Ghi nhớ Mai Thôn

Hôm 1-6 vừa rồi ghé Mai Thôn, là vườn kiểng kiêm quán cà phê kiêm tên gọi vùng đất sở trường trồng mai ở Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định.
Nhưng quan trọng hơn cả đây là nhà bạn ta, Sony Tran.
Trong đầu lúc đặt chân đến đây đã hiện ra hai câu: Cố thổ vân du lũy tránh đồn/ Gió chiều nay hẹn bước Mai Thôn. Nghĩ bụng chắc sẽ có một bài thất ngôn bát cú nữa đây, nhưng rồi đến nơi mới thấy nhiều chuyện hấp dẫn hơn là… làm thơ luật.
Nay về lại Tây Cống, nhớ bạn ta còn ở Nhơn Thành, bèn lấy bút ra ghi luôn cả bài cho nó cổ kính, mà lại vần ồn luôn mới ghê. hehe

Ghi nhớ Mai Thôn

Cố thổ vân du lũy tránh đồn
Gió chiều nay hẹn bước Mai Thôn
Đã nghe đá gọi nơi vườn kiểng
Còn thấy sương giăng đẫm ngõ hồn
Nhặt dấu vàng son thương tháp Nhạn
Góp màu kỷ niệm cảm sông Côn
Đêm tràn tâm sự cơn mưa hạ
Đợi nắng mai lên trở bước dồn.
(Bình Định – Sài Gòn – tháng 6 – 2018)

Mấy cảnh Mai Thôn – Ảnh: L.Điền

Advertisements

Ông sư ở Cần Giuộc

Chùa của ông sư ngày nay – Ảnh: http://phatgiaolongan.com

Bạn mình làm bác sĩ,
Là bạn bắc cầu, mãi mới biết quê bạn ở Cần Giuộc. Nhà bạn, là một hiệu buôn có tiếng từ hồi bạn còn chưa ra đời.
Hồi nhỏ, theo bạn nghe mẹ kể lại thì con nhỏ này hay ốm dặt dẹo. Một hôm mẹ ẵm bạn đến ngôi chùa trong xóm hỏi sư ông. Sư ông đã già, nhìn con nhỏ ốm yếu trên tay mẹ bảo rằng, con này kiếp trước làm sư trụ trì, đến kiếp này cũng làm thầy nhưng là thầy thuốc cứu người.
Vậy rồi sau này lớn lên, lần hồi vậy mà bạn học ngành y và thành bác sĩ thiệt.
Bạn kể, hồi thi đại học, mấy chị em cùng tuổi rủ nhau đến chùa hỏi sư ông. Có một chị được sư ông đoán là, mày học bài kỹ, nhưng năm nay rớt chắc. Cái đến chừng thi chị đó rớt thiệt. Nhưng không nản chí, chị luyện thi và năm sau trước khi thi lại đến hỏi sư ông. Sư bảo, à, năm nay mày nằm ngửa cũng thi đậu. Và năm đó chị ấy đậu dễ dàng.
Nhưng chưa quyền bí bằng chuyện bạn kể lúc sư ông đã quá già, có người dì ruột đã 52 tuổi nhân ngày tết rủ cả bọn choai choai đi chùa kêu sư xem bói. Bất ngờ nhất là sư bảo với dì, đến năm 58 tuổi sẽ làm đám cưới nha, nhưng mà đến năm 72 tuổi lại chia tay.
Về nhà kể cho má nghe, má chửi dì và cả bọn ầm ĩ, rằng đầu năm đi coi bói tào lao, làm gì có chuyện 58 tuổi làm đám cưới.
Ấy vậy mà hốt nhiên đến năm dì 58 tuổi, người yêu đâu từ nước ngoài về đòi cưới, và rồi cưới thiệt.
Nghe kể đến đây, mình buột mồm hỏi, ơ thế lúc đó má bạn có đến xin lỗi ông sư không.
Bạn bảo không, vì lúc đó sư mất rồi, sư thọ 103 tuổi nha.
Và quyền bí nữa là đến năm bà dì đúng 72 tuổi tự dưng chia tay chồng. Bạn mình bảo, lúc nghe sư nói 72 tuổi chia tay, ai cũng nghĩ bụng chắc lúc đó một trong hai người qua đời, dè đâu còn sống và chia tay đúng nghĩa luôn.
Đến giờ bạn mình vẫn nhớ sư, sư vẫn nói với mọi người rằng trong cái xóm này tui mang ơn nhất là ông chủ cửa hàng NL, tức ba của bạn mình. Ấy là khi xưa, sư xuất thân ở Bến Tre, đi tu miệt Thất Sơn, được thầy truyền pháp xong xuống núi đến xóm bạn ở Cần Giuộc thấy có miếng đất hoang bèn dừng lại che một túp lá ngồi tu. Lần hồi dành dụm mới tráng được một khoảnh sàn xi măng. Đến lúc dành dụm đủ tiền mua đôi chân đèn gỗ, sư đến cửa hiệu NL – nhà bạn, mua đôi chân đèn chưng bàn thờ Phật. Khi đó mẹ bạn đứng cửa hàng, bán xong thì ba bạn từ nhà sau đi lên, thấy sư mua cặp chân đèn, mới nói, ủa sư ở xóm mình đây mà, mới kêu mẹ trả tiền lại cho sư, kêu là đừng lấy tiền chứ. Vậy mà sư nhớ mãi. Bạn mình cũng công nhận, bất kỳ việc gì hễ nhà bạn cần chạy đến sư là sư đều sốt sắng đáp ứng.
Nhưng thiệt ra không riêng gì nhà ai, trong vùng ai có việc cũng đều chạy đến sư. Bạn kể có lần bà kia trong xóm lâm chung, nhưng trăn trở mãi mấy ngày không đi được. Người nhà chạy đến hỏi sư, sư bảo, à bà này có hứa với bà Chúa Xứ một chuyện, khi thành sẽ cúng tạ một con heo, nhưng vì nhà nghèo quá mãi không tạ được. Nay chỉ có một cách là hoặc về giết một con heo cúng tạ ngay, còn không đủ tiền thì về lấy cái thớt và con dao, thiết bàn thờ trước nhà, để thớt và cắm con dao lên, khấn với bà Chúa Xứ rằng để bà này đi xong thì cả nhà làm con heo cúng luôn. Đằng nào cũng cúng một con heo, người nhà về thiết bàn thờ để thớt cắm dao và khấn như vậy. Thế là bà đi ngay. Rồi cũng vay mượn mua một con heo để cúng trả lễ theo lời hứa của bà kia.
Lại có ông kia lúc lâm chung cũng không đi được, người nhà đến hỏi sư, sư bảo ông này còn món tiền lớn lắm nên tiếc, không đi được, nên về lấy khăn nhúng nước ấm lau ngay vùng bụng là ổng đi được. Người nhà làm theo, quả nhiên như vậy.
Nay, chùa vẫn ở xóm bạn nơi Cần Giuộc, nhưng dễ gì có được một ông sư như vậy nữa. Bạn bảo ngôi chùa nay khang trang rồi, lúc trùng tu chính thằng em trai của bạn vẽ thiết kế. Thằng này lúc sư còn sống ông có nói, mày sau này làm kiến trúc sư ngon lành lắm, có điều mày lấy giá mắc, nên lấy giá rẻ rẻ chút để có phước. “Mà đúng thằng em tui làm gì cũng ăn mắc nhen”, bạn kết thúc câu chuyện và cười hehe.
Còn mình, nghe xong nghĩ bụng hôm nào nên về Cần Giuộc một phen.
Có ai muốn đi cùng hông?
hehe

Mạng người và cái yếm

Làng Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh có một người tên là Đặng Chất rất chăm học. Sáng nào ông cũng dậy sớm để đọc sách. Một hôm, có người đàn bà láng giềng giặt hai cái yếm đem phơi ở trước sân. Một người đàn bà khác ở chung nhà, thấy đôi yếm đẹp, thừa lúc người phơi yếm đi vắng, bèn lấy trộm rồi giấu đi. Tối về, hai người đàn bà cãi nhau dữ dội và sau vì không bên nào chịu thua, nên kéo nhau ra làm lễ và thề ở đền đức Phù Đổng Thiên Vương.
Đặng Chất được quan sát tất cả mọi việc xảy ra, bèn lấy bút biên ngày tháng việc đó để xem sự thề nguyền linh ứng ra sao. Nhưng mấy tháng trôi qua, thấy người đàn bà ăn trộm yếm vẫn không việc gì, ông mới cười mỉa mai rằng: “Quỷ thần thật là linh ứng thay!”
Ngay tối hôm đó, ông nằm mơ thấy thần đến gõ cửa bảo rằng: “Ông Trạng! Ông Trạng! Sau này về làm quan phân xử các việc trong triều, liệu ông có thể lấy một mạng người đền hai cái yếm được chăng?”
Đặng Chất giật mình tỉnh dậy, biết rằng mình phê phán sai lầm, nên tạ lỗi với thần. Từ đó về sau, mặc dù đỗ trạng và làm quan, ông cũng không hề bỡn cợt với thần thánh nữa và cũng không bao giờ ông quên bài học giá trị của mạng người.

Quách Tấn dịch Nhật ký trong tù

 

Mới đó mà gần 3 năm kể từ lúc tàng bản quyển Nhật ký trong tù bản dịch của Quách Tấn, Nhà XB Thế Giới và tạp chí Xưa & Nay in (hình 1).
Lúc vừa đọc, đã định làm hẳn cái bài. Nhưng rồi nghĩ lại thôi. Chuyện này để lúc nào đó nói cho tiện, chứ nói ngay thành ra bất tiện.
Đến nay chưa phải hết bất tiện, mà vì nhân lúc chiều ngồi ở thư viện, lục được bài thơ Quách Tấn xướng họa với bạn, post lên FB, bác Bui Quoc Huy vào nhắc chuyện Nhật ký trong tù do Quách Tấn dịch.
Nhắc thì cũng không có gì, việc ấy đến nay đã nhiều người biết, xem hình bên dưới sẽ thấy sách in 1000 cuốn (hôm nọ có cuốn gì in 150 bản mới tạm coi là hiếm, hehe). Nhưng có 1 ý ai đó bảo rằng Nhật ký trong tù bản dịch của Quách Tấn đã “xuất bản năm 1960 ở Hà Nội”. Bác Bui Quoc Huy cho rằng đây chắc là “ông Tấn nào đó”. Còn mình thì nghĩ nếu đây không phải là kiểu đạo thính đồ thuyết thì chắc có chút nhầm lẫn nào đó thôi.
Vì cứ theo bản in năm 2015 này, với lời giới thiệu về lai lịch bản thảo Nhật ký trong tù do Quách Tấn dịch, thì mãi năm 1978, ông Dương Trung Quốc mới phát hiện ra bản thảo, nhờ chuyến đi Nha Trang và được chính Quách Tấn trao cho.
Đến năm 2015, lần xuất bản đầu tiên này cũng có công của ông Dương Trung Quốc. Sách in ra, người đọc thấy ngay về câu chuyện Quách Tấn dịch, thông qua lời Quách Tấn được ông Dương Trung Quốc trích vào Lời giới thiệu (hình 2), và thủ bút của chính Quách Tấn ghi khi dịch xong, mà sách in lại nguyên bản (hình 3).
Cho nên, cái thời điểm “năm 1960 ở Hà Nội” nhắc đến trên kia, có thể chính là duyên sự Quách Tấn có được quyển thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chủ tịch: ông Quách Tấn ở miền nam trong điều kiện đất nước chia đôi, bạn ông Quách ở nước ngoài có được 1 quyển Nhật ký trong tù bản in năm 1960 ở Hà Nội, đã gửi về nam cho ông Quách. Ông Quách nhận được sách, mới dịch lại một bản mà ông gọi là “phỏng dịch”.
Và vì vậy, không thể nào có 1 bản dịch Nhật ký trong tù của Quách Tấn được in năm 1960 ở Hà Nội, vì mãi sau đó 15 năm ông mới dịch xong.
Câu chuyện dịch thơ này, lúc nào sẽ bàn tiếp. Nay chụp một trang trong cho đủ lệ bộ vậy thôi (hình 4).
hehe

Chút lòng – thơ Quách Tấn

[Bắt gặp trên Bách Khoa số ra ngày 15-4-1957 bài thơ của Quách Tấn và bài họa của bạn ông. Kèm lời giới thiệu của Tòa soạn Bách Khoa thiệt quyền bí. Bèn đem về đây đặng làm tư liệu.
Có điều địa danh mà Quách Tấn viết dưới bài e là Phú Phong chứ không phải Phú Phang như bản in ở đây].

Chút Lòng
(Gửi tặng Nguyễn Hữu Lộc và Bùi Đặng Hà Phan)

Từ phen biển mộng khép trăng song,
Nửa mẫu vườn quê tạm náu lòng.
Đi đứng luống thương đường lối hẹp,
Ăn nằm dám phụ nước non chung.
Mười phương tin tức chim hờ hững,
Ba kiếp văn chương bút ngại ngùng.
Bạn tác ví thương tình gặp gỡ
Đừng đem mây ráng đọ nghi dung.
(Phú Phang 1950
Quách Tấn)

Họa vận

Trời xanh lồng lộng đọng khung song
Đây mảnh vườn con bát ngát lòng…
Trăng nước mai chiều thơ mộng đẹp
Đầy vơi nhân thế hận sầu chung
Mây trôi ngày tháng tình lơ lửng;
Bướm lạc hồn hoa ý ngại ngùng
Chỉ sợ ráng mây ngày gặp gỡ:
Hương tình đâu nữa ngát hoa dung.
(Trung Lương 1952
Bùi Đặng Hà Phan)

Cảm hứng hậu chiến và ngã ba lập thân

Sách do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành quý II-2018 – Ảnh: L.Điền

Có thể nhận thấy tác giả Nguyễn Thành Nhân đã từ những chìm nổi của chính mình để đặt ra trước bạn đọc hôm nay một vấn đề chung đang rất cần thiết: Mỗi thanh niên trước ngã ba đường tự lập thân.

Mặc dù xét về cấu trúc, tác phẩm mới nhất của anh – Nhà văn già và em mọi nhỏ – có vẻ rất chông chênh bởi 12 truyện ngắn được xếp chung với 1 truyện dài, tuy nhiên khi đọc mới nhận ra có lẽ đây là chủ ý của tác giả. Anh muốn đưa bạn đọc đến thế giới của những người thanh niên gắn đời mình với đô thị, đang hứng chịu những buồn vui thành bại của đời sống thị dân, mà mỗi ngày qua, có thể chính người trong cuộc cũng quên đi thành phần xuất thân của mình.

Mà thành phần xuất thân của mỗi người thì có gì quan trọng? Cách đặt vấn đề có vẻ vu vơ ấy thật ra lại là một phần trong cảm hứng truyện của nhiều nhà văn. Với Nguyễn Thành Nhân, bạn đọc sẽ bắt gặp ở đây có trường hợp từ biến động lịch sử của công cuộc giải phóng miền Nam đã đẩy một số phận người thành… nhân vật của anh.

Sự biến lịch sử đôi khi cắt đôi những gia đình, phân ranh giữa thành thị và nông thôn, tách lìa các thế hệ trong cùng một gia đình… được nhà văn xâu chuỗi lại, rồi đọc tâm sự của mỗi người ở đằng sau mỗi thái độ sống cho độc giả cùng nghe. Làm được điều đáng quý đó thật không dễ dàng.

Sau tác phẩm Mùa xa nhà (2004), đến nay, hình ảnh người lính hậu chiến vẫn còn lẩn quất trong các trang viết của Nguyễn Thành Nhân. Đó là một thời tuổi trẻ của chính tác giả mà cũng là hiện thực lịch sử của nước nhà. Cái thực trạng “một thời đánh bắc dẹp đông/ chiến tranh kết thúc dở ông dở thằng” (thơ Hoàng Đình Quang) đến nay đã có độ lùi, nhưng những thiết tha về tương lai của tuổi trẻ, những hoài bão dấn bước vào đời, kiến tạo cho mình và cộng đồng những giấc mơ trở thành hiện thực… hẳn không bao giờ lạc hậu.

Nhưng văn chương thì có nguy cơ lạc hậu. Chính quan niệm “thế nào là văn lạc hậu” từng được nhà văn Inrasara đề cập tại một diễn đàn trao đổi văn chương (Cà phê thứ bảy) tổ chức ở TP.HCM cách đây 4 năm. Tại đó, vấn đề khoảng cách giữa trang viết nhà văn và hiện thực cuộc sống được đem ra bàn bạc rất sinh động. Nay chính Nguyễn Thành Nhân bằng một cách không ồn ã, anh viết về chính những người trẻ quanh anh, cũng là một cách để hiện thực không tách rời trang viết. Điều đáng quý là văn chương có cách “tải” cuộc sống không như những loại hình truyền thông khác. Người ta sẽ nhận ra cái đau dai dẳng đến không ngờ của câu chuyện vượt biên và mối tình sâu thẳm của đôi lứa trẻ (Một câu chuyện vô lý). Bạn đọc cũng sẻ chia được một ý niệm rằng nghệ thuật đôi khi trở thành liều cứu rỗi duy nhất cho những mảnh đời bất hạnh không lý giải được (Trên đồi cỏ úa). Hay có khi chính những điều thiện chừng như nhỏ nhặt tầm thường ngay cạnh ta cũng có tác dụng khiến thay đổi một nếp nghĩ, một quan niệm sống, và làm biến đổi hẳn tâm thế vào đời của một người trẻ (Truyện cổ tích đêm Giáng sinh).

Và lần này, ở tập Nhà văn già và em mọi nhỏ, người ta bắt gặp Nguyễn Thành Nhân bắt đầu trăn trở về nghề viết. Một nhà văn già khi đi thực tế phát hiện những gì từ thế giới mạng mang lại cảm hứng viết cho mình hóa ra không thật, nhưng cuộc sống lại bất ngờ mở ra cho ông những trang đời với chất liệu rất thật và quý giá khi ông gặp “cô mọi nhỏ”. Từ đó, sự băn khoăn về nghề viết trong nhà văn kia bắt đầu tìm thấy hướng ra: “Viết ra những điều không có ích cho ai, viết để phục vụ cho một cái gì khác với chính cuộc sống, cuộc sinh tồn đầy dẫy gian truân của những phận người là một sự vong thân…”. Và khi nhà văn nghiêm túc chiêm nghiệm những điều này, thì cho dù chỉ còn mấy chục bạc gửi cho “cô em mọi nhỏ” như nhà văn già kia, hay những trang viết lặng lẽ như tác giả này, đều là những mạch chảy không lạc hậu giữa cuộc đời…

Lam Điền

Xuân du

Cúi gấm sênh sang nhuộm nắng trời
Hương rừng từng lớp dậy Mùa Tươi
Tơ tri kỷ mắc đường ngang dọc
Vàng cố nhân pha tiếng nói cười
Biển cuốn Đài Thơ lên sóng mắt
Thành nghiêng Lầu Nhạc giữa làn môi
Gió xuân hẹn khách ngoài muôn dặm
Tỏ(1) bóng hoa đương hiện bóng người

(1) Chữ này bản in là “Tó”, nhưng không rõ nghĩa, ngờ là “tỏ” bị sắp chữ nhầm.
Và chữ đầu câu đầu: “Cúi”, cũng tối nghĩa.

Xuan_du_Bui_Khanh_Dan

Bản in có chữ “Tó” câu cuối ngờ bị nhầm.

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.