận được nỗi đau đã làm cho chị biến đổi tính tình. Từ một mái lều bạt, chị nhặt tol cũ chung quanh về dựng lại căn chòi trên nền nhà cũ, nền rải đá mi, một chiếc ghế bố, một bàn thờ nhỏ cho anh Hiếu, một chồng hồ sơ khiếu kiện. đó là tất cả những gì còn lại sau trận cướp phá kinh hoàng.
Đã khổ đến thế, nhưng chị Phượng còn quan tâm, chở che cho những thân phận khổ hơn mình. Chị đưa chúng tôi đến thăm chị Vinh, một trong vài căn nhà còn sót lại giữa cái bãi đất hoang tàn, ngỗn ngang xà bần của hàng trăm ngôi nhà bị đập phá trên đường Lương Định Của.
Chị Phạm Thị Vinh năm đời cha ông sống ở Thủ Thiêm, chị bị khuyết tật bẩm sinh, phải di chuyển bằng xe lăn và nạn gỗ. Năm 1968, lên 11 tuổi, chị được tổ chức Terre des hommes đưa sang Tây đức nuôi dưỡng và cho học hành, đến năm 1974, chị quên mất tiếng Việt nên không liên lạc được với gia đình, chị xin phép về Việt Nam ôn lại Việt ngữ một thời gian ba năm, đến năm 1975, chị kẹt ở lại. Cha mẹ qua đời, chi lên Đồng Nai học Đông y rồi về Thủ Thiêm dựng căn nhà gỗ 15 mét vuông cạnh ủy ban phường Bình An, mở quán nước và phòng mạch Đông y từ thiện, khám chữa bệnh bằng thuốc Nam, ai cho bao nhiêu thì bỏ vào thùng phước thiện. Chị nói ở đây hồi ấy còn hoang vu, gần phòng mạch của chị có cái bô rác của chính quyền cũ để lại, chị lên quận xin dọn dẹp để cất nhà ở, ông chủ tịch quận nói mầy cất nhà chỗ đó tao còn mừng, để cái bô rác vừa mất mỹ quan, vừa ô nhiễm môi trường, lại là nơi chích choác của bọn xì ke ma túy. Chị Vinh thuê xe rác tới dọn dẹp rồi thuê người tới đập phá, san lấp mặt bằng, dựng lên căn chòi che mưa che nắng. Phòng mạch của chị bắt đầu thu phí, có được ít tiền, chị thuê thợ xây nhà, mua vật liệu trả góp, vay mượn bạn bè, cuối cùng chị đã dựng lên được ngôi nhà cấp bốn.
Thế nhưng, khi cuộc càn quét Thủ Thiêm xảy ra, chị Vinh không được đền bù vì nhà của chị không có giấy tờ. Người ta chỉ bảo chị đi tạm cư ở một căn hộ chung cư để giao đất cho nhà nước, chị nói tôi què quặc thế nầy là sao ở được chung cư, hồi xưa chỗ nầy là cái bô rác, tôi xin cất nhà, các anh còn mừng, tại sao bây giờ các anh lại cướp của tôi ? Nói gì thì nói, không đi thì cưỡng chế, cuộc cưỡng chế lần thứ nhất không thành vì luật sư Trần Vũ Hải đứng ra bảo vệ chị, ông nói nếu các anh cưỡng chế nhà chị Vinh, tôi sẽ tố cáo các anh lên tổ chức bảo vệ người tàn tật thế giới. Chúng tạm dừng lại. Cuộc cưỡng chế lần thứ hai, bà con Thủ Thiêm kéo tới làm hàng rào sống bảo vệ chị. Chúng tạm dừng lại. Cuộc cưỡng chế lần thứ ba, cũng vậy, bà con kéo tới làm hàng rào cản đầu xe ủi, trong nhà, chị Phượng chuẩn bị sẵn đầy một bình xăng trong chiếc Honda, sẵn sàng châm lửa, chị nói với chị Vinh, chuyến nầy hai chị em mình cùng chết. Chúng dùng loa tay đọc lệnh cưỡng chế và kêu gọi chị Vinh mở cửa, mở cổng rào để giao nhà, giao đất. Bà con bên ngoài hò hét, đả đảo, chửi bới làm át tiếng loa, bên trong, chị Phượng mở nắp bình xăng, tay cầm quẹt gas, tay cầm tờ giấy báo làm mồi lửa trong tư thề sẵn sàng. Cuối cùng chúng phải rút quân.

V: ĐAU THƯƠNG CHỒNG CHẤT ĐAU THƯƠNG

Gần nhà chị Vinh, một ngôi nhà còn sót lại nằm chơ vơ giữa bãi tha ma là ngôi nhà của vợ chồng ông Hùynh Văn Lực và bà Nguyễn Thị Giáp. Ông Lực 91 tuổi đời, 70 tuổi đảng, bị tai biến mạch máu não nằm liệt giường, bà Giáp 83 tuổi, lụm khụm chăm sóc cho chồng. Hồi xưa họ có người con trai hiền lành, ngoan ngoãn, nhưng đã chết vì tai nạn điện. Bà nói, nếu nó còn sống thì đỡ khổ cho tôi, ít ra có con cháu cũng bớt đi sự cô quạnh của tuổi già. Giờ trong tình cảnh nầy, nếu tôi ngã bệnh thì . . . thật là khổ. Tôi hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu không may bà ngã bệnh giữa cái bãi tha ma nầy trong căn nhà không có người thứ ba, chung quanh không có láng giềng. Tôi không dám so sánh với bất kỳ quốc gia nào, xã hội nào về chính sách nhân đạo đối với tuổi già, và có lẽ, bà Giáp cũng không có mong muốn nào hơn ngoài việc đừng cưỡng chế, đừng đập phá cướp đất, hãy để yên cho vợ chồng bà trong những năm tháng ngắn ngủi còn lại cuối đời.
Vợ chồng bà Giáp đều là viên chức của Bộ Vật tư, khi về hưu, họ được cấp một căn nhà cộng cư bên phường Thảo Điền, tức là một căn nhà một trệt một lầu được cấp cho hai hộ, bà ở tầng dưới, ông sếp của bà ở tầng trên. Rồi ông Lực ngã bệnh, đứa con trai qua đời. Sau một thời gian chạy chữa cho chồng, chợt nhìn lại thấy mình ngồi trên đống nợ. Không còn cách nào khác, bà phải bán quyền sử dụng cái không gian tầng trệt ấy cho người ở trên lầu. Sau khi thanh toán nợ nần, còn lại ít tiền, bà sang Thủ Thiêm mua lại căn nhà nát trong con hẻm trên đường Lương Định Của, nhà không có chủ quyền, chỉ sang nhượng bằng giấy tay. Nhưng người chủ cũ bằng cách nào đó đã chạy chọt cho bà xây lại ngôi nhà cấp bốn.
Ở yên được mười năm, đến tháng tư năm 2011, khi cả khu phố bị cưỡng chế, đập phá thành bình địa thì tới lượt hai ngôi nhà của ông bà và chị Vinh, một người già bị tai biến và một phụ nữ neo đơn khuyết tật bị cưỡng chế sau cùng.
Ngày 18 tháng 4 năm 2011, nhà chức trách tới trao cho bà quyết định cưỡng chế và bảng chiết tính bồi thường với giá . . . không đồng. Lý do: nhà và đất không có giấy tờ hợp lệ. Tuổi già sức yếu, trong cảnh neo đơn, nhưng bà phải vừa đi kiện vừa chăm sóc cho người chồng nằm liệt giường.
Đến ngày 25 tháng 1 năm 2003, bà nhận được thông báo giải tỏa kèm theo bảng chiết tính bồi thường theo hai phương án như sau: Phương án thứ nhất, nếu bà nhận tái định cư thì bà được trả 9.612.500 đồng ( chín triệu sáu trăm mười hai ngàn năm trăm đồng ) và được mua một diện tích tái định cư 7,75 mét vuống ( bảy phẩy bảy mươi lăm mét vuông ) trong căn hộ chung cư bằng với số tiền ấy, nói cho dễ hiểu là ngôi nhà và đất hơn một trăm mét của bà sẽ đổi 7,75 mét vuông chung cư, phần còn lại của căn hộ tùy theo lớn nhỏ bà phải trả tiền theo giá gọi là bảo toàn vốn. Phương án thứ hai, nếu bà không nhận tái định cư thì bà được lãnh số tiền 133.612.500 đồng, tự tìm chỗ ở.
Cũng như bao nhiêu người khác, bà không chấp nhận cả hai phương án, và cuối cùng là cưỡng chế, nói cho chính xác hơn là bị cướp.
Cũng như trường hợp của chị Vinh, mỗi lần nhân viên công lực và phương tiện cơ giới tới bao vây thì hàng xóm kéo tới làm hàng rào sống bảo vệ cho vợ chồng bà. Bà khóa cửa rào và lấy hết hơi sức của tuổi già nói vọng ra với nhà chức trách: Các ông muốn làm gì thì cứ làm đi, vợ chồng tôi sẽ ôm nhau cùng chết, thà chết ở đây còn hơn chết ở ngoài đường.
Nhân viên công lực đi cướp thay cho người khác, dù sao cũng là con người, có lẽ cũng biết sợ luật nhân quả nên họ rút lui trước hai con người như ông Lực và chị Vinh, những người mà nếu ném ra đường, họ sẽ chết ngay tại chỗ.
*
Chúng tôi đến thăm anh Đặng Văn Truyền, 50 tuổi đang sống trong căn phòng tạm cư 21 mét vuông như cái ổ chuột ngổn ngang vật dụng gia đình, nhếch nhác, ngột ngạt và oi bức, giống như cái cảnh tản cư chạy giặc hồi chiến tranh. Trong phòng không có chỗ ngồi, anh Truyền bắc ghế ngoài sân để tiếp chúng tôi, anh nói ở khu tạm cư nầy có hàng trăm hộ với ngàn ngàn con người sống chật hẹp và chen chút như thế, có hộ đã vào đây gần hai mươi năm, mất đất, mất nhà, mất công ăn việc làm, lang thang tìm mọi cách để mưu sinh và . . . đi kiện.
Trước đây, anh Truyền là chủ cơ sở đại lý gas cạnh chợ An Khánh. Làm ăn khấm khá, năm 2.000 anh vay mượn thêm bạn bè, dòng họ để mua căn nhà 50 mét vuông, mặt tiền đường Lương Định Của trị giá 75 cây vàng. Do nhà mua bằng giấy tay nên khi giải tỏa, người ta thông báo đền bù cho anh mức giá 36.000.000 đồng, tương đương với một cây vàng ( ! ). Anh nói 36 triệu đồng bây giờ không đủ mua miếng đất để chôn, anh làm đơn khiếu nại, lên quận, quận bác đơn, lên thành phố, thành phố bác đơn, ra trung ương, trung ương làm công văn chuyển đơn về cho thành phố . . . Ngày 21 tháng 2 năm 2011, ủy ban quận ra quyết định cưỡng chế, anh nói nếu cưỡng chế anh sẽ tử thủ, cho nổ cửa hàng gas. Lệnh cưỡng chế tạm hoãn thi hành, người ta cử những đoàn cán bộ tới vận động, thuyết phục, nân giá đền bù lên 19 triệu đồng một mét vuông, anh kiên quyết không nhận vì cho rằng nhà anh nằm ngoài ranh quy hoạch.
Lúc bấy giờ, những căn hộ chung quanh nhà anh đã bị san bằng.
Ngày 23 tháng 12 năm 2015, tới lượt số phận của anh. Khác với những căn hộ khác, khi cưỡng chế nhà anh, ngoài xe ủi, xe cuốc, xe cướu thương, cứu hỏa và nhân viên công lực thông thường, người ta tăng cường thêm một đội đặc nhiệm và trang bị thêm một xe xịt hơi cay và hai xe chửa cháy đặc chủng chở bọt khí foam dùng cho các sân bay. Tất cả để đối phó với một con người và mục tiêu cướp cho được căn nhà năm chục mét vuông ( ! ).
Khi người ta xịt hơi cay vào nhà, anh Truyền đeo mặt nạ và chuẩn bị cho nổ bình gas nhưng đã muộn vì bọt khí foam đã phủ căn nhà. Chúng dùng xe cuốc phá toan ba cánh cửa, nhân viên đặc nhiệm xông vào, anh Truyền bị những thanh bá trắc đập thẳng vào hai ống quyển và hai bên be sườn, anh té quỵ xuống, hai nhân viên đặc nhiệm đè anh trói thúc ké, họ vừa trói vừa nói: ĐM mầy có biết cưỡng chế căn nhà mầy tụi tao phải tốn hàng trăm triệu tiền hóa chất hay không.
Họ vừa trói, vừa chửi vừa đánh, đánh từ nhà đánh lên xe cấp cứu và tiếp tục đánh trên đường đưa anh tới bệnh viện quận 2, hàng trăm người dân kéo theo, rơi nước mắt như khóc cho chính con cháu ruột thịt của mình.
Mấy ngày sau, họ cho anh xuất viện nhưng không dám trao giấy chứng thương. Anh Truyền bị tràn dịch khớp gối, phải vào phẩu thuật trong bệnh viện Sài Gòn.
Cái giá tử thủ với nhà chức trách là như thế. Mất nhà, mất đất, mang thương tật, mất thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi tháng, sống cùng quẩn trong căn phòng tạm cư không biết đến bao giờ !
Ba năm qua, anh cùng với bà con Thủ Thiêm mang đơn kêu cứu ra Hà Nội không biết bao nhiêu lần, có lần ăn dầm nằm dề cả hai tháng trời. Nhưng vô vọng !
*
Cách chỗ anh Truyền vài chục mét là căn phòng tạm cư của chị Phan Thị Thủy, 63 tuổi. Đã 17 năm sống trong khu ổ chuột nầy, sống trong sự chồng chất khổ đau và bế tắc.
Mười bảy năm trước, chị Thủy đã có một gia đình đầm ấm, một quán cà phê nho nhỏ trên đường Lương Định Của, gần chợ Anh Khánh. Chồng chị Thủy, anh Trần Vĩnh Phúc, thiếu tá công an, làm việc ở quận 2. Hai vợ chồng cùng đứa con gái đang sống một cuộc sống bình thường thì nhân tai trút xuống.
Một ngày của năm 2.000, chị nhận được thông báo giải tỏa không đền bù vì nhà chị mua bằng giấy tay. Chị làm đơn khiếu nại, nhưng khổ nỗi anh Phúc là đảng viên, là sĩ quan, cái vòng kim cô ấy buộc phải tuân hành.
Chấp nhận dọn vào căn phòng tạm cư, nhưng chị vẫn cùng bà con đi khiếu kiện, thậm chí kéo nhau hàng chục, hàng trăm người đi biểu tình trước văn phòng Chính phủ trên đường Lê Duẫn. Mỗi lần chị đi thì người ta gọi anh Phúc lên, bảo anh phải gọi chị về. Nhưng anh không thể mở lời khuên can vợ bởi chính anh là người đau xót trước căn nhà trị giá tiền tỷ bị tước đoạt vô lý. Cuối cùng, sau nhiều lần kiểm điểm, anh Phúc bị kỷ luật với hình thức gián cấp xuống hàm đại úy. Bị tổn thương, anh Phúc xin nghỉ việc về phụ vợ bán cà phê.
Hai vợ chồng cùng với con gái, con rể và đứa cháu ngoại không thể sống nổi trong căn phòng chật hẹp 21 mét vuông, anh Phúc mượn thêm một căn liền vách để chứa vận dụng và mở quán “cà phê chạy”, ai kêu đâu chạy đó.
Vốn có bằng đại học Luật, anh Phúc làm thủ tục xin cấp chứng chỉ nghề với mơ ước mở văn phòng Luật sư, nhưng việc không thành, anh đành trở lại lầm lũi, âm thầm với cái quán “cà phê chạy”. Chị Thủy sau một thời gian dài đi kiện, người ta bán cho chị căn hộ tái định cư 41 mét vuông trên lầu 3 ở Bình Trưng, cách đó gần mười cây số với giá 70 triệu đồng. Chị không nhận và tiếp tục đi kiện với lý do, nhà chị 70 mét vuông trên đường Lương Định Của, giờ trở thành đất vàng, bị giải tỏa không đền bù giờ phải mua lại căn hộ 41 mét vuông, quá bất công. Nhưng rồi bất công chồng chất bất công, người ta ra quyết định cưỡng chế, bắt chị phải ra đi và phạt 25 triệu đồng với lý do chiếm nhà tái địng cư trái phép. Chị kiên quyết không đi và cũng không nộp phạt. Cứ tiếp tục cùng bà con làm đơn khiếu kiện.
Anh Phúc bắt đầu thay đổi tính tình như một người trầm cảm, mất ngủ, bỏ ăn. Có lần anh lẩm bẩm với chị: Phải chi tôi đừng nghỉ việc thì bây giờ tôi còn khẩu súng . . . Chị can anh, thôi đừng nghĩ bậy.
Buổi sáng ngày 24 tháng 4 năm 2015, không thấy anh dậy sớm pha cà phê như mọi bữa, chị bước qua gọi cũng không thấy anh trả lời, nhìn thấy đèn sáng trong nhà tắm nhưng không nghe tiếng động. Chị bước tới mở cửa thì trời ơi, anh đã treo cổ . . .

VI: ĐAU XÓT CHỐN TÂM LINH
Mục sư Nguyễn Hồng Quang, bảo vệ luận án Tiến sĩ Thần học tại Hoa Kỳ, ông tâm sự rằng không hiểu vì sao, sau khi rời lực lượng Thanh niên xung phong, ông muốn đi tu nhưng chưa có khái niệm rõ ràng về một tôn giáo nào. Ông nghiên cứu về đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên Chúa giáo . . . nhưng vẫn cứ phân vân. Rồi ông đi học hớt tóc với ý định mang bộ đồ nghề đi lang thang hớt tóc miễn phí cho trẻ bụi đời, người điên và người cơ nhở. Nhưng rồi như một cơ duyên, người dạy ông hớt tóc, sau khi nghe ông nói rằng ông muốn đi tu nhưng chưa biết chọn tôn giáo nào, ông ta giới thiệu với ông về giáo phái Tin lành Mennonite, một trong năm trường phái chính của châu Âu và Bắc Mỹ, được hình thành từ năm 1525 và du nhập vào Việt Nam từ năm 1954
Từ cơ duyên đó, ông Quang trở thành tín đồ Mennonite. Năm 1992, ông sang Thủ Thiêm, cùng với người mẹ và người em trai mua gần ba ngàn mét vuông đất nông nghiệp. Ông Quang còn nhớ, ở đó có cả cái chuồng trâu và ao rau muống của người chủ cũ. Cuộc sống ban đầu dựa vào những công việc đồng áng, đặt trúm, đặt lọp, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu. Dần dần, ông Quang tu bổ nhà cửa, dựng lên một cơ sở từ thiện và tôn giáo gồm một nhà nguyện, một thư quán hướng đạo, một phòng y tế, có cả một nơi dành cho học sinh sinh vên nghèo, bệnh nhân nghèo và người già neo đơn, không nơi nương tựa . . . Ở đây lúc nào cũng có hơn một trăm người tá túc, ông Quang vận động nguồn gạo, họ tự trồng rau, kiếm cá và tự quản, người mạnh chăm sóc người bệnh và phân công công việc cho nhau như một đại gia đình.
Trải qua gần hai mươi năm, kẻ đến người đi, có những sinh viên nghèo trở thành kỹ sư, bác sĩ, doanh nhân, có những kẻ xì ke, bụi đời trở thành lương thiện, có những bệnh nhân trở nên lành lặn, và, có những người xấu số được tiễn đưa trong ấm cúng, đàng hoàng trong tiếng cầu kinh của Giáo phái Mennonite.
Thế rồi tang thương ập đến, ông Quang cùng với hơn một trăm con người cơ khổ ấy phải chịu chung số phận với hàng vạn đồng bào trên đất Thủ Thiêm. Ngày 14 tháng 12 năm 2014, hàng trăm nhân viên công lực tới bao vây, họ dùng loa phóng thanh đọc lệnh cưỡng chế rồi xông vào bắt trói, đánh đập hàng chục người, quăng lên xe công vụ chở đi. Trong đó có bà Trần Thị Chuốt, 73 tuổi. Bà Chuốt vào đây chữa bệnh cùng với đứa cháu ngoại bị bại liệt. Sau khi lành bệnh, bà tình nguyện ở lại làm tạp vụ và chăm sóc cho đứa cháu tật nguyền. Hôm ấy bà phản đối không chịu đi, liền bị nhân viên công vụ hốt quăng lên xe, họ quăng bà từ trên cao rớt xuống, bị gảy be sườn và chấn thương nặng, họ đưa bà đi cấp cứu, nhưng bà không qua khỏi. Ông Quang lên phường xin đưa bà về chỗ cũ làm đám tang theo nghi thức của đạo, nhưng ông liền bị nhốt lại, sau đó người ta đưa xe công vụ tới chở bà Chuốt đi hỏa táng.
Hai hôm sau ông Quang được thả ra, ông trở về chỗ cũ thì hỡi ơi, hơn năm trăm mét vuông nhà tiền chế, ao cá hàng chục tấn, vườn kiểng, vườn cây cổ thụ . . . tất cả thành đống xà bần vụn nát.
Cùng số phận với khu vườn nguyện của ông Quang, chùa Liên Trì, đình Thần An Khánh cũng bị san bằng. Hôm cưỡng chế chùa Liên Trì, nhà sư Thích Không Tánh bị ngất xỉu tại chỗ, người ta đưa ông đi cấp cứu, đến khi trở về, ông chỉ còn biết cầm cây nhang quỵ xuống đống gạch ngói đỗ nát. Tất cả tượng Phất và hài cốt Phật tử cùng với vật dụng thờ cúng trong chùa, người ta chở vào nhà kho.
Ông Lê Văn Tốt, Trưởng Ban Quý tế Đình Thần An Khánh nói rằng, hôm giải tỏa ngôi Đình ông không đủ can đảm để chứng kiến, ông ngồi nhà mà nghe nhói trong tim, ruột gan như ai cào ai cấu. Ông Tốt đưa chúng tôi xem bức ảnh của một người nào đó tặng ông, bức ảnh chụp lúc giải tỏa lăng mộ Tiền hiền Trần Thông Quân và phu nhân, ông nói ở nước ta hiếm có ngôi đình nào có được lăng mộ của tiền hiền, vậy mà, vì lòng tham, người ta sẵn sàn quật mồ của tổ tiên, người đã có công gầy dựng nên đất Sài Gòn -Gia Định. Một không gian cho Lễ Hội Kỳ Yên tưởng nhớ TIỀN HIỀN KHAI KHẨN – HẬU HIỀN KHAI CƠ gần hai ngàn mét vuông đã bị tước đoạt, tất cả vật dụng thờ cúng, sắc phong, hài cốt và linh hồn của tiền nhân giờ phải náo nương, ở trọ trên Đình Long Phú.
Đau xót biết chừng nào ? Quả báo nầy sẽ thuộc về ai ?
Kỳ VII: TAO BẮN . . . !

Ba ngôi nhà còn sót lại giữa cái hoang tàn đổ nát như sau một trận bom trên đường Lương Định Của, thuộc khu phố 1, phường Bình An là nhà của chị Vinh, ông Lực và Thiếu tướng về hưu Hồng Minh Hải. Nó còn sót lại, có lẽ là vì, với chị Vinh và ông Lực, người ta không dám ném ra đường một người phụ nữ tật nguyền phải nương nhờ vào đôi nạng gỗ và một ông già chín mươi mốt tuổi đời, bảy mươi tuổi đảng bị tai biến nằm liệt giường. Còn với Thiếu tướng Hải, có lẽ vì người ta sợ cái câu: Đứa nào tới, tao bắn . . . !
Khi chúng tôi tới thăm ông, ông hỏi các anh chị là nhà báo nhưng thuộc phe nào ? Thấy chúng tôi ngạc nhiên, ông nói báo chí bây giờ nhiều phe quá, chẳng biết tin ai. Khi cuộc tiếp xúc đến hồi thân thiện, ông Hải kể rằng, năm 1968, sau khi đậu Tú tài, ông được tuyển vào khoa không quân trường Võ bị Quốc gia Dà Lạt, lúc bấy giờ ông đang là biệt động thành Sài Gòn. Cấp trên yêu cầu ông nên đi học sĩ quan để tiếp tục “hoạt động trong lòng địch” khi ra trường, nhưng ông từ chối, bỏ học vào chiến khu rồi theo đơn vị trinh sát đặc công. Chúng tôi ngồi nghe ông kể những câu chuyện “xuất quỷ nhập thần” của lính đặc công như huyền thoại, bất kỳ những đồn bót, những căn cứ quân sự của đối phương, lính đặc công vào ra như có phép tàng hình.
Sau chiến tranh Campuchia, ông được phong hàm Thiếu tướng, Tư lệnh phó binh chủng đặc công miền Nam.
Khi xảy ra câu chuyện Thủ Thiêm, bí thư kiêm chủ tịch quận Tất Thành Cang tới nhà ông thương lượng rất chân tình, rằng sẽ đổi căn nhà 160 mét vuông của ông bằng hai nền nhà gần siêu thị điện máy Chợ Lớn trên đường Lương Định Của, nghĩa là ông sẽ được đền bù thỏa đáng. Ông nhẩm tính, hai nền nhà kia trị giá tương đương chín tỷ đồng, ông sẽ lên quận 9 mua được hơn hai ngàn mét vuông đất vườn chỉ hơn năm tỷ, còn lại xây nhà, hai vợ chồng cùng hai đứa con ông sẽ có cuộc sống thanh nhàn, vui thú điền viên. Nghĩ thế, ông bằng lòng trao đổi. Nhưng một hôm, ông Cang gọi ông lên cáo lỗi rằng quỹ đất không còn, chỉ đổi với ông một nền. Sau một hồi tranh cải, ông đứng lên nói thẳng: ” Người lớn với nhau không thể nói hai lời. Vậy thì tao không đi đâu cả, tụi bây cứ tới cưỡng chế, nhưng nên nhớ phải mặc áo giáp và đội nón sắt đàng hoàng, đứa nào bước vô tao bắn . . . ! Máu tao đã đổ ngoài chiến trường nhiều rồi, giờ nầy tao không còn tiếc gì nữa, nhưng trước khi chết tao sẽ bắn nát đầu bọn cướp”
Ông trở về, hàng ngày nhìn cảnh xe ủi, xe cuốc cùng với nhân viên công lực đi cướp bóc, đập phá nhà cửa xung quanh mà trào dâng căm phẩn, thương xót cảnh tan nhà nát cửa của bà con. Nhiều lúc không kềm chế được, ông muốn ra tay. . . Nhưng ông kịp nghĩ, nếu bắn thì phải bắn mấy thằng “đầu sỏ”, chớ cái đám nầy chỉ là tay sai . . .
Ông Hải đã bỏ ra nhiều ngày để nghiên cứu địa hình gia cư của những tay “đầu sỏ”, vào lối nào, ra lối nào, nhà có chó dữ hay không . . . ông đã lên “phương án tác chiến”, đặt ra những tình huống bất trắc, và, ông viết sẵn mấy bản cáo trạng kể tội từng người. Xử xong người nào, đặt bản cáo trang lên ngực người đó rồi rút lui. Ông nói, khẩu súng của ông sẽ chừa sẵn hai viên đạn cho mình nếu gắp tình huống bất trắc.
Tôi hỏi vì sao ông không cùng với bà con đi kiện mà nghĩ tới chuyện mạo hiểm như vậy ? Ông nói tôi là lính, không thích dây dưa, khi đã xem chúng nó là kẻ thù của nhân dân thì tôi ứng xử theo cách của người lính, hoặc là tấn công, hoặc là rút lui, hoặc là phòng thủ và tử thủ. Ngắn gọn như thế, không cần phải dài dòng.
Thế là hết Thủ Thiêm ơi !
Từ chị Phượng chủ tịch phường xin lỗi nhân dân đến anh Thiếu tá công an Trần Vĩnh Phúc treo cổ tự tử, giờ tới lượt Thiếu Tướng Hồng Minh Hải luôn sẵn sàng trong tư thế tấn công, huống chi đến hàng trăm, hàng ngàn con người thấp cố bé miệng từng ngày ứa gan kêu cứu, gần hai mươi năm khổ đau chờ công lý đến mỏi mòn.
Hôm qua có một cô gái nhắn tin: “ Chú ơi, con đã đọc nhiều câu chuyện đau lòng của chú viết về Thủ Thiêm, con mong chú kể tiếp câu chuyện của con, khổ lắm, nhà con bị cưỡng chế đập nát hết, con che tấm bạt dưới gốc cây lót tạm cái giường để hai mẹ con tá túc nhưng cũng bị họ cưỡng chế thêm lần nữa . . .”
Tôi đành phải nhắn tin xin lỗi cô gái, cháu ơi, làm sao chú đủ sức đủ tài để kể hàng trăm, hàng ngàn tấn thảm kịch Thủ Thiêm, bởi tội ác cứ nối dài tội ác và đau thương cứ chồng chất đau thương. Chú xin lỗi cháu ! Mỗi con người, mỗi gia đình trên ĐẤT THỦ THIÊM giờ đây giống như những trang tiểu thuyết mà bản thân chú không đủ sức đủ tài.
ĐÔI ĐIỀU VỚI CÁC ANH
Các anh là ai ? Tôi biết các anh một cách mập mờ, loáng thoáng mà Thiếu Tướng Hồng Minh Hải đã viết sẵn cáo trạng định xử các anh.
Hầu hết các anh đều ít nhứt cũng có tấm bằng đại học, dù nó thật hay giả, dù các anh đã học phổ thông hay bổ túc văn hóa thì điều chắc chắn rằng các anh đã học qua dòng văn học hiện thực phê phán mà trong đó có những tác giả lừng danh một thời như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan . . . với những tác phẩm tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến. Những tác giả ấy cũng đã bị phê phán rằng họ chỉ nhìn thấy hiện thực tối tăm, chỉ nhìn thấy cái tiền đồ tối đen như mực của chị Dậu mà không nhìn thấy cái tiền đồ rạng rỡ của dân tộc bởi chỉ vài năm sau, Đảng Cộng sản ra đời !
Nhưng, nếu giờ đây Ngô Tất Tố có đội mồ sống dậy, ông sẽ nói rằng nhân vật chị Dậu mà ông hư cấu làm gì so sánh được với những con người có thật như chị Vinh, chị Phượng, bà Giáp, cô Mỹ . . . ở Thủ Thiêm ? Giờ đây nếu Nguyễn Công Hoan có đội mồ sống dậy ông sẽ nói rằng câu chuyện Nghị Lại bày mưu cướp đất của anh Pha mà ông hư cấu làm gì so sánh được với câu chuyện có thật của ông Hùng, anh Truyền bán gas, ông Nguyễn Hồng Quang . . . ở Thủ Thiêm ? Giờ đây nếu Nam Cao có đội mồ sống dậy, ông sẽ nói rằng Chí Phèo trước khi chết còn giết được Bá Kiến, huống chi anh Thiếu tá Công an Trần Vĩnh Phúc treo cố chết âm thầm. Những nhà văn tài hoa ấy không thể hư cấu nổi một nhân vật như Thiếu Tướng đặc công Hồng Minh Hải, không thể hư cấu nổi chuyện phá đình, quật mộ tiền nhân, đập chùa, cướp bóc cả một cơ sở tâm linh và từ thiện của Mục sư Nguyễn Hồng Quang . . . Nói chung, không thể có một nhà văn nào trên trái đất nầy có đủ sức tưởng tượng để hư cấu ra những câu chuyện mà chính các anh đã tạo ra ở Thủ Thiêm, một hiện thực đầy bi thương và tội ác, thậm chí rất man rợ xảy ra ngay trên đất nước nầy, bên cạnh một thành phố được nhân danh là VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH, những khẩu hiệu mà chính các anh đã đẻ ra, treo đầy trên phố xá.
Cùng các anh ( không quý mến ) !
Tôi có đứa con gái út, cách đây gần mười năm, lúc đó cháu học lớp mười trường Quốc tế Mỹ tại Sài Gòn, có lần cháu dịch một bài luận văn của cháu làm từ tiếng Anh sang tiếng Việt để nhờ tôi góp ý ( Tôi còn nhớ rõ đó là thời điểm các anh đang cướp Eden bằng khói cay để giao cho Vincom ), đại khái thầy giáo người Mỹ ra một đề văn nghị luận chính trị xã hội như thế nầy: “ Bạn hãy chọn một vấn đề mà dư luận xã hội đang quan tâm đề bày tỏ hai thái độ: Một là đồng tình, hai là phản biện”. Cháu đã viết: Hiện nay, dư luận xã hội ở Việt Nam đang quan tâm nhất là vấn đề đất đai, những mâu thuẩn xảy ra giữa nông dân với chính quyền và các nhà đầu tư ở các dự án xây dựng khu công nghiệp và khu đô thị. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, muốn phát triển, ngoài mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao thì mục tiêu công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai mục tiêu lớn và chính đáng. Nhưng vấn đề đặt ra là đất ở đâu để phát triển các khu công nghiệp và đô thị ? Chỉ có một câu trả lời duy nhất là sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, việc sử dụng đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp và đô thị là một vấn đề tất yếu, không có sự lựa chọn nào khác.
Đó là thái độ đồng tình.
Tuy nhiên, đất nông nghiệp là quyền lợi, là sự sống của người nông dân mà mục tiêu phát triển công nghiệp và đô thị là để phát triển kinh tế xã hội, vì vậy, trước khi sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các dự án khu công nghiệp và khu đô thị thì chúng ta phải làm cho người nông dân, những chủ sở hữu đất nông nghiệp đó có dời sống tốt hơn trước, họ phải là người hưởng lợi đầu tiên trong các khu công nghiệp và đô thị đó. Nhưng với cách làm của Chính quyền Việt Nam hiện nay, họ dùng biện pháp gọi là “ Thu hồi, giải tỏa, đền bù”, họ đẩy người dân ra khỏi quyền lợi ngay trên mảnh đất vốn là sự sống của họ, nghĩa là trả cho họ một số tiền tượng trưng rồi lấy đất của họ giao cho doanh nghiệp kinh doanh, người đã giàu thì giàu thêm, người dân vốn đã nghèo còn bị tước đoạt quyền lợi, thậm chí lâm vào cảnh khốn cùng. Đó là những nghịch lý đã trở thành bức xúc trong dư luận xã hội.
Cùng các anh ( không quý mến ) !
Đó là góc nhìn, là suy nghĩ của một đứa bé mười lăm tuổi, cháu chưa biết làm chính trị và cũng chưa có khái niệm về chính trị.
Còn tôi, cha của cháu bé ấy, chỉ nhân danh là người kể chuyện, có thể kể hay và cũng có thể kể rất dở. Chỉ được cái là kể rất chân tình và chân thành, chân thật, kể một cách không né tránh dù có những câu chuyện cay đắng, phủ phàng.
Tôi kể về bài tập làm văn ngây thơ và hồn nhiên của con tôi như một câu chuyện để tham khảo cho các nhà chức trách. Tôi kể chuyện bà con Thủ Thiêm để chúng ta cùng chia sẻ nỗi đau,( cũng chẳng hy vọng gì sự chia sẻ từ những trái tim lạnh và “bàn tay sắt” ). Tôi kể câu chuyện về những dự định của Thiếu Tướng Đặc Công Hồng Minh Hải để các anh, ai là người trong cuộc biết được mà tự vệ, đề phòng. Mười lăm ngàn hộ dân với hơn sáu vạn con người ở Thủ Thiêm đã xem các anh là kẻ thù không đội trời chung, các anh đã tự dựng cho mình tấm bia ở Thủ Thiêm, sẽ vĩnh cửu ngàn năm vì nó là bia miệng.
Cuối cùng, xin chào các anh ( Không thân mến ) !
Người nông dân cầm bút: VÕ ĐẮC DANH

Sài Gòn, tháng 5 năm 2018

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.