Nhớ anh Thành (1)

Hôm qua đi đường, tự dưng nhớ anh Thành.
Mà lại nhớ ngay cái cảnh lúc mình về quê gặp anh nói chuyện văn thơ. Anh thường đọc đi đọc lại một câu trong bài Đằng vương các tự:
Quan san nan việt, thùy bi thất lộ chi nhân;
Bình thủy tương phùng, tận thị tha hương chi khách.
關山難越誰悲失路之人
萍水相逢盡是他鄉之客。
Hồi còn sinh thời, anh Thành bảo chữ thị là chợ, mình chủ quan không tra văn bản. Đến hôm qua đi đường nhẩm câu này thấy tận thị theo nghĩa văn phạm ở đây không thể là thị = chợ được.
Đến nay vào thư viện đọc lại, thấy quả là như vậy, tận thị = thảy đều là.
Nên nhân lúc nhớ anh, bèn hỗn dịch một phen, câu này có nhiều cảm khái, cả anh và mình đều tâm đắc nhiều phần.
Ải núi khó qua, ai thương đến người lỡ bước;
Gặp duyên bèo nước, đều đang làm kẻ không nhà.
Ái chà,

Advertisements

Quan hải

關海
樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非—曰
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹煙。
阮廌
Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên
Phúc châu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên
Càn khôn kim cổ vô cùng ý
Khước tại thương lang viễn thụ yên.
[Nguyễn Trãi]

Hỗn dịch:

Cọc gỗ giăng giăng biển sóng ngời
Nhận chìm xích sắt bủa nơi nơi
Lật thuyền mới chịu dân là nước
Gặp hiểm ai cho mệnh bởi trời
Họa phúc có nguồn đâu một bữa
Anh hùng để giận vạn năm khơi
Xưa nay trời đất bao tâm sự
Ngụ tại đầu cây ngọn cỏ thôi.

(癌症医院
19-10-2018
藍田)

Từ Diễn Đồng – cụ tổ phái hỗn dịch

闻道长安似弈棋
百年世事不勝悲
公侯第宅皆新主
文武衣冠異昔时
直北關山金鼓震
征西车馬羽书遲
魚龙寂寞秋江冷
故国平居有所思
(杜甫)
(Văn đạo Trường An tự dịch kỳ
bách niên thế sự bất thăng bi
công hầu đệ trạch giai tân chủ
văn võ y quan dị tích thì
trực bắc quan san kim cổ chấn
chinh tây xa mã vũ thư trì
ngư long tịch mịch thu giang lãnh
cố quốc bình cư hữu sở ti
Đỗ Phủ)
1/ Hôm trước lúc gặp sư ông Thích Phước An có một chuyện dính tới chữ nghĩa, đó là trong quyển sách của sư ông có dẫn bài thơ của vua Trần Nhân Tông, bài thơ có câu “ma cung hồn quản thậm/ Phật quốc bất thắng xuân”. Mình hỏi chữ “bất thắng xuân” này cớ sao lại dịch là “tràn ngập xuân”, trong khi theo cấu trúc ấy thì bất thắng xuân có thể hiểu là chẳng hơn xuân. Sư ông đang lúng túng chưa trả lời thì lão tiên sinh Bùi Văn Nam Sơn có mặt trả lời ngay: đó là chữ bất thăng xuân, chữ thắng đọc thăng, không phải nghĩa động từ. Mình còn đang hoang mang thì Bùi lão tiên sinh lại nhắc “cũng như chữ bất thăng bi vậy”. Mình ngớ ra, ừ nhỉ, đã từng gặp chữ “bất thăng bi” ở đâu rồi mà nhất thời không nhớ ra.
Nhưng lát sau thì nhớ ra, nó nằm trong bài thơ của Đỗ Phủ, mà mình chép ra trên đây.
Vấn đề là, sau đó mình tra tự điển thì rõ thêm: chữ thắng đọc âm thăng với cấu trúc “bất thăng” có nghĩa là “không kể xiết”, “không xuể”, và như vậy câu thơ vua Trần ở trên có nghĩa là: “Khi cung ma quản chặt/ Cõi Phật xuân không kể xiết”.

2/ Nhưng cái sự vụ nhớ lại bài thơ Đỗ Phủ có cụm từ “bất thăng bi” trên đây lại làm mình nhớ ra một bản dịch thật kỳ quái, của Từ Diễn Đồng, mà mình đọc hồi nhỏ ở quê. Bản dịch như sau:

Nghe nói trong kinh lắm chuyện đùa
nước đời sao lắm nỗi cay chua
những con nhà khá đi đâu cả
một bộ đồ tuồng rặt mới mua
tiếng trống vang lừng tin bắc được
mảnh tờ sao chẳng báo tây thua
rồng nằm bể cạn heo may lắm
nước cũ ai là chẳng nhớ vua.

Mình thích bản dịch này từ hồi xửa xưa, vẫn không để ý tại sao mà thích, có lẽ tại thích cái kiểu dịch thoát tới mức chuyện đời xưa thành chuyện đời nay như vậy chăng. Đến nay đọc lại, thấy có thể tôn Từ Diễn Đồng làm tổ sư của trường phái “hỗn dịch” được rồi vậy.

Từ Diễn Đồng (1866 – 1914), người phủ Thường Tín (Hà Tây cũ), đỗ tú tài, làm nghề dạy học và bốc thuốc. Thơ ông có khoảng mươi bài, bài nào cũng chứa chan căm giận của người mất nước.

23-11-2016

Năm vóc gọi

 

Người đứng lại cuối đường xa lặng lẽ
Nửa câu kinh đang quá ngọ qua hồn
Trang sách mở giữa tao phùng quạnh quẽ
Gọi ta bà trao lại những vô ngôn,

Câu chữ ấy vỡ ra thành cội nghĩa
Bước vân hành chưa nặng dấu đa mang
Kìa mây trắng vẫn về trên thắng địa
Sưởi kim thân đang ấm lượt y vàng,

Ai đã bước giữa hai chiều tao ngộ
Vỗ tay lành xanh lại mảng rêu xưa
Nhặt rơm rạ ươm mầm trong đất khổ
Vàng đá chông chênh mấy độ thiếu thừa…

Kìa nước vẫn trôi xuôi dòng biến hiện
Tới lui nào cho khắp lượt công phu
Hoa vẫn nở giữa vô cùng ý nguyện
Nụ cười nguyên sau sấm động sa mù,

Người ghé lại gõ tay vào quạnh vắng
Mộng nhân gian đang khép mở cơ đồ
Huyên náo nọ bỏ ngàn sau tĩnh lặng
Thăm thẳm gọi về hai tiếng Nam mô…

Nghe chấn động cả chín chiều kinh điển
Mái trường xưa ai nhắn gọi ai về
Lời giảng ngắn lắng hoài chưa hết chuyện
Lửa hương nào soi tỏ những đam mê,

Kìa bút mực cựa mình linh tự trắng
Giảng đường mênh mông gió lộng ta bà
Vàng thu cũ ủ men thành mật đắng
Cổ thư còn đang hé nhụy đơm hoa,

Ai gói ghém hành trang ngày hẹn ước
Đường vân du thu thúc mảnh trăng già
Tay vén lại những mối giềng xuôi ngược
Trả lại sông hồ vô lượng âm ba,

Đâu biết được giữa ngàn sau biến động
Vẫn ngàn xưa chưa bặt dấu ân sư
Ngàn hoa cỏ giữa trời cao đất rộng
Hẳn ươm hương không dứt đoạn ngôn từ,

Năm vóc gọi chiêm bao về bái tạ
Tiếp cung đường cho thắm buổi sương tan
Linh cảm đặt chân lên thành đất lạ
Ngoảnh muôn phương đương đẫm sắc trăng vàng…

[Kính bái giác linh Hòa thượng Viện chủ tu viện Huệ Quang thượng Minh hạ Cảnh 
14-10-2018
Lam Điền]

Chính tà thuyết pháp 

Mùa hạ năm 2013, sư ông chùa Xá Lợi tổ chức chương trình tu học mùa an cư luân phiên nghe giảng và thực hành các pháp tu thiền, tịnh, mật.
Dạo đó anh em còn tụ ở miễu cậu Chín và lão Lý hãy còn sinh thời, hôm nọ nghe lão Lý bảo, thứ bảy tới đây chùa Xá Lợi có buổi giảng về mật tông, ông thầy từ Lấp Vò lên nói, mày tới nghe đi.
Mình rủ rê cụ Lê Hiền cùng đi nghe. Sư ông thuyết giảng là Hòa thượng Nhật Quang ở chùa Long Phước, Lấp Vò. Sư ông nói chuyện thiệt hay, giải quyết các vấn đề phức tạp hết sức giản đơn, và đề cập những nội dung nghiêm trọng bằng cách rất giản dị. Mình khoái nhất là cách sư ông lý giải hiệu ứng của thủ ấn cũng giống như chuyện… hút thuốc của mấy ông thầy. hehe
Đến phần hỏi đáp, có một người ra dáng trí thức đưa tay hỏi về chuyện biệt biệt đúng sai giữa các quan điểm gì đó thiệt tình là lúc đó mình cũng không hiểu mấy. Nhưng sư ông Nhật Quang trả lời thiệt đắt giá, ông bảo, người xưa có nói, nếu chính tâm mà thuyết tà pháp thì tà cũng sẽ thành chính, còn tà tâm mà thuyết chính pháp thì chính cũng thành tà.
Chà, cái ý ấy thiệt lợi hại, trước nay chưa hề nghe.
Thế rồi chớp mắt mà đã 5 năm, đến nay tự nhiên có nhân duyên mua được quyển sách, về giở xem bắt gặp bài kệ của thiền sư Triệu Châu:
Chính nhân thuyết tà pháp
Tà pháp diệc tùy chính
Tà nhân thuyết chính pháp
Chính pháp diệc tùy tà 
Là chính cái ý mà năm xưa hòa thượng Nhật Quang nói ở Xá Lợi. Năm ấy cụ không nhắc đến chữ Triệu Châu, dè đâu có mỗi cái source đó mà mình mất 5 năm mới biết. Thiệt là học hành chậm lụt quá đi mà. huhu

 

Học vấn sang đàng

Ảnh có tính cho có: gd.sou-yun.com

Nếu ai không hiểu nghĩa chữ “sang đàng”, đọc xong cái này biết đâu sẽ hiểu. hehe
Chú Bùm thường lấy làm băn khoăn mỗi khi nghe bố thông báo là bố đi học chữ. Chú hỏi tại sao bố phải đi học chữ, thì bố chỉ biết bảo là, phải học chữ chứ, ông nội hồi còn sống dặn bố phải học chữ, nên bố đến giờ còn phải học chữ. Bố dặn con cũng phải học chữ đó nghe. Chú Bùm im im ra chiều suy nghĩ lung lắm.
Suy nghĩ lung là phải, vì chắc chú không biết học chữ kiểu như bố nói ông nội nói như vậy, là học làm sao.
Mà bố cũng không biết nói làm sao.
Đại khái có nhiều hôm hôm lão sư ngồi vào bàn tự chép ra một bài cổ văn thuộc lòng rồi giảng cho mình nghe. Cổ văn dài dòng khúc khuất, vậy mà lão sư thuộc đâu từ lúc nảo lúc nào, giờ chỉ việc cầm bút viết ra thôi. Dạy như vậy có phải là rút ruột ra mà dạy như kiểu người xưa nói chăng?
Chẳng hạn hôm kia tiện tay lão sư chép cái bài này:
“臧与谷二人相与牧羊,而俱亡其羊。问臧奚事,则挟策读书;问谷奚事,则博塞以游。二人者,事业不同,其于亡羊均也。”
[Tang và cốc hai người cùng chăn dê, và đều bị mất dê. Hỏi tang vì sao mất dê, tang bảo do mải đọc sách; hỏi cốc vì sao mất dê, cốc bảo do mải chơi xúc xắc. Hai người này làm hai việc khác nhau, nhưng đều dẫn đến kết quả mất dê vậy].
Lão sư giảng, bài này của Trang Tử, chuyện mất dê của hai chú tang cốc này cho thấy không cứ gì việc tốt như đọc sách hay việc xấu như đánh bạc, nếu làm không đúng lúc bỏ bê chuyện chính đang theo đuổi, thì kết quả là hỏng cái chuyện chính mất thôi.
Mình nghe giảng khoái quá, nhớ lại hồi nhỏ có đọc chuyện mất dê, mà quái lạ sao chưa đọc chuyện này, chỉ đọc chuyện nhà kia mất dê, xong kêu người đi kiếm, người đi quay về kêu thêm người đi kiếm nữa, rồi kêu thêm nữa, rốt cuộc vẫn không tìm được dê. Là tại vì người đi tìm gặp ngã ba không biết đi theo hướng nào tìm dê, kêu thêm người chia ra đi, lại gặp ngã ba nữa, rồi ngã ba nữa, rốt cuộc ngã ba vẫn còn mà người không đủ dê không thấy. Đem chuyện này nói với lão sư, lão sư bảo ờ ờ, chuyện đó cũng hay.
Xong lão sư nói có một chương trình truyền hình ở Trung Quốc, giới thiệu những người có khả năng biệt tài đặc biệt hơn người. Có một cô gái có khả năng nhìn dấu chân đoán ra người. Nhà đài cho một nhóm 30 cô gái tuổi sàn sàn nhau, mang dép giống nhau, rồi chọn một cô ra đi để lấy dấu chân làm mẫu. Xong cho cô gái dự thi ra nhìn dấu dép để đoán. Cô này nhìn qua, lấy giấy viết ra các thông số nhân dạng: nam nữ, chiều cao, độ tuổi…; Xong nhà đài cho mỗi tốp 5 cô gái bước ra đi qua cho cô dự thi kia tìm, lần lượt như vậy mấy lần, cô dự thi dùng phương pháp loại suy, và rốt cuộc tìm ra đúng cô gái mà nhà đài đã chọn mẫu. Xem lại thông số nhân dạng của cô này, thì thấy hoàn toàn chính xác với thông số mà cô dự thi đã ghi trong giấy khi xem qua dấu chân. Kinh dị hông.
Mình nghe kể lấy làm kinh ngạc quá, nói với lão sư là hồi nhỏ thấy mấy đứa bạn chăn bò có khả năng nhớ mặt bò là đã kính nể lắm rồi, nay có người nhìn dấu chân đoán ra người mà còn tìm ra được người đó trong số các cô gái giông giống nhau, thì thật là kỳ tài.
Lão sư kể tiếp, sau đó ban tổ chức phỏng vấn cô dự thi, cô này tâm sự cái khả năng này của cô có từ đời ông nội lận. Ông nội cô làm gia nô cho nhà phú hộ, phải chăn dê cừu gì đó, nhưng làm công việc đó là phải không để súc vật bị trộm, nếu kẻ trộm vào lấy mất con nào thì chủ nhà sẽ trừ lương trừ cơm người gia nô chăn giữ. Ông nội cô này vì miếng cơm manh áo mà tự luyện khả năng nhìn dấu vết đoán kẻ trộm để đi tìm lại dê cừu bị mất. Ông luyện riết mà thành, rồi truyền đến đời bố cô. Sau đó thì ông bố này định truyền nghề này cho con trai, nhưng người con trai không hứng thú học, trong khi cô con gái này không được bố truyền mà lại rất có hứng thú, toàn theo học lỏm. Thấy vậy nên bố mới dốc lòng truyền cho cô, thành ra tuyệt kỹ như vậy.
Nghe đến đây mình bèn hỏi lão sư: Vậy cái cô đó có cho biết hiện cổ làm nghề gì không?
Lão sư bảo: à, cổ làm công an.
Nghe đoạn, mình đoán chắc giáo trình công an Trung Quốc có nhiều bộ loại ly kỳ lắm đây.
hehe
Sang đàng là vậy đó.
hehe

4-10-2018

Vu lan đọc chuyện hiếu… kỳ

Năm nọ nhơn mùa Vu Lan có người kêu mình viết về chữ hiếu. Mình nhớ lại câu chuyện hồi nhỏ nghe được giữa mấy cha con ở nhà. Câu chuyện quá quen, nói về tình huống qua sông chìm đò thì nên cứu ai giữa cha, thầy và vua. Mấy thứ lằng nhằng quân sư phụ gì đó mình và bố mình hình như chẳng quan tâm. Nhưng qua chuyện đó bố mình làm mình nhận ra rằng: hiếu là duy nhất.
Nó cũng là cái tứ để mình viết vào năm nao này nọ ấy.
Đến mùa Vu Lan năm nay thì thật đặc biệt. Đêm thanh vắng vẻ, ánh trăng không lọt được vào hành lang bệnh viện, vậy mà trong lúc ấy, mình đọc được một câu chuyện hay, từ một quyển sách chép toàn những chuyện kỳ quái lai rai liêu trai chí dị. Chuyện kể về xứ Thạch Môn trang, sau trận hạn từ xuân đến hè, thì có ông già nhơn thấy điềm sắp có lụt lớn nên nói với dân làng và dời nhà đi trước. Dân làng chẳng ai nghe theo, nhưng không lâu sau mưa to lụt thiệt. Nhà nhà đều ngập, không ai tiếp cứu được ai. Có anh nông dân kia chỉ kịp cùng vợ đưa mẹ già lên gò cao trong khi hai con trai còn kẹt trong nhà. Cứu được mẹ thì nhà cả vùng đều ngập, không quay về cứu con được nữa. Đến khi nước rút, anh ta đâm bổ về nhà, thấy cả xóm tang hoang nhưng may sao nhà anh ta chưa sập, kỳ lạ hơn là hai đứa con trai vẫn ngồi trên giường không hề hấn gì đâu.
Chuyện xảy ra vào ngày 22-6 năm Khang Hy 21 (1682).
Người chép chuyện nói, anh nông dân kia hy sinh con vì trong lúc nguy cấp phản xạ theo chữ hiếu, nên rốt cuộc được ông trời báo đáp cứu hai con thoát chết.
Ấy là nói theo Nho gia thôi, chứ còn Phật gia chắc khác, đại khái cái trạng thái cứu mẹ của anh nông dân kia là tức khắc tức thì phi tâm trí không tính toán, nên ngay tại đó tài khoản âm đức của anh ta được huy động để cứu hai đứa con. Cái điều kiện cần và đủ cho những pha như vậy thật khó biết lắm.
Có điều đọc xong chuyện này, mới thấy câu chuyện cứu mẹ trong lúc con mình mắc kẹt mới thật là khó khăn bi kịch chứ chuyện chọn ai để cứu giữa cha, thầy, vua thì ăn thua gì.
Mô Phật!

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.