Tiếp trận mưa lờ (2)

 

Hôm nọ vì bất ngờ thấy các cụ mô phạm một thời như Quách Tấn, Tôn Thất Lương, Tôn Thất Mỹ rất hào hứng làm thơ vịnh lờ, mình ghi cái note Một trận mưa lờ, ý là để ghi nhận nguồn chất liệu dân gian mà các cụ đã sử dụng để mần thơ.
Ngay khi đó, nhà văn Trần Quốc Toàn đã vào comment hẹn hôm sau ra đường sách sẽ rỉ tai mình chỉ thêm vài câu nữa. Nghe đã thấy hấp dẫn.
Đến hôm sau tại Đường sách, quả nhiên bác Trần Quốc Toàn có bổ sung mấy câu, thuộc loại lợi hại:

1/ Có một quan điểm khi đọc câu thơ của Hàn Mặc Tử “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì cho rằng đây là ý nói đến một nét mặt con trai, chứ cho rằng mặt chữ điền trong thơ là của con gái như lâu nay vẫn thấy, là nhầm. Thế rồi bác Toàn dẫn một câu của dân gian, có tác dụng kéo gương mặt chữ điền trong thơ Hàn Mặc Tử về với con gái, đó là câu: Mặt chữ điền l. liền với đít. hic

2/ Bác toàn còn 1 câu thuộc chuyên ngành đông y: Thuốc nam thuốc bắc bú c. cho cơm. Mình không rõ cơm đây là cơm nào, cơm gạo nghĩa đen hay cơm trong câu “sáng đưa cơm đi ăn phở trưa đưa phở đi ăn cơm chiều về với cơm mà nhớ phở” nữa. hehe

3/ Lại có 1 câu, cũng bác Toàn cung cấp, gần giống với câu trách “nóc nhà xa hơn chợ/ l. vợ gần hơn mộ cha”, là câu “bên l. thì chắc, bên c. thì lép”, dùng cái đó để nói về hai bên nội ngoại khi người con trai có gia đình riêng, cũng là 1 ca đặc biệt vậy.

4/ Thế rồi đến cuối buổi ở Đường sách, bác Toàn còn nhớ một bản dịch Nôm cái bài thơ Hán “trường túc bất tri lao”: theo bác Toàn thì người dịch là Nguyễn Bính, nhưng bác không nhớ hết, chỉ nhớ hai cặp lục bát: “Những người cẳng sếu chân giang/ nứng l. thì gọi cả làng tới chơi”, và “những người mặt đỏ hồng hồng/ nước l. tát mấy gàu sòng chưa vơi”. Cái này hay, nhưng lúc ấy mình không nhớ cái bài chữ Hán nguyên văn kia, nên không biết bản dịch Nôm lục bát ấy nó ăn nhập thế nào. Đành gác lại.
Đến nay thì đã có chuyện hay, mình tìm được nguyên văn bài chữ Hán, được xem như một kinh nghiệm xem tướng phụ nữ, truyền tụng từ thời xưa, và sau khi lục lọi trên mạng thì mình ngờ là bản gốc này do mấy cụ đồ nhà ta chế ra chứ không phải chính văn từ Trung Quốc. Bài ấy như sau:

Hồng diện đa dâm thủy
Mi trường hộ tố mao
Triết yêu chân đại huyệt
Trường túc bất tri lao
紅面多淫水
眉長戶多毛
折腰真大穴
長足不知勞.

Thế và quan trọng hơn là có một người Việt ở hải ngoại đã khảo dị bài này, và cho rằng hồi 1947 từng có một người tên Đoàn Bá Ninh đã dịch trong lúc ở tại trại giam Thái Nguyên, thành mấy câu lục bát như sau:

Những cô má đỏ hồng hồng,
Nước L…tát bẩy gầu sòng chưa vơi!
Những cô mày rậm mi dài,
Lông L…đốt được một vài thúng tro!
Những cô thắt đáy tò vò,
Cửa L…rộng phải gọi đò sang ngang!
Những cô cẳng sếu chân giang,
Nứng L…thách phét cả làng không thua.

Có điều, chính việc tìm kiếm này đã làm phát lộ 1 thông tin, là hiện có 1 quyển sách, nhan đề là: Thơ tục cổ kim, do một nhóm văn thi nhạc hải ngọai sưu tầm (Quê hương xuất bản 1992). Liệu các lộ giang hồ nào có hoan hỷ tìm giúp quyển này không, thật là hoan hỷ!

5/ Nhưng hôm ở đường sách ấy còn một pha cực kỳ lợi hại. Là trên đường quay ra, đi ngang cà phê Phương Nam gặp một tiên sinh đức cao vọng trọng, đang ngồi với thầy Nhật Chiêu. Mình thấy hai người bèn chắp tay lại chào, tiên sinh kia đã ghé tai mình nói nhỏ: “Đàn ông học trống học kèn/ Đàn bà học đ. cho quen cái l.“. Ôi chao ôi, cái sự học hành giáo dục đào tạo nước nhà rốt lại nếu làm theo công thức của dân gian như vầy thì có phải đơn giản biết nhường nào hay chăng.
há há

Một trận mưa lờ

Đây là trái bần, bác Đoàn Thạch Biền từng thích câu: Bần de đom đóm lập lòe/ Thấy em còn nhỏ anh ve để dành. hehe

1/ Không cần đọc thiên kinh vạn quyển gì, hẳn ai cũng từng nghe câu này: nghèo còn mắc cái eo/ đã nghèo còn mắc eo vân vân. Mình cũng vậy, từng nghe người lớn nói câu này lúc mình còn nhỏ, và từng nghe người nhỏ cỡ mình nói câu này lúc mình lớn lên. Trong thâm tâm, mình xếp câu này vào chỗ các ý nói về mấy cái xui rủi thường đi chung dồn dập nhau mà tới, kiểu phúc bất trùng lai họa vô đơn chí, vậy thôi.
Cho nên mình không hề để ý rằng cái cụm “đã nghèo còn mắc cái eo” là câu lục trong một cặp lục bát. Lại là cặp lục bát của dân gian, tức là ca dao hoặc có thể cho là tục ngữ cũng đặng.
Duyên sự của việc bắt gặp này là do khi không mình rơi vào một trận mưa lờ, thiệt là không thể tưởng tượng.
Trận mưa ấy, trong sách, sách chép chuyện của các cụ, người chép là cụ Quách Tấn, mình lâu nay tín nhiệm cụ Quách bởi tính mô phạm chi li cặn kẽ trong pháp tắc thơ Đường, lại cẩn trọng trong viết lách giao thiệp với bằng hữu văn giới hồi đó, đại để uy tín của cụ thì thôi khỏi bàn, vì chắc chắn là cụ thuộc thế hệ những người thừa hưởng nền nếp Nho phong và lấy giềng mối Nho gia làm đạo xuất xử.
Thế nên mình mới thực sự mắt chữ a mồm chữ o khi đọc phải một trận mưa lờ mà cụ Quách Tấn chép. Mưa từ ngoài Huế vô tới Nha Trang, lên tận Đà lạt.
Mà toàn là mưa hay.
Mình cũng chưa từng thống kê, nhưng không ngờ trong lời ăn tiếng nói dân gian, sự hiện diện của lờ nó hay ho đến vậy. Cái mà mình gọi là “mưa” ở đây, chỉ là phía những câu chữ của dân gian, còn trong sách cụ Quách chép, là từ chỗ dân gian các cụ đã sáng tác thành thơ luật rất chi là hoành tráng.
Và cũng bởi mình vốn trọng thị dân gian, nên bèn chép trận mưa ấy lại ở đây. Ai có tiện đường thấy mưa thì che chắn đi, đừng có sa chân vào rồi lại lên tiếng trách mình sao bỗng dưng đem mấy thứ gió mưa không đoan chánh này về chỗ này. Nói lại mình vốn trọng thị dân gian, vậy thôi hà.

2/ Mưa đây:

– Mặt đỏ như lửa/ thấy l. chửa cũng sợ;
– Chết thì chôn, chớ có ai bỏ vô l. mà sợ;
– Con gái mười bảy mười ba/ đêm nằm với mẹ chuột tha mất l.
– Ăn dưa môn ngứa l. chạy sải/ ăn dưa cải ngứa d. chạy theo;
– Sớm mai xách mủng lên đồn/ Anh cho chén gạo giơ l. anh coi;
– Đầu trở xuống cuốn trở lên;
– Chơ hơ như l. phơi giữa chợ;
– Đút đớt như l. trợt giữa sân;
– Quay quắt như mèo nứng l.
– Đi nhai đứng ngậm ngồi cười/ tháng ba ăn đất tháng mười ăn tro (câu đố);
– Cô kia hóng mát bên cồn/ gió thổi vào l róc rách rò re;
– Ở với mẹ cha thì l. lá vông/ khi có chồng thì l. lá chóc/ làm ăn mệt nhọc thì l. lá tre/ ba chú không nghe kiện đâu thì kiện.
– L. là như trã canh môn;
– Bôn chôn như thấy l. lạ;
– Nóc nhà xa hơn chợ/ l. vợ gần hơn mộ cha;
– Trai hay dù khéo dù khôn/ đến cửa nhà l. phải quỳ gối thượng tay;
– Tưởng rằng quân tử nhất ngôn/ hay đâu quân tử rờ l. hai tay;
– Vân Tiên ngồi núp bụi môn/ chờ cho trăng lặn rờ l. Nguyệt Nga;
– Đời xưa cho chí đời nay/ đố ai cho khỏi mó tay vào l.;
– Làm khéo làm khôn/ lấy chỉ may l./ ai ngờ bí đái;
– Cái l. tám sải/ có dải tòn ten/ có khoen chính giữa;
– Giả đui dòm l.;
– và đây: Đã nghèo còn gặp cái eo/ đi cưới con vợ bị teo cái l.; há há

3/ Trong số các bài thơ luật cụ Quách Tấn chép xung quanh cái lờ, có một bài trong sách cụ in sai nhiều quá. Nói sai là sai so với bản mình từng được đọc hồi nhỏ ở quê, in trong Bách Khoa Văn Học. Bản mình đọc không nhớ do ai chép, nhưng câu chuyện có ngọn ngành rõ ràng, bối cảnh cũng là anh học trò nghèo vô nhà ông quan xin tiền, gặp bà quan đang có mặt, bà bực mình nạt: xin xỏ gì, xin xin cái lờ! Nghe vậy anh học trò nhanh miệng bảo: bà đã cho đề rồi, xin ông cho vần con làm luôn; ông quan thấy vợ tự nhiên văng lờ vậy lúng túng quá kêu lên: không…, ý chừng nói anh học trò là không có thơ thẩn gì cả. Thế nhưng anh này vin ngay vào chữ “không” cho đó là vần, và đọc ngay bài thơ thế này:
Trời đất sinh ra nối tổ tông
Mỗi người một cái chẳng ai không
Ngoài bao da trắng ba phân bạch
Trong điểm khuyên son một chấm hồng
Ngày sáu khắc vây màn Đổng tử
Đêm năm canh dựng ngọc Đồ công
Tôi đây hàn sĩ vào xin xỏ
Cái ấy của bà, để kính ông.
>>> Cũng là một cơn mưa hay. hehe

4/ Chép tới đây thì nhớ đến một bài hát nói của quan đốc học Trần Lê Kỷ. Bài này hồi nhỏ anh Thành đọc cho mình nghe, bảo là do bố mình mang từ quê vô, đến chừng đám tang bà nội, mình về quê gặp mấy chú bác trong họ, thức đêm nói chuyện dông dài thế nào mà nhắc bài này. Mọi người hỏi mình biết không, mình nói con thuộc chớ, và đọc. Nay cái status này viết tới đây mà không chép bài này ra luôn thì e không được hết ý:

Từ lên một đến mười lăm còn trẻ nít
Sáu mươi năm cút kít đã về già
Tính trong vòng cắn đá mấy trăng hoa
Phỏng độ ba mươi năm là dứt kiệt
Thế mà còn: đi học đi hiệt, đi thi đi thiết, khi đỗ khi điệt, làm quan làm kiết,
Mảnh tình chung nấn ná biết bao ngơi
Trời đã sinh ra kiếp làm người
Không chơi thì người cười ta chú vích
Được ngày nào ta chơi cho thỏa thích
Cho phong lưu thanh lịch mới là trai
Thấy ai ai ta cũng ai ai
Ai ai ấy thì ta cũng ấy
Chớ có quở chữ dâm là chữ bậy
Nếu không dâm sao có nảy ra hiền?
Bảo em, em cố giữ giềng.
(T.L.K)

鲁人徙越

鲁人身善織屦,妻善織缟,而欲徙於越。或谓之曰:“子必窮矣”鲁人曰:“何也?”曰:“屦為屦之也,而越人跣行;缟為冠之也,而越人被髪。以子之所長,遊於不用之国,欲使無窮,其可得乎?”鲁人不應,攜妻之越。居三月,俏愴而返。
(韩非子)

Người Lỗ sang Việt
Có người nước Lỗ giỏi nghề bện giày, vợ y giỏi nghề dệt tơ may mũ, đang muốn dời sang nước Việt. Có người bảo rằng: “Anh chắc sẽ nghèo đấy”. Người Lỗ hỏi: “Sao vậy?” Trả lời: “Giày là để mang, mà người nước Việt toàn đi chân đất, mũ để đội, nhưng người Việt quen khoe tóc dài. Đem cái nghề sở trường của anh đến một nơi không dùng được, dẫu có muốn không nghèo liệu có được sao?”
Người Lỗ không trả lời, dẫn vợ dời sang Việt, ở được ba tháng, uất ức quay về.
(Hàn Phi Tử)

Miếng ngon khó nuốt

Trang 226 trong bản in của Nam Chi Tùng Thư, có đoạn văn cuối của bài báo phụ lục. Ảnh: L.Điền

Cái vụ nhà sách Minh Thắng ở Đường Láng in quyển Miếng ngon Hà Nội lần này gây ồn ào quá thể. Ồn ào chỉ bởi một câu trong sách. Mà đây là quyển sách tái bản từ 1 bản đã in trước 1975. Nay thấy nhiều người nói như đúng rồi trong khi chứng cứ văn bản thì chỉ có mấy mảnh share đi share lại. Trong tình hình văn bản như vậy, chắc nhiều người nghĩ cái câu phạm húy/phản động kia – lý do khiến sách bị thu hồi – là của Vũ Bằng. Nhưng không phải, câu ấy không phải của Vũ Bằng, mà là của tác giả bài báo được in trong phần phụ lục của quyển Miếng ngon Hà Nội, do Nam Chi Tùng Thư in tại Sài Gòn năm 1960. Có mấy ý cần minh định:

1/ Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng in lần đầu tại Sài Gòn là bản của nhà Đất Nước, xuất bản năm 1957, chắc chắn trước ngày 28-10-1957. Là vì ngày 28-10-1957 báo Nắng Sớm tại Sài Gòn đăng một bài dài ngoằng giới thiệu quyển này. Ba năm sau, vào ngày 26-8-1960 giấy phép tái bản quyển Miếng ngon Hà Nội được cấp cho nhà Nam Chi Tùng Thư. Lần này, sách có in phần phụ lục gồm hai bài báo: Một bài trên báo Nắng Sớm như vừa nói, một bài trên báo Tự Do số ra ngày 23-12-1957. Cả hai bài báo in trong phụ lục đều không in nhan đề. Bài trên báo Tự Do có in tên tác giả là Hy Hoàng, nhưng bài trên báo Nắng Sớm lại không in tên tác giả.

2/ Quyển sách của nhà Minh Thắng bị thu hồi do in câu “Tôi ao ước một ngày kia miền bắc được giải thoát khỏi nanh vuốt Cộng Sản…”. Nhiều báo viết về vụ này đã không trích câu này, một số facebookers cũng viết không rõ, chỉ nói sách của Vũ Bằng có in câu phản động trong khi câu đó đã được NXB Dân Trí biên tập vân vân. Nay phải nói cho rõ là: câu ấy là trong bài báo của báo Nắng Sớm. Cụ thể, câu ấy nằm trong đoạn cuối cùng của bài báo. Chữ “tôi” xưng ở đầu câu là tác giả bài báo chứ không phải tôi là Vũ Bằng (như hình chụp). Và như đã nói ở trên, tên tác giả bài báo không được in trong Phụ lục, nên đến nay chưa biết đó là ai, bằng hữu nào có bài báo gốc in ở Nắng Sớm Số 27 ra ngày 28-10-1957 xem giùm tác giả là ai cho biết luôn thì hay quá.

Bìa quyển Miếng Ngon Hà Nội do Nam Chi Tùng Thư in năm 1960 – Ảnh: L.Điền

3/ Như vậy đủ thấy nhà Minh Thắng in Miếng ngon Hà Nội là in theo bản ra đời năm 1960. Những ai bảo bản in lần đầu năm 1960 thì nên xem lại: Nam Chi Tùng Thư chẳng những tái bản, mà còn in kèm cả 2 bài báo ra đời từ 3 năm trước kia mà.

4/ Không cần có bản Miếng ngon Hà Nội để xem cụ thể, từ năm 2000 mình đã nghĩ Vũ Bằng không thế viết một câu có cụm từ như thế. Đơn giản bởi Vũ Bằng là tình báo của miền Bắc được cử vào Nam. Ông là tình báo có bí số X10 hẳn hoi. Người làm rõ chuyện này là nhà phê Bình Văn Giá, trong quyển Vũ Bằng bên trời thương nhớ (NXB Văn hóa thông tin, in năm 2000). Lần đó sách ra mình đã nói chuyện này trên báo nhân phỏng vấn ông Văn Giá. Đến nay tư liệu này được dẫn dụng lại nhiều, có thể tìm trên mạng dễ dàng (*).

5/ Qua vụ này, thấy cái pháp tái bản sách theo đúng bản in lần đầu cũng có cái hay, ít ra cũng tránh được những thị phi xung quanh sách khi vừa ra và được các lần tái bản sau gom vào phụ lục. Hehe

(*)http://www.vietnamplus.vn/cac-nha-bao-dau-the-ky-…/96881.vnp

Thơ của phu nhân Hậu Thục

Năm 964 nước Tống tấn công Hậu Thục, đánh thẳng đến kinh đô hãm thành vua quan nước Thục.
Nhắm bề không phá vây nổi, vua Hậu Thục là Mạnh Sưởng (孟昶) bàn với quần thần nên hàng để bảo toàn mạng sống. Cuối cùng vua lên thành dựng cờ hàng. Quân Tống vào bắt nội các Hậu Thục về kinh vào chịu hàng trước vua Tống.
Sau khi vua tôi nhà Hậu Thục chịu nhục lạy vua Tống, Tống Thái Tổ mới bảo, nghe nói phu nhân 花蕊夫人 của Hậu chủ là người tài hoa xinh đẹp, cho triệu ra trước.
Hoa Nhị phu nhân bước ra, Tống Thái Tổ bảo, ta nghe phu nhân giỏi thơ, tại đây có làm một bài được không?
Hoa Nhị phu nhân ứng khẩu đọc:

君王城上竪降旗
妾在深宮哪得知,
十四萬人齊解甲
更無—個是男兒。

Quân vương thành thượng thụ hàng kỳ
Thiếp tại thâm cung nả đắc tri
Thập tứ vạn nhân tề giải giáp
Cánh vô nhất cá thị nam nhi.

(Vua ở trên thành dựng cờ hàng
Thiếp tại thâm cung nào biết được
Mười bốn vạn người cùng cởi giáp chịu hàng
Mà không có lấy một người đáng mặt nam nhi).
Nghe thơ, vua tôi Tống Thái Tổ im luôn.
Thơ ấy miệng lưỡi ấy nói lúc ấy thật còn hơn cả nam nhi một nước ấy chứ.
haizzzz

Hỗn dịch:

Cờ hàng vua dựng trên thành trước
thiếp ở cung sau chả biết gì
mười bốn vạn quân đều cổi giáp
thiệt tình đéo thấy một nam nhi.
(6-6-2017)

Việt Phương từ trần

Cửa Mở – ảnh: L.Điền

Sáng nay nghe em Hoa Linh Thoai báo tin nhà thơ Trần Việt Phương từ trần, mình bảo ông này lạ quá không nghe, trước giờ chỉ biết nhà thơ Việt Phương và một ông Nguyễn Việt Phương viết văn xuôi.
Tuy nhiên, ngay sau đó thì biết ngay ông Việt Phương trợ lý ông Phạm Văn Đồng vừa mất.
Ông là tác giả tập Cửa mở từng ồn ào một dạo.
Nhớ tập thơ Cửa mở, lại nhớ cách nay 4 năm khi anh Phạm Đức Hải còn làm sếp Tuổi Trẻ, một hôm anh Hải gọi mình bảo anh cần tập thơ Cửa mở để xem cái gì đó, em có không? Mình bảo em có nhưng không chắc tìm ra ngay, bạn em thì chắc có, để em mượn cho anh. Mượn xong mình viết mảnh giấy, gửi cho sếp Hải theo đường Văn phòng. Chỉ một ngày sau sếp trả lại, cũng viết vào chính mảnh giấy mình đã gửi cho sếp. hehe
Đến nay thì ông Việt Phương đã ra đi.
Chuyến ra đi này của ông, có nhiều người nhảy ra nói mình từng có quen biết có quan hệ có tiếp xúc có nói chuyện với ông vân vân,
Mình thuộc hàng thấp kém, chẳng có cửa tiếp xúc với quan to, nhưng với người có thâm niên 53 năm làm trợ lý cho cụ Đồng, nếu có dịp gặp, chắc chắn có 1 ý không thể không hỏi, đó là: Vào năm 1958, khi cụ Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Chu Ân Lai công nhận tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc với nội dung Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền của họ, thì ông Việt Phương có biết không? Ông nghe gì và nói gì về việc ấy trong lúc ấy?

Cửa Mở và thủ bút anh Lê Hoàng – Ảnh: L.Điền

 

Nếu không hỏi câu ấy, thì kết giao với Việt Phương dẫu thân hay sơ, rốt lại là để làm gì cho lịch sử nước nhà? Còn chuyện kết giao để thu vén gì đó cho cá nhân thì thôi, không bàn ở đây nhé,
Mà thôi, chuyện ai làm được cũng làm rồi, có người cả đời nghĩ mãi không ra, đến khi nghĩ được người ta nghĩ rồi, thì sao, hehe
Có điều trong lúc lục tìm hình cụ Việt Phương trên mạng, thì gặp cái hình cụ chụp chung với vợ, hay quá đi mất.
Chụp chung với vợ có gì hay? Không, bối cảnh bức hình mới hay, nó cho thấy hai cụ chụp ở nhà, phía sau chỗ ngồi có một bức thư pháp hẳn là của ai đó tặng. Bức thư pháp viết 4 chữ: di bảo tiền triều. Cái hay nằm ở 4 chữ ấy. Nhưng hiềm vì hình chụp cỡ này thì không nhìn thấy được lạc khoản, nên thông tin tiếp theo về trường hợp bức thư pháp này chưa làm rõ được.
Đền đây thì lại nhớ các loại anh hào vẫn thường bảo rằng mình quen cụ Việt Phương lắm, mình đến nhà cụ vào các lần xyz vân vân. Thế có bao giờ những người ấy chú ý đến bức thư pháp mà xem cái lạc khoản nó viết gì không nhỉ?
Còn nữa, những ai nhìn bức hình này mà không thấy gì hay, thì thôi không cần phải bàn đến nữa vậy. hehe

Việt Phương và vợ – Ảnh: http://nguoidothi.vn

Viết như một phần của mình dần dần bỏ đi

Sách do NXB Trẻ ấn hành quý IV-2016 – Ảnh: L.Điền

Phan An – anh chàng từng nổi đình đám với quyển tạp văn đầu tay Quẩn quanh trong tổ cách đây 5 năm và đình đám hơn nữa là điều hành trang web Lá Cải suốt thời gian dài – vừa trở lại với cộng đồng bạn đọc của anh bằng quyển sách thứ ba: Con chim khổng tước còn hót vang ngày mở đất.

Những tạp văn của Phan An thoạt đọc cứ nghĩ anh viết theo lối tiện tay: nhớ đâu viết đó, theo dòng cảm xúc mà tuôn ra. Nhưng điều này đúng chứ chưa đủ. Quả là đến tập tạp văn thứ ba này, giọng điệu của tác giả có vẻ miên man bất tận, nhiều đoạn đọc anh mà như bị cuốn theo dòng tâm sự đang dạt dào lôi cuốn, có câu văn anh “tuôn chảy” những 128 chữ, bằng cả một đoạn văn dài. Ấy vậy mà giọng điệu vẫn hấp dẫn, cứ đọc cái bài mở đầu bằng câu “Anh Lê, anh có yêu nước không”, sẽ thấy một Phan An rất tinh quái trong việc triển khai hàng loạt câu văn dài như thế, dài nhưng đủ hàm súc và lôi cuốn, và hấp dẫn còn hơn… cái dài của một câu vọng cổ. Quan trọng hơn là tình yêu đất nước, nỗi niềm đau đáu với quê hương, tâm sự day dứt khôn nguôi của một người lớn lên xa quê vẫn ngóng vọi về quê nhà với ngồn ngộn chuyện đất chuyện người, chuyện về sự dở sự hay, chuyện thật buồn và chuyện thật mắc cười… được anh chắt lọc đưa vào từng trang sách. Mà Phan An ngóng vọi về quê nhà thật, anh chàng xứ Quảng nay tha hương tận Singapore tỉ mẩn giở Google map lần xem lại những con đường ở quê, xem nó dẫn từ đâu đến đâu, rồi áng chừng khoảng vườn nhà mình là chỗ nào trên mảng bản đồ kỹ thuật số dường như vô tri ấy… Nhưng cái sự tỉ mẩn ấy cũng chỉ là tự tìm một chất xúc tác để mạch chuyện chảy ra thành trang viết. Bản thân những câu chuyện của Phan An, từ hoàn cảnh phát sinh cộng với cách diễn đạt có duyên của anh, sẽ khiến bạn đọc như bị hút dính bởi những tình tiết, những liên tưởng đa dạng, thú vị và khác lạ. Một ông chèo đò ở quê, một cô gái câm té giếng trở thành điên, những đứa bạn học và những bậc phụ huynh kỳ dị, những cái chết thương tâm được tác giả thuật lại bằng giọng điệu tỉnh khô khiến nhất thời bạn đọc không kịp nhận ra nỗi đau đớn tột cùng đè nặng lên bao thế hệ dân quê… Và rồi khi gấp sách lại, mạch chuyện của Phan An vẫn chưa dừng hẳn, nó còn tiếp tục cựa quậy trong tâm tưởng người đọc. À thì ra không phải ai cũng đủ tinh tế để nắm bắt những chuyện như thế này. Cái mất tích của thằng cu Quắn con cô bé Xíu dở người liệu có còn ai nhớ, nhưng nó đại diện cho nỗi đau truyền đời của một gia đình dân quê lương thiện đấy chứ? Rồi cái chết của bé Chuyền sau cái chết bất ngờ của cha là ông Hai Cà Rết đã giáng nỗi đau thế nào cho bà Hai Cà Rết, liệu có ai chia sẻ không? Thật may, còn có một người “rỗi hơi” là tác giả quyển tạp văn này ghi nhận tỉ mỉ những chuyện làng quê tưởng vô tình nhưng đầy hữu ý ấy.

Và đằng sau những cảm xúc sâu nặng với làng quê ấy, người đọc còn thấy một Phan An đang đau đáu trước bao nghĩ suy đòi hỏi một người trí thức trẻ phải nghiêm túc với chính mình. Hãy nghe anh nói về thái độ cần phải có đối với tiếng Việt: “Khi đặt bút viết một điều gì đó, bất kể nghiêm túc hay bâng quơ, con cũng sẽ cẩn thận cân nhắc từng ngữ, từng từ, soát từng lỗi chính tả, từng vần điệu, từng dấu thanh… Con sẽ ngày một thêm yêu những người đã yêu tiếng nước con, bất kể xưa kia họ đã làm gì, theo phe phái nào, bất kể những kẻ nhân danh lịch sử đang phán xét họ như thế nào. Bởi vì một người biết yêu tiếng Việt quyết không phải là người xấu, không bao giờ là người xấu. Và ngược lại, một người Việt dù tài giỏi đến đâu, đạt được những thành tựu vẻ vang thế nào, nếu không yêu tiếng Việt thì chưa thể gọi là người tốt được”. Và anh tự vấn về lịch sử: “Anh có yêu những người lính đã xả thân bảo vệ Hoàng Sa, yêu chiến hạm Nhật Tảo đến lúc chìm vào lòng biển? Anh có yêu người vợ đọc bức thư cuối cùng chồng viết trước khi mất cùng hòn đảo, có yêu người chồng đến khi nhắm mắt vẫn không buông lá cờ da vàng máu đỏ, hay không?”.

Và còn nhiều nữa, Phan An tâm sự rằng quyển sách này là “những suy nghĩ và cảm xúc trước khi đi ngủ hàng đêm, tuy hỗn tạp nhưng mà thật”. Anh viết như để tự nhắc mình, lời nhắc thật ghê gớm: “tất cả, một lúc nào đó, đã từng tồn tại, nhưng lại đang dần dần bị lãng quên. Bởi chính tôi. Như là tôi đang lặng lẽ nhìn một phần của mình dần dần bỏ mình đi, dần dần chết đi, mà không làm gì được”. Bạn đọc cũng cần những sẻ chia như vậy.

Lam Điền

Bài này không được đăng báo, nay đem về đây đặng lâu lâu mình tự đọc lại mình vậy thôi chớ hông có ý gì. hì hì

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.