Một góc trời Huỳnh Phan Anh trong lòng bằng hữu văn chương

Sách do NXB Văn hóa Văn nghệ cấp phép vừa ra mắt – Ảnh: Lam Điền

Tập sách ‘Huỳnh Phan Anh – đi tìm tác phẩm văn chương và kinh nghiệm hư vô’ vừa ra mắt sáng 10-1 sau hơn 4 tháng ngày nhà văn, dịch giả họ Huỳnh giã biệt văn đàn.

Khi Huỳnh Phan Anh nằm xuống trên đất Mỹ, những bằng hữu văn chương của ông tại Sài Gòn (mà nhà thơ Vũ Trọng Quang giữ vai trò tổ chức) bắt đầu thực hiện bản thảo tập sách này.

Nhan đề “Đi tìm tác phẩm” và “Văn chương và kinh nghiệm hư vô” là hai tác phẩm có chất triết luận của Huỳnh Phan Anh về văn chương và sáng tác. Có lẽ khá lâu rồi, không khí học thuật trong nước không còn những trăn trở suy tư có tính chất triết luận về con người – đặc biệt là con người sáng tác – như một phần của tác phẩm chính mình.

Do vậy, mặc dù Huỳnh Phan Anh đã về trời, tập sách này lại chính là một khoảng trời nho nhỏ của ông, do chính những bằng hữu từng thân thiết cật ruột hoặc chỉ sơ giao hâm mộ từ xa… cùng chung tay thực hiện.

Trong hai mảng nội dung của sách này, phần tác phẩm của Huỳnh Phan Anh được thực hiện kỳ công. Nhóm thực hiện đã tinh ý tìm lại không chỉ những tác phẩm độc đáo của Huỳnh Phan Anh từng công bố tại Sài Gòn trước kia, mà một số bài viết của ông về văn chương sau này cũng được tập hợp.

Chẳng hạn nếu không phải là người theo dõi và am hiểu tình hình văn chương Sài Gòn thời trước và sau đổi mới, sẽ không biết Huỳnh Phan Anh từng tâm đắc và có bài viết rất hay về Phan Thị Vàng Anh, in trong tập Khoảng cách văn chương từ năm 2002. Nay in lại trong tập này.

“Huỳnh Phan Anh đối với tôi là một giá trị, một tên tuổi và là một tình thân”, nhà thơ Vũ Trọng Quang tâm sự nhận buổi ra mắt sách. Ông Quang cũng cho biết quyển sách này dự định ra mắt đúng dịp 100 ngày sau khi Huỳnh Phan Anh tạ thế nhưng rốt cuộc không kịp thủ tục.

Một điểm kỳ công nữa là tiểu thuyết Những ngày mưa của Huỳnh Phan Anh được in lại ở đây. Những ngày mưa là tác phẩm được xếp vào dòng tân tiểu thuyết của Huỳnh Phan Anh – một bút pháp mới lạ được trình hiện từ rất sớm và được đón nhận nồng nhiệt. Rất tiếc là hiện nay ngay trên thị trường sách cũ tác phẩm này cũng gần như  tuyệt bản, nên khi được một nhà sưu tập cung cấp sách gốc, nhóm thực hiện đã đánh máy nhập liệu lại toàn bộ và in lại ở đây.

“Chính vì Huỳnh Phan Anh từng sử dụng bút pháp tân tiểu thuyết, nên ông tìm thấy trong văn của Phan Thị Vàng Anh có kiểu bút pháp này, như cùng tần số với ông nên ông rất thích”, Vũ Trọng Quang chia sẻ.

Tôi nghĩ Vàng Anh có tất cả để gây cho người đọc những ấn tượng không bình yên, ngay khi cô nói về những điều rất thường tình của cuộc sống, bằng cái giọng hờ hững xem ra chẳng có gì phải trố mắt kinh ngạc cả… Tất cả giản dị quá, tự nhiên quá, dưới ngòi bút lạnh lùng của Vàng Anh dường như không chuẩn bị cho mình và cho người đọc, cũng không hàm ngụ một gợi ý hay gửi gắm điều gì mặc dù nó không thiếu sự nhạy bén, sự sắc sảo, sự tinh tế sẵn sàng nắm bắt những gì ẩn tàng nhất, đằng sau những cái thường tình nhất, gần gũi nhất…” (Huỳnh Phan Anh viết về Phan Thị Vàng Anh)

Và một mảng nội dung của tập sách chính là tấm lòng của bè bạn văn chương dành cho ông bằng các trang viết. Buổi ra mắt sách cũng là một phần của nội dung này: những người thân thiết với Huỳnh Phan Anh hẹn nhau đến để nhắc nhớ, trao đổi, chia sẻ và bộc bạch tâm tình… Từ đó, hình ảnh một Huỳnh Phan Anh được hiện ra sống động trong nhiều góc nhìn.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhớ đến những lần Huỳnh Phan Anh bù khú bạn bè đến quên cả bệnh tình, quên rằng cơ thể “chỉ còn nửa cái dạ dày”. Hoàng Khởi Phong ghi nhận những bài viết của Huỳnh Phan Anh có tác động rất lớn đến thế hệ viết văn nhỏ hơn ông khoảng 5-7 tuổi, bởi chính Huỳnh Phan Anh đã “mở mắt cho nhiều người”.

Trong lòng bạn bè, Huỳnh Phan Anh là một trường hợp đặc biệt, ông như người có hai nhân cách: bề ngoài do thời cuộc có lúc dẫn đến phóng túng bê tha, nhưng thẳm sâu trong tâm hồn ông vẫn là niềm trân trọng văn chương và tinh nhạy với những sáng tác mới.

Có mặt tại buổi ra mắt sách, một người bạn thân của Huỳnh Phan Anh là ông Lê Bá Chương đã kề lại đoạn đời ông cùng Huỳnh Phan Anh la cà các quán nhậu trong giai đoạn nhà văn dịch giả họ Huỳnh như rơi vào tình trạng bất đắc chí. “Tôi thấy anh cứ đi nhậu hoài, đến một hôm tôi nói, nếu anh không quay lại với văn chương, tôi không chơi với anh nữa. Vậy mà sau đó mọi người thấy anh quay lại với văn chương thật”, Lê Bá Chương kể.

Riêng ở mảng dịch thuật, tác giả Nguyên Cẩn đã đọc qua hàng chục dịch phẩm của Huỳnh Phan Anh, để rồi rút ra một điều thú vị: Huỳnh Phan Anh dịch văn xuôi hết sức lãng mạn mặc dù ông ít khi dịch thoát để bảo đảm tính thẩm mỹ văn chương, trong khi dịch thơ thì ông lại rất nghiêm túc”.

Và Huỳnh Phan Anh còn có một tấm lòng, một cái nhìn liên tài xuyên thế hệ, bạn đọc sẽ tìm thấy trong tập này không chỉ bài về Vàng Anh và Bích Ngân, bên cạnh đó là những nhận xét có trách nhiệm về Nhất Linh, Y Uyên, Hàn Mặc Tử, Hồ Biểu Chánh, René Char… là những kinh nghiệm văn chương thật đáng quý.

Lam Điền

Nhà thơ Vũ Trọng Quang phát biểu – Ảnh: Lam Điền
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc phát biểu – Ảnh: Lam Điền
Anh Nguyên Cẩn Phạm Văn Nga phát biểu – Ảnh: Lam Điền
Các bạn hữu và người hâm mộ Huỳnh Phan Anh lên trình diễn ca khúc Ly rượu mừng mở màn buổi ra mắt sách – Ảnh: Lam Điền

Mừng thọ 102 tuổi nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu

Cụ Nguyễn Đình Đầu 102 tuổi bắt tay cụ Nguyễn Đình Tư 99 tuổi – Ảnh: Lam Điền

Hôm nay Hội sử và giới yêu quý nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu tề tựu về ngôi nhà đối diện sân Tao Đàn mừng thọ cụ tròn 102 tuổi. Tính theo tuổi mụ, đến 12 tháng 3 tới đây cụ mới tròn 102 và bước sang tuổi một trăm lẻ ba. Tuy nhiên, theo chị Trang – con gái cụ – đây là giai đoạn cụ khỏe khoắn nhất trong thời gian gần đây: “Vừa rồi đi khám tổng quát, bác sĩ ngạc nhiên vì ở tuổi 102 mà lục phủ ngũ tạng máu huyết cụ đều không có tì vết gì”. Nên tạp chí Xưa & Nay, và Hội KHLS Việt Nam quyết định đến nhà cụ gặp mặt cho vui, vừa là đầu năm 2021, vừa mừng cụ thượng thọ.
Mình đến sớm, gặp anh Tiến con rể cụ đứng bên dưới đón mọi người, lát sau thì anh Hạnh Xưa & Nay đèo ông Dương Trung Quốc vừa từ Hà Nội giá rét kịp vào.
Mọi người quây quần trên gác hai, lâu ngày không gặp, cụ Nguyễn Đình Đầu tuy gầy đi nhưng vẫn còn nói chuyện minh mẫn, gặp mình cụ mừng, nhắc tên và nhắc báo. Anh Hạnh nói ngó vậy mà cụ vẫn còn viết được nghen, bài mới nhất cụ viết về hồi ức ngôi trường dạy nghề ở Hải Phòng ngày xưa, vừa gửi Xưa & Nay kìa. Mọi người lắc đầu lè lưỡi khâm phục.
Lục tục mọi người trong giới sử kéo đến chúc mừng cụ. Chị Quách Thu Nguyệt trên đường đến lễ 5 năm Đường sách tranh thủ ghé ngang và xin phép ôm cụ Đầu một “cái ôm năm mới”. Vợ chồng GS Huỳnh Lứa đến chung vui là thông báo với cụ “tụi em sắp kỷ niệm 60 năm ngày cưới”; rồi GS Phan An đến kể chuyện năm xưa đi Nga với cụ Đầu, trong đoàn có ông Th. giỏi tiếng Nga nhất được phân công thông dịch thì khi sang đó gặp người yêu cũ nên tách đoàn bỏ đi mất tiêu, đến chừng gặp gỡ làm việc, cụ Đầu kêu cụ Phan An dịch hộ, cụ Phan An dịch xong, cụ Đầu nói, không ngờ ông nói tiếng Nga hay thế, nhưng theo cụ Phan An thì ngay câu đầu tiên cụ dịch, phía Nga không hiểu cụ Đầu nói gì, mà cụ Đầu cũng không biết bên Nga nói gì. Hehe
Vợ chồng TS Nguyễn Nhã lễ mễ bưng đến 102 chiếc bánh hoa hồng nhân thịt, giới thiệu là đặc sản xứ bắc, làm riêng mừng thọ cụ Đầu.
Cụ Đầu ngồi trên ghế, nhìn mọi người và bắt tay chào đón, đến phần phát biểu, cụ nói một mạch, rằng “chúng ta tôn trọng thiên nhiên, trung thành với thiên nhiên nhưng vẫn dựa vào xã hội. Tôi được làm quen với những người trẻ hơn, cũng là trong tinh thần tôn trọng thiên nhiên và tôn trọng con người xã hội, như vậy có một sức hút đặc biệt. Cả thiên địa nhân đều có sức hút, chúng ta quen nhau dù trong trường hợp nào cũng là từ sức hút xã hội như vậy. Xin cảm ơn các anh chị em cũng là cảm ơn xã hội”. Mọi người vỗ tay. Và con cháu cụ gồm 4 thế hệ tứ đại đồng đường cùng tập trung hát bài Happy Birthday bằng các thứ tiếng Anh, Nhật, Pháp… đặc biệt vui.
Ông GS Võ Văn Sen từ vị thế một người có giao tình với cụ Nguyễn Đình Đầu từ hơn 30 năm trước nay đề xuất nên gọi cụ là sử gia Nguyễn Đình Đầu thay vì cứ gọi nhà nghiên cứu như lâu nay. Điều này được mọi người ghi nhận và áp dụng vào các đoạn xưng hô kế sau đó. ahihi
Đến nhà cụ hôm nay còn có ông Bùi Xuân Đức giám đốc thư viện Khoa học Tổng hợp. Ông Đức nghe nói đến 12-3 này mới đúng là ngày cụ Đầu tròn tuổi mụ 102, bèn nghĩ ra một chuyện, là đến đó nên tổ chức một cuộc trưng bày chỉ gồm các sách của tác giả Nguyễn Đình Đầu, đồng thời mời các nhà nghiên cứu, những người yêu mến cụ trong giới sử đến trò chuyện về hành trình nghiên cứu sử của cụ Nguyễn Đình Đầu, cũng là một việc nên làm.
Nghe ý kiến đó, cụ Nguyễn Đình Đầu bèn nhẩm tính, cụ bảo tôi viết được một số sách; riêng bài báo thì chắc ít nhất cũng 1000 bài từ các báo trung ương đến địa phương. Hai báo tôi viết nhiều nhất là tạp chí Xưa & Nay và Công Giáo Dân Tộc. Có điều hiện nay tôi giữ được chừng khoảng một nửa số bài báo thôi.
Nhà sử học Dương Trung Quốc thay mặt tạp chí Xưa & Nay phát biểu, nhắc lại rằng kể từ khi Xưa & Nay ra những số đầu tiên vào năm 1994 thì tác giả Nguyễn Đình Đầu đã có bài, và từ bấy đến nay, “bác Đầu là cộng tác viên bền bỉ nhất với Tạp chí”.
GS. TS Võ Văn Sen nhắc lại những đóng góp lớn của cụ Nguyễn Đình Đầu cho phong trào sử học nước nhà, mà lớn nhất phải kể đến là cùng với GS Trần Văn Giàu khôi phục hoạt động của hội sử học Việt Nam tại TP.HCM thông qua việc thành lập Hội Sử học TP.HCM. Ông Sen cũng nhắc đến những đóng góp của cụ Đầu về các tư liệu khẳng định chủ quyền biển đảo là có ý nghĩa rất to lớn đối với giới nghiên cứu sử và người dân cả nước.
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến nhân dịp này đề xuất Hội KHLS Việt Nam nên xem xét thành lập một chi hội mang tên Nguyễn Đình Đầu, vừa để ghi nhớ những đóng góp của cụ, vừa để các thế hệ sau này tiếp tục con đường nghiên cứu sử, tiếp tục các đề tài sử học mà cụ đã gợi ra.
Đây cũng là một ý kiến có chút táo bạo từ tấm lòng của một cựu sinh viên ngành sử và hiện đang theo đuổi công việc nghiên cứu sử.
Chốt lại chương trình, nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc phát biểu, ông kể câu chuyện hồi GS Trần Văn Giàu và cụ Vương Hồng Sển còn sống, có lần cụ Giàu thăm cụ Sển, chúc cụ sống lâu trăm tuổi, xong cụ Sển nói thôi chúc vậy là có giới hạn, cụ Giàu hỏi lại chớ anh muốn chúc sao, cụ Sển nói, tui muốn sức khỏe tui ngày mai vẫn như sức khỏe ngày nay, tức là không có giới hạn bởi cái ngày mai… thì vẫn là ngày mai. Cụ Giàu quay lại nói với mọi người, nay mình học được một lời chúc hay. Nhân đó cụ Ngạc bèn mượn ý chúc cụ Đầu sức khỏe ngày mai cũng như ngày nay.
Ngồi kế bên mình, anh Xu bảo: năm trước cụ Đầu yếu lắm, có lúc tưởng không qua khỏi nên đã nhờ cha xứ đến làm lễ xức dầu đó nghen, may mà sau đó vượt qua được và giờ khỏe lại.

P.S. Mình thường không thích chụp các loại lẵng hoa của quan chức gửi đến các sự kiện. Nhưng lần này phá lệ, không phải vì cái lẵng hoa của chị Dung gọi cụ Nguyễn Đình Đầu là “nhân sĩ”, mà vì chuyện khác, cái này chị Quách Thu Nguyệt có biết. haizzz

9.1.2021

Những người đến trước chụp hình chung với cụ Đầu, bìa trái là chị Trang – con gái cụ – Ảnh: Lam Điền
TS Quách Thu Nguyệt và cái ôm đầu năm dành cho cụ Đầu – Ảnh: Lam Điền
Mọi người chụp ảnh lưu niệm vào cuối buổi – Ảnh: Lam Điền

Quảng Hương già lam

Chùa ẩn mình trong đám lá xanh
Chim gù như tiếng gọi cầm canh
Cõi trần khói bụi ồn đô thị
Còn khuất đâu đây chút ngọt lành…
4.1.2021

Một khoảng trời nhà bạn,

Nhà bạn Trúc Quỳnh có khóm cúc rực rỡ ngay sân

Nơi đây có ruộng đồng núi non sông suối. Có nhà bạn ta rất đặc biệt: thường ngày không mấy người ở nhưng năng lực đủ thù tiếp cả mấy chục người già trẻ nếu bất ngờ xuất hiện.
Nơi đây làng mạc thanh bình, không đến mức tối ngủ không cần đóng cửa, nhưng so với nơi cách đó 50km nổi tiếng trộm cướp đào tường khoét vách lấy từ quần áo đến nồi niêu, thì nơi đây ông Sáu chủ rẫy thanh long sống một mình với hàng lô lốc đồ đạc máy móc dụng cụ mà không mất trộm bao giờ… mới biết quả thật chốn này là nơi Nghiêu Thuấn của dải đất quê nhà rồi vậy.
Nhưng cái hay không chỉ ở chỗ đó, cái hay còn ở chỗ người dân xứ này tuy xa thành thị hiếm được đọc sách mà ứng xử văn minh và chân thật nghĩa tình. Không cần nói chuyện xa xôi, chỉ nhìn một nhà đông con, lớn lên tản mác khắp nơi, mà khi hẹn về nhà mẹ thì mỗi người một việc góp tay góp chân cùng nấu nướng quét dọn làm lụng rần rần mà vui vẻ, đề huề nhưng chạy việc, và đặc biệt người nào tánh nấy, hoàn cảnh có chênh lệch nhau nhưng ráp lại vẫn hòa đồng dưới một mái nhà. Cái không khí ấy, tinh thần ấy, nếu ai từng chứng kiến những họ hàng ăn nên làm ra, có của cải và địa vị nhưng nhóm họp gia đình lại rất khó khăn, có khi một năm ngày giỗ về nhà mẹ mình nhưng mỗi người mỗi ý, cùng nhau ngủ lại một đêm đã là chuyện khó, còn chuyện chị em chung tay làm một món ăn thôi thì rất hiếm hoi…, mới biết nơi đây âm đức của gia đình còn gìn giữ được ít nhiều.
Người như vậy nơi như vậy, kể ra là gần với đạo, một sự gần gũi tự nhiên, như cách hòa hợp trong một bữa ăn, có người trường trai có người ăn mặn, mà vẫn vui vẻ hòa đồng. Xong rồi nghĩ lại, chuyện đơn giản vậy nhưng mà được vậy, thật không giản đơn đâu.

[Dưới chân núi Ya Tá, 2.1.2021
Lam Điền]

Bùm mẹ và Bùm con trên núi gần nhà bạn,
Bùm mẹ phía trước và Trúc Quỳnh phía sau giữa vạt cỏ lông trên núi,
Bùm con trên bờ suối sau nhà,
Lò tráng bánh – nguồn sinh kế của người mẹ già ở quê,
ngọn tre nơi bờ suối sau nhà bạn,

Cùng Lư Nhất Vũ vi vu với bạn bè văn nghệ qua trang sách

Tập sách Vi vu tình đời do NXB Văn hóa Văn nghệ vừa ấn hành – Ảnh: L. ĐIỀN

Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ vừa ra mắt tập sách đặc biệt: Vi vu tình đời. Đây là tập sách thứ hai của một tác giả tuổi 84 ra mắt trong “năm Covid” 2020 này – thành quả lao động thật đáng khâm phục.
Nhưng tập sách đặc biệt ở chính nội dung, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ ở tuổi ngoại bát tuần nhìn lại cuộc đời mình, tập hợp những bài viết lâu nay, “san định” lại để thành tập. Ông nhìn thấy quãng thời gian sống và làm viếc mấy chục năm nổi trội lên 4 chữ vi vu và tình đời. Tiếng ngân vi vu trong sự nghiệp âm nhạc của ông đã là một lẽ, còn có cả những chuyến đi bất tận tháng ngày đồng hành với người bạn đời là nhà thơ Lê Giang để sưu tập và khảo cứu dân ca khắp các vùng miền. Cái thanh âm trong công việc/ sự nghiệp ấy, nằm gọn trong hai chữ vi vu. Còn tình đời là một phần sâu nặng hơn đối với mỗi người, lại cũng là phần nội dung quan trọng của tập sách này.
Bằng cách gọi thân thuộc rằng chỉ là những trang viết về thầy và bạn, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ viết dưới dạng hồi ức về một loạt các nhạc sĩ Việt Nam, tập trung ở những người ông có giao tình thân thiết: Tô Vũ, Trần Kiết Tường, Nguyễn Văn Tý, Phan Huỳnh Điểu, Xuân Hồng, Hoàng Việt, Thái Ly, Phan Nhân, Hoàng Hiệp, Triều Dâng, Diệp Minh Tuyền…
Thân phận người nghệ sĩ trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, những nhạc sĩ trong nền tân nhạc Việt Nam đã đi vào kháng chiến, sống và sáng tác ra sao, những tình huống “đổi ca cho nhau trong cuộc kháng chiến trường kỳ” diễn ra như thế nào… Đề tài ấy có lẽ còn thu hút giới nghiên cứu lâu dài về sau. Ở đây, chúng ta bắt gặp những tư liệu độc đáo, những tâm sự chân tình tự đáy lòng giữa những người nghệ sĩ với nhau… mà tác giả Lư Nhất Vũ có duyên may được làm đồng nghiệp và đồng đội ở cự ly gần.
Có những tình tiết chỉ những người trong cuộc thuộc giới nhạc sĩ với nhau mới biết, như duyên do ra đời bài hát Anh ở đầu sông em cuối sông của Phan Huỳnh Điểu phổ thơ Hoài Vũ, là xuất phát từ một bản nhạc trước đó cũng phổ thơ Hoài Vũ: bài Vàm Cỏ Đông, do Trương Quang Lục phổ. Bấy giờ là một buổi chiều đi cõng gạo ở Liên khu 5, trên đường về căn cứ, Phan Huỳnh Điểu nghe tiếng hát của một chiến sĩ trong đoàn từ bắc vào: “Ở tận sông Hồng em có biết/ quê hương anh cũng có dòng sông…”. “Mặc dù chưa một lần tới Long An và chưa hề thấy hai con sông Vàm Cỏ, nhưng tôi bắt đầu thấy mình đã kết duyên gắn bó với mảnh đất Long An này rồi! Và những ngày đầu tiên miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi mới có dịp quen biết nhà thơ Hoài Vũ, và phổ nhạc ngay bài thơ Miền hạ, tức bài Anh ở đầu sông em cuối sông”, Lư Nhất Vũ trích lời tâm sự của Phan Huỳnh Điểu.
Hay biệt tài của nhạc sĩ Xuân Hồng không chỉ ở cái duyên câu chữ, ở khả năng thượng thừa chăm sóc cước vận và yêu vận trong lời nhạc, mà còn là một người rất có duyên kể chuyện cười: “ảnh kể có duyên, còn chép chép cái miệng thêm thắt tình tiết tục mà thanh…”, Lư Nhất Vũ nhớ lại.
Từ mối duyên với những người trong giới, trang viết của Lư Nhất Vũ có được độ tin cậy và trở thành một kênh để tìm hiểu tâm trạng của những người “trở thành nhân vật” trong tập sách này. Quả thật có những cứ liệu đáng quý, chẳng hạn tâm sự của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vào năm 64 tuổi: “Bài gì của tôi đáng nhớ quần chúng nghe đã nhớ. Bài gì người ta nghe rồi mà không nhớ có nghĩa là cũng đáng để người ta quên”. Thái độ sòng phẳng với mình và với công chúng của mình như vậy, phải một người gần gũi như Lư Nhất Vũ mới nhận ra, bắt được, và còn quý hơn là ghi lại cho công chúng mai sau.
Lam Điền

Ta đi

Nhà thò đổ trên núi Ba Vì, ảnh chụp tháng 11-2020

Ta đi về hướng không quen
ngõ tối đêm hoang tuyệt ánh đèn
bắt gặp một thời lui kiếp lại
nghe bùn đen níu giọt chân sen,

Ta đi về phía hang sâu
gió lộng chiêm bao cuối lộn đầu
sóng vỗ ngọn tùng che tiếng nhạc
trong trần gian có lẫn ai đâu,

Ta đi về ngọn thác chim reo
đá sỏi lên tay lặn xuống đèo
mây trắng vẫn còn mơ đáy nước
để nam tào bắc đẩu xin theo,

Ta đi mây bụi khuất ngàn sau
tắt lửa tha hương dọn bến tàu
nhặt lại luân hồi trong sắt vụn
để mùa sang trắng bãi hoa lau,

Ta đi còn tiếng hoa rơi
mắt liễu đang xanh trắng một trời
để chạm tay vào muôn nếp ngủ
động sơn hà tháo bỏ ham chơi,

Ta đi chưa bước động lòng chân
mưa đã rơi xa nắng đã gần
râm mát đã vào tam tứ lộ
dám đây rồi tiếp tục qua phân,

Ta đi chưa hết đoạn phù vân
đã thấy hoa niên dạt xuống trần
giả bộ đến hồi như đứng lại
nghe bên mình ai nấy phân vân…

02.12.2020
Ảnh: đại ka Nguyen Ngoc Tam

3 bài thơ Vũ Hoàng Chương trên Hóa Đạo

Bắt gặp bài thơ 3 luật của Vũ Hoàng Chương, đăng trong tập san Hóa Đạo số 3 ra năm 1970.
==!!!==

Người giữa đất trời,

I/ Mệnh Trời biết tự bốn năm qua
Nay trước Trời ban, học đạo Già
Nhỏ vẫn yếu hoài thân phận ấy
Già thêm mạnh mẽ phúc duyên ta
Buông thuyền rượu, vớt bầu Trang Tử
Đốt lửa thơ, tìm bóng Đạt Ma
Thành Phật thành Tiên chưa dám chắc
Người còn gieo mộng Đất còn hoa.
[Sài Đô Kỷ Dậu – Tiết Nguyên Đán]

II/ Người có hòa chăng? Đất có bình?
Tiệc thơ, Trời vẫn tiết Thanh Minh
Bút ngăn lửa Hạ bày xong trận
Men phá sầu xuân rốc hết binh
Lửa rút vào hoa, đèn chợt thắm
Sầu tan ra khói, cảnh thêm xinh
Hỏi ai thua được, không ai nhớ
Cuộc chiến này quên cả chính mình.
[Tiết Thanh Minh]

III/ Một trời say nổi một Người chưa
Mà nát lòng Thu, hỡi Đất xưa?
Quỷ dưới mồ kêu Gươm dưới nguyệt
Tiên trong rượu ném Bút trong mưa
Sống không lối thoát… còn dây buộc
Đi chẳng ai về… cũng chén đưa.
Lại tiết Trùng Dương tràn độc khí
Lên cao lánh nạn mấy cho vừa!
[Tiết Trùng Dương]

Nguyễn Nhật Ánh, con chim xanh tình nghĩa, và cá tính Sài Gòn

Nguyễn Nhật Ánh (giữa) cùng giao lưu ra mắt sách Con chim xanh biếc bay về – Ảnh: L. Điền

Con chim xanh biếc bay về – truyện dài mới của Nguyễn Nhật Ánh chính thức phát hành hôm nay 11-11, đưa người đọc trở lại bối cảnh Sài Gòn hiện tại với những mảng đời tình – nghĩa đan nhau.

Trong buổi ra mắt sách hôm 10-11, tác giả Nguyễn Nhật Ánh bày tỏ sự hào hứng khi đã hơn chục năm ông mới lại lấy bối cảnh Sài Gòn – TP.HCM cho một truyện dài. “Sài Gòn bây giờ đã khác, không còn giống thời của Còn chút gì để nhớ, Phòng trọ ba người hay Buổi chiều Windows nữa… Trở lại bối cảnh Sài Gòn lần này cũng là dịp để tôi tiếp xúc với nhiều số phận hơn, tôi thấy hài lòng về mặt nghề nghiệp ở quyển sách này”, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh chia sẻ.

Con chim xanh biếc bay về cho thấy con  người Sài Gòn hôm nay đã khác – ít ra là trong hành trình văn chương của Nguyễn Nhật Ánh. Bạn đọc sẽ bắt gặp những thiên tự sự của hai nhân vật chính, ở đó họ có sự mạnh mẽ trong tính cách và độ chín chắn trước hàng loạt sự biến được xem là bi kịch khi vừa tốt nghiệp đại học và quyết định dấn thân lập nghiệp.

Sự đa dạng của bút pháp Nguyễn Nhật Ánh trong truyện này là một nỗ lực đáng kể. Có vẻ trong lúc nhà văn tập trung xây dựng mảng nội dung là cái quán ăn của nhận vật Sâm, ông đồng thời nhận ra bạn đọc cũng cần các món ăn đa dạng mà bút pháp có thể đáp ứng bằng các tuyến truyện được gia công cẩn thận.

Trong vai trò một người giữ nhiệm vụ đi chợ cho quán ăn, Khuê – cô sinh viên vừa tốt nghiệp – khám phá ra cả một thế giới quán chợ của Sài Gòn. Không chỉ phải đối diện thường xuyên với anh chủ quán “có bộ mặt không biết cười”, mà chính mục tiêu muốn thực đơn của quán phải là món ăn ngon đúng chất, Khuê phải chạy vòng vòng khắp các chợ lớn nhỏ để mua nguyên liệu, đồng thời nhận ra mỗi chợ chỉ có một đôi hàng bán món sở trường – tức là nguyên liệu chất lượng nhất. Không chỉ thế, cách duy trì mối lái làm ăn với những người bán ở chợ làm bật ra một nét cá tính của người Sài Gòn: sống với nhau nghĩa tình chân chất, như cái cách trong ngày cuối năm anh Sâm chủ quán kêu Khuê đem mấy hộp bánh canh chạy ra chợ cho những bạn hàng quen, vì “trong ngày này, họ bán luôn tay không kịp có bữa ăn trưa cho tươm tất”.

Nhưng không chỉ có thế, Com chim xanh biếc bay về còn chứa đựng cả một trời tuổi thơ của nhân vật nơi miền Tây Nam bộ – không gian mà Nguyễn Nhật Ánh thừa nhận rằng anh gắn bó với Nam bộ hơn 50 năm nhưng hiếm khi đưa vào truyện. Đặc biệt là sự khéo léo vận dụng yếu tố ngẫu nhiên làm đường dẫn cho mạch truyện, trong đó có những bi kịch gia đình thực sự khó vượt qua, với những cảnh huống éo le đến mức tác giả bật mí rằng: Mình phải đào sâu nội tâm mình để viết về những trường hợp nhân vật như vậy. Đó là trong truyện có đến hai nhân vật “đùng một cái” nhận ra cha mẹ mình không phải là cha mẹ ruột. Một trong hai phía còn bị trả giá bằng mạng sống người mẹ hiền lành đang rất mực thương yêu chồng con…

Trong buổi ra mắt sách, Nguyễn Nhật Ánh cho biết ông từng theo dõi các trường hợp bệnh viện trao nhầm trẻ sơ sinh cho sản phụ, ý nghĩ về những đứa bé này khi lớn lên, nếu một ngày kia sự thật được tìm thấy, thì tâm lý tình cảm và suy nghĩ của những người trong cuộc sẽ như thế nào… Những ý tưởng ấy được ông đưa vào tác phẩm lần này.

Quan trọng hơn, chính sự cố bất thường tạo nên tính cách đặc biệt của nhân vật, và điều đó làm nên một câu chuyện tình thật độc đáo: Người đọc có thể bật cười thích thú và cũng có những đoạn dễ làm rơi nước mắt. Nguyễn Nhật Ánh cũng thành thật chia sẻ: Trong truyện này, có những đoạn sẽ làm các bạn chùng lòng”.

Và có vẻ phần vui nhộn nhất trong truyện này chính là có nhiều thơ được “chèn vào” rất hợp lý. Gấp sách lại, những câu như “Có người ngủ suốt mùa đông/ tỉnh ra không biết có chồng hay chưa/ Có người ngủ suốt mùa mưa/ tỉnh ra mới biết mình chưa có gì” chắc chắn sẽ còn vương vấn trong tâm trí người đọc như một nét đáng yêu của văn chương Nguyễn Nhật Ánh.

Lam Điền

P. S. Có một chút băn khoăn về thủ pháp xây dựng tình huống, trong truyện có chỗ tác giả cố tình để cho người đọc biết được bí mật trước khi nhân vật biết. Do vậy, phần diễn biến kể từ đó đẩy người đọc vào cảm giác chứng kiến nhân vật hành động mà lẽ ra sẽ không có nếu biết như… tác giả đã bật mí cho người đọc. Thủ pháp này như một cú hẫng, khi người đọc đang hòa mình với những buồn vui của nhân vật chính, thì đột ngột bị tách ra để chứng kiến nhân vật hành động trong tình thế “chậm biết” hơn người đọc. Chưa hiểu dụng ý của tác giả ở chỗ này (khi Khuê về quê dự đám coi mắt xong và quay lên bắt gặp Sâm đang ôm Tịnh trước phòng).

Con chim xanh biếc bay về in lần đầu 150.000 bản (20.000 bản bìa cứng), NXb Trẻ và nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cam kết trích 1000 đồng trên mỗi cuốn bán ra để trao tặng cho các bạn học sinh tại vùng bị bão lũ ở Quảng Nam – quê nhà của tác giả.

Ngọc Tư thẳm sâu trong Biên sử nước

Sách do Phanbook ấn hành – Ảnh: L. Điền

Biên sử nước – tiểu thuyết thứ hai của Nguyễn Ngọc Tư vừa ra mắt bạn đọc tại TP.HCM sáng 1-11. Tác giả từ Cà Mau lên dành một buổi tặng chữ ký cho bạn đọc và không phát biểu câu nào.

Biên sử nước có hấp lực dẫn người đọc tiếp cận từng phân đoạn bị chặt rời một cách cố ý của tổng thể một hiện tình xã hội đương đại.

Nên tiểu thuyết chỉ vỏn vẹn 125 trang vẫn mang lại cảm giác tác giả đã làm việc cật lực để đạt được mức độ đa thanh sắc và nhiều tầng nghĩa trong ngần ấy chữ viết.

Điều ám ảnh là những phận người liên tục hiện ra vừa rất quái lạ vừa như quen lắm. Một đứa con mất mẹ lưu lạc quay về nhìn gia đình cha mình và người mẹ kế; nhà báo theo đuổi một huyền thoại và viết từng kỳ cho tòa soạn đọc theo từng chuyến xe đò; một cộng đồng giang hồ chung chạ truyền đời ở bến sông lại bất ngờ trở thành khởi thủy cho một huyền thoại kèm theo những đức tin không hiểu nổi; người thanh niên chuyển giới bị mẹ ruột nhẫn tâm làm ngơ cho bị hành hạ…; lại có cả những thân phận chìm vào làn sương kỳ ảo như anh phu đường sắt suốt ngày dính liền với vợ như chiếc bóng, hay anh chàng ăn giấy ngốn từng trang sách… tất cả tưởng chừng như rời rạc vô lối trong mạch truyện của Biên sử nước. Nhưng không, có một điểm chung neo những phận người đối diện với khốn cùng trắc trở lại với nhau: đó là họ tin rằng tìm được trái tim của người đàn ông được tôn xưng là Đức Ngài, những bệnh khổ của họ sẽ được chữa lành.

Và chính từ khía cạnh đó, người đọc sẽ tìm thấy ở Biên sử nước những dấu chỉ về niềm tin của một cộng đồng: người đời rơi vào tình trạng u mê trì độn chỉ vì thực tại của họ đang bế tắc. Và ngay cả những người chứng kiến sự giả dối lên ngôi, thậm chí là người trong cuộc với kẻ bất lương tàn ác được dựng lên thành thánh, rốt lại vẫn nhìn cuộc đời diễn ra trước mắt bởi vô phương cải đổi.

Đọc Nguyễn Ngọc Tư ở tiểu thuyết này, có những đoạn bắt rùng mình về hai chữ “sự thật”, nó ở đâu giữa muôn trùng giả trá nanh ác của xã hội ngoài kia? Ngọc Tư có một ví von đắt giá về hoa giả: “Rụng là cách duy nhất phân biệt với hoa giả. Hương thơm cũng có thể làm giả như thường”!

Chính vì vậy, Biên sử nước để hé lộ một thế giới của Cù lao Lẻ, nó mơ hồ vô định trên địa đồ nhưng lại mang cả chiều sâu chiều rộng của xã hội đương thời. “Một cục đất của cái cù lao Lẻ này cũng là của Đức Ngài, sao tụi mày dám?”, câu nói của nhân vật Báo – người thân cận với Đức Ngài – có thể khiến nhiều người nhận ra nét quen thuộc trong đời thường.

Trong một trao đổi riêng, Ngọc Tư tiết lộ khi viết Biên sử nước, chỗ khó khăn nhất của chị chính là tìm lấy tông giọng cho mỗi chương. Bởi mỗi chương là một nhân vật nói về một nhân vật/ một hiện tình đang diễn tiến, do vậy mỗi chương là một cấu trúc khác nhau về phân vai nhân vật và cả về cốt truyện; những nhân vật xưng tôi không trùng nhau giữa các chương.

Không những thế, ở Biên sử nước, Ngọc Tư còn sáng tạo trong cách viết khi viết hẳn bài báo 1 kỳ “Theo dấu người đàn bà kết thúc một đế chế” để chú thích cho hành trình điều tra của một nhà báo về huyền thoại của Đức Ngài nơi cù lao Lẻ. Thao tác đó cũng như một cửa sổ cần thiết mở ra để người đọc có thêm hứng khởi theo dõi mạch tiểu thuyết đang được vận hành rất riêng và không dễ nắm bắt.

Biên sử nước cũng khiến người đọc liên tưởng đến cách viết theo kiểu tảng băng trôi: Những gì Ngọc Tư viết ra rất đỗi kiệm lời, đó chỉ là phần nổi lên cho người đọc tiếp cận qua trang sách; và thế giới truyện còn chìm sâu đằng sau câu chữ, trong hình dung/ cảm thấu của mỗi người sau khi gấp sách lại, mới mênh mông và thật nhiều chiều hướng phát triển.

Và còn một ý nữa khi gấp lại quyển tiểu thuyết này, là các nhà làm phim có thể tìm thấy ở đây một cơ hội để thử sắp xếp/ cấu tứ lại cái hiện tình xã hội trong tiểu thuyết để làm thành một phiên-bản-phim cho Biên sử nước. Biết đâu đến khi đó, công chúng sẽ thấy chuyện này dễ hiểu hơn.

Lam Điền

Nguyễn Ngọc Tư và bà Phan Thị Lệ đang trò chuyện trước giờ ra mắt sách – Ảnh: L. Điền
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư tặng chữ ký cho bạn đọc hâm mộ sáng 1-11-2020 – Ảnh: L. Điền
Buổi ra mắt sách tại Phương Nam Book City Saigon Center đón nhận nhiều bạn đọc hâm mộ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đến nhận ký tặng. Đặc biệt có cụ già Đỗ Chỉn Chía năm nay 78 tuổi nhà ở tận Hóc Môn cũng có mặt từ sớm để xếp hàng xin chữ ký Ngọc Tư. Ảnh: L. Điền

Cái đẹp tuyên xưng giữa xã hội bất an

Bộ ba tác phẩm của Đoàn Minh Phượng vừa ra mắt bạn đọc cả nước – Ảnh: L.ĐIỀN

Nhà văn Đoàn Minh Phượng vừa trở lại với bạn đọc bằng bộ ba tác phẩm in cùng lượt: ngoài hai quyển tái bản: Và khi tro bụi với Tiếng Kiều đồng vọng, tiểu thuyết mới Đốt cỏ ngày đồng gây ấn tượng bởi hàm súc, đẹp, và đa nghĩa.

Thế giới tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng trong Đốt cỏ ngày đồng khởi từ cái đẹp. Người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp để làm ra tác phẩm cũng như thêm một lần làm sinh sôi cái đẹp cho đời.

Thế giới của cái đẹp, cho dù qua cảm nhận từ tâm hồn người nghệ sĩ hay chỉ là những thu xếp cho cuộc sống riêng tư của mình, là một chuỗi những thao tác có tính độc đáo, đơn nhất và không dễ chia sẻ. Chỉ có ở cự ly gần, người ta mới thấy sự thu xếp ấy cũng là một chuỗi cái đẹp. Đoàn Minh Phượng không quên mình đang làm nghệ thuật, nên từ nhân vật xưng tôi, độc giả có thể thấy cuộc sống đời thường, chiều sâu suy nghĩ, những ám ảnh về xã hội/ con người trong hành trình người nghệ sĩ đi tìm chất liệu để sáng tác.

Từ khởi phát ấy, Đoàn Minh Phượng khéo léo nén chặt những bi kịch xảy ra cho bản thân nhân vật là người nghệ sĩ trước cách thế ứng xử với cuộc đời. Cảm giác như tác giả đã sử dụng ít nhiều thủ thuật điện ảnh để cấu trúc mạch truyện đạt độ hàm súc đáng kể. Sự cố bắt người, tập tác phẩm cất trong tủ người yêu ở lại bị xem là tài liệu cấm, và hệ lụy kế tiếp là nó đẩy một người nữ mong manh vào đường cùng, lọt vào đường dây lừa lọc với những con thú đội lốt người thạo việc biến thân xác phụ nữ thành một nấc thang vừa để cho người này bước lên những tầng danh lợi vừa vùi dập những thân phận thấp hèn xuống sâu hơn nữa trong những lớp nhơ bẩn của cuộc đời.

Kỳ lạ thay, ở tận tầng đáy xã hội vẫn còn cái đẹp tột cùng. Q – một cô gái giang hồ câm điếc nhưng đẹp đến nao lòng cả những “đồng nghiệp” xung quanh, là một tồn tại có chất biểu tượng: Giữa một thế giới bất an, cái đẹp hiện diện ngay cả ở cách thức không hoàn hảo nhất. Bản thân khuyết tật, thân phận bị dập vùi, cuộc sống không tương lai… nhưng Q vẫn như đóa hoa đẹp lạ lùng bất chấp. Cho đến sự cố chính Q rút dao đâm chết gã đàn ông vẫn chung đụng với cô, đóa hoa ấy như một lần bung nở rồi mất hút giữa cuộc đời…

Với những chất liệu có thể xây dựng thành bộ phim với nhiều trường đoạn ly kỳ hấp dẫn thậm chí đậm chất lãng mạn, kỳ ảo, Đoàn Minh Phượng làm một việc kỳ công hơn nhiều: dùng ngôn ngữ để đúc dựng thành một tiểu thuyết chưa đến hai trăm trang. Công phu ấy đưa thế giới truyện vượt ra khỏi dung lượng câu chữ, vượt luôn khỏi tư duy của chính tác giả. Bởi giờ đây, Đốt cỏ ngày đồng với mỗi người đọc chắc chắn sẽ cựa quậy trong tâm trí theo mỗi cách khác nhau. Chỉ có điểm chung là cảm nhận về cái đẹp.

Công phu của tác giả còn ở chỗ dụng công để có rất nhiều câu chữ đẹp. Và may mắn thay, qua những “lớp truyện” mặc dù kiệm lời, người đọc kịp nhận ra một tinh thần hướng thượng được tác giả tạo thành mạch chảy âm thầm qua những biến cố của nhân vật. Đó là T, một tu sĩ, như là một người tình, một ân sư, người có kiến thức giúp “tôi” tồn tại trong trạng thái vô minh đồng thời cũng có năng lực neo giữ niềm tin của người tín nữ kia hướng vào điều thiện và nuôi dưỡng trí tuệ để quán sát hành động trong cuộc đời.

Một tiểu thuyết nhỏ bé, nhưng sức nặng thật bất ngờ. Càng bất ngờ hơn khi sức nặng đến từ cái đẹp. Tất nhiên, đó cũng là một công dụng của ngôn từ. Hãy đọc, trong không gian gặp gỡ của nhân vật nữ với vị thầy tu tại nhà mình: “Làm sao tôi biết được chúng tôi còn sống được bao lâu, còn có mấy lần gặp được nhau, được ân cần trong im lặng”. Hay một lời bột phát ném vào vị tu sĩ hốt nhiên làm ta nhận ra như tiếng quát đang còn thời sự: “Không phải là thầy không thể biết Q có thật hay không, mà là thầy không dám biết. Thầy chỉ đang tìm đủ lý lẽ để nhấn chìm, để trả Q về lại cái lịch sử chúng ta không bao giờ dám chạm tới”.

Sức nặng ấy của Đoàn Minh Phượng sẽ theo đuổi nhiều người trong nhiều việc về sau…

Lam Điền

Previous Older Entries

Midori Sora

in the saddest night on earth

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.