Nhà thơ Huyền Chi trở lại từ chuyến Thuyền viễn xứ


Tập sách ấn hành khi tác giả Huyền Chi bước vào tuổi 85 – Ảnh: L.Điền

Cách nay hơn nửa thế kỷ, khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Thuyền viễn xứ của tác giả Huyền Chi, công chúng miền Nam khi ấy thường bắt gặp trên tờ nhạc phát hành có in kèm lời nhắn “Huyền Chi, cô ở đâu”.

Nhưng tuyệt nhiên không có phản hồi. Câu chuyện ấy có lẽ cũng rơi vào quên lãng trong bao nhiêu nỗi thăng trầm của chính nhạc sĩ Phạm Duy và thời cuộc nước nhà từ ấy. Nhưng nay, tác giả Huyền Chi bất ngờ xuất hiện trở lại, bằng tập sách “Huyền Chi & Thuyền viễn xứ” để kể lại nhiều câu chuyện sau 67 năm. Nữ nhà thơ 18 tuổi năm nào giờ đã là cụ bà 85 tuổi.

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1952, khi Huyền Chi in tập thơ đầu tay có tên Cởi Mở tại nhà in Sống Chung, trong lúc đến nhà in xem tập thơ mới in xong thì tình cờ được bà chủ nhà in giới thiệu với nhạc sĩ Phạm Duy cũng vừa đến đó. Phạm Duy thấy có thơ mới ra, nên đề nghị với Huyền Chi “Cô tặng tôi một cuốn đi, để xem có bài nào hay tôi sẽ phổ nhạc”. Thế là Huyền Chi đưa ông một cuốn, đề tặng hẳn hoi, đến khi bản nhạc Thuyền viễn xứ được công bố, nhiều người yêu thích, thì Huyền Chi đã về sống ở Phan Thiết. Và mặc dù vẫn đọc được lời nhắn “Huyền Chi, cô ở đâu” trên các tờ nhạc, nhưng Huyền Chi đã “chọn sự im lặng”. Đến nay, trong tập sách trở lại ở tuổi ngoại bát tuần, Huyền Chi bộc bạch về Phạm Duy trong Lời tựa: “Dù sao tôi cũng nợ ông một lời cám ơn vì nếu không có nhạc ông, bài thơ của tôi cũng không còn được lưu giữ trong lòng nhiều người Việt Nam đến ngày hôm nay”.

Điều đó hoàn toàn có thể, bởi ngay với tác giả, hoàn cảnh xáo trộn thời chiến đã khiến cô không còn giữ được tập Cởi Mở, nơi có bài Thuyền viễn xứ trình làng từ 1952 và từng làm náo động làng báo Sài Gòn lúc bấy giờ (do có người gán ghép tạo nên một scandal). Và ngay cả tên tuổi Huyền Chi cũng bặt dấu từ năm 1954, theo ý nguyện của cô là “khi lập gia đình, tôi gác bút”.

Như vậy là từ những năm 1950 đến nay, công chúng yêu nhạc, mê thích bài Thuyền viễn xứ của Phạm Duy, có thể thuộc nằm lòng ca từ và nhạc điệu ấn tượng: “Chiều nay sương khói lên khơi/ Thùy dương rũ bến tơi bời/ Làn mây hồng pha ráng trời/ Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người…”, nhưng vẫn không biết tác giả Huyền Chi là ai.

Thế rồi trong hành trình tìm kiếm tư liệu cho các bài viết Sài Gòn – Chuyện đời của phố, nhà báo Phạm Công Luận gặp được tác giả Huyền Chi – người mà Phạm Duy “kêu hoài nhưng không gặp” như cách nói của một số người trong giới. Ấy là vào năm 2016, lúc này Huyền Chi đã là bà giáo già tuổi tám mươi, nhưng vẫn minh mẫn và sống vui khỏe tại Quận 2 – TP.HCM. Từ cuộc gặp này, biết được Huyền Chi không còn giữ được tập thơ Cởi Mở chứa “mối duyên thơ nhạc với Phạm Duy”, nhà báo Phạm Công Luận đã tìm trong số các nhà sưu tập thân quen của anh có người còn giữ được tập Cởi Mở, và một người bạn khác – nhà sưu tập Vũ Hà Tuệ – đã kỳ công phục chế, in lại một bản thơ Cởi Mở với chất lượng mỹ thuật giống như bản gốc thời xưa, và đem tặng cho cô Huyền Chi, đến nay mọi người mới biết tên thật là Hồ Thị Ngọc Bút.

Thêm một điều kỳ thú nữa là mặc dù ở tuổi tám mươi, nhà thơ Huyền Chi vẫn là một facebooker năng động với nhiều bài viết rất hay (nick name Khánh Ngọc). Bà cho biết chính mạng xã hội này đã giúp bà kết nối với người thân trong họ từng bị thất lạc do gia đình ly tán sang hải ngoại từ trong chiến tranh. Chuyện này, bà kể thành một bài ký “Chuyện lạ khó tin nhưng có thật” in trong tập sách mới ra này.

Giờ đây, khi lớp công chúng yêu thích nhạc Thuyền viễn xứ và thơ Huyền Chi đã dần lùi vào quá vãng, bạn đọc ngày nay lại được chứng kiến một sự trở lại đầy thú vị cũng của chính Huyền Chi nhưng trong một phiên bản khác. Huyền Chi & Thuyền viễn xứ chứa đựng không chỉ toàn văn tập thơ Cởi Mở, mà còn bao câu chuyện dù chỉ xoay quanh một đại gia đình, nhưng không gian trải dài cả hai miền nam bắc, hải ngoại, và thời gian thì tràn suốt cả cuộc chiến tranh Việt Nam cho đến thời bao cấp và đến tận bây giờ.

Đọc Huyền Chi, bỗng rưng trước hình ảnh một người cha trí thức Tây học, lại ngạc nhiên khâm phục về tinh thần hiếu học của người Phù Lưu – Bắc Ninh – một truyền thống mà chính cha bà đã thụ hưởng như một cơ duyên của cuộc đời và tiếp tục duy trì tinh thần ấy mãi về sau. Rồi những câu chuyện tình thời thập niên 1950 với hình dáng người thiếu nữ trong đó nhiều phần chính là tác giả. Đọc bút ký của một cá nhân lão thành, mà như lần lại những đoạn trường của đất nước, thấy lại cuộc chia ly đằng đẵng mười năm của cha mẹ và mấy anh em, nghe được nỗi đau của người trắng tay do thời cuộc, nghẹt thở trước tai nạn của người thân và con cháu bị thất lạc… Đặc biệt ba thiên ký sự “Những bà mẹ thời bao cấp” với từng câu chuyện thật của chính gia đình cô Huyền Chi, độc giả ngày nay sẽ có thêm cái nhìn về sự chuyển mình “đổi mới” của nước nhà từ trong những phận người, những miếng ăn tần tảo để tồn tại qua chặng đường khốn khó…

Điều đáng quý hơn tất cả là tinh thần lạc quan, nét duyên dáng và dung dị toát ra từ câu chữ của cô Huyền Chi. Có lẽ ngần ấy tháng năm chìm nổi của cuộc đời đã mang lại cho cô một sức mạnh nội tâm lớn lao ẩn sâu trong vẻ ngoài bình dị. Nhớ hồi năm ngoái đi cùng mấy nhà sưu tập đến thăm cô ở Quận 2, thấy cô đang vui với lớp dạy tiếng Anh tại nhà, trước phòng khách vẫn xếp sẵn một loạt bao gạo cô làm từ thiện bằng hình thức: Những ai được cho sẽ tự đến mang về nấu cơm. Cô Huyền Chi quan tâm đến miếng ăn của người thân trong nhà và của bà con lối xóm bằng nhiều hình thức. Nay đọc trong sách, mới phát hiện ra cô có cách viết về ẩm thực thật có duyên: “Ở Phan Thiết, một lần tôi đã thấy một ông lớn tuổi ngồi xuống một quán bánh căn trên lề đường. Ông mượn một cái tô lớn nhất mà người bán có thể có, rồi nói với bà chủ: Bà bán cho tôi đầy tô này. Ông đổ đầy nước mắm, rồi chầm chậm, thong thả, nhẹ nhàng, trầm tư dùng đũa dầm nát bánh trong tô. Ông không vội ăn, ông đang làm một cuộc hành hương về kỷ niệm, về quá khứ, về một nơi nào đó xưa xa, với bóng dáng những đứa trẻ mang cặp táp tung tăng đến trường, một ông bố còng lưng kiếm sống, một bà mẹ lúi húi trong bếp hay chăm lo con cái… hoặc ông nghĩ về một cô bạn học sinh thời mới lớn nào đó má đỏ hây hây ngồi cạnh nồi bánh căn đỏ lửa với những giọt mồ hôi chảy dài trên trán, trên má, trên cổ. Vừa ăn vừa xuýt xoa, không biết vì thẹn hay vì nóng… đẹp quá mối tình đầu! Nước mắt ông không nhỏ xuống vì đã bao đêm nó thấm sâu vào trái tim ông…”.

Trong đoạn văn của bài ký Tản mạn về ẩm thực này, có cụm từ “hành hương về kỷ niệm” thật hay. Và việc ra sách ở tuổi 85 như thế này, tác giả Huyền Chi – Hồ Thị Ngọc Bút cũng tự mình làm một chuyến hành hương về kỷ niệm và còn chia sẻ đến đông đảo bạn đọc nữa, cũng là chuyện hay hiếm có, phải không.

Lam Điền

Ở tuổi tám mươi, bà Huyền Chi vẫn cầm bút chép bài thơ Thuyền viễn xứ theo yêu cầu của bạn đọc hâm mộ – Ảnh: L.Điền
Nhà thơ Huyền Chi (bìa phải) đang gặp gỡ các nhà sưu tập và bạn đọc hâm mộ năm 2018 – Ảnh: L.Điền
Advertisements

Trong lớp lý luận phê bình

(Tập Thái Bá Tân)

Chuyện phê bình văn học
mà tập huấn mấy ngày
lại lý luận nghệ thuật
dạy nhau làm sao đây?

Phàm văn chương thiên cổ
là chuyện của lòng người
lòng ai người ấy trải
có khi chỉ vì… chơi,

Có khi vì thời cuộc
vì nhân loại, vì mình
trải lòng thành nghệ thuật
thành ngọc sáng lung linh.

Tất nhiên làm nghệ thuật
là phải có chân tài
trăm họ thời Lê hậu
được đâu mỗi Ức Trai

Nếu không nhờ thực học
nhờ khổ luyện, thiên tư
làm sao mà tập huấn
để được vài Nguyễn Du?

Ngày xưa Kim Thánh Thán
đọc vạn quyển thiên kinh
chớ đâu cần tập huấn
mới nên nghiệp phê bình.

Hay như Ngô Thì Nhậm
học nát chữ nhân gian
nói về thơ chỉ luận
sơ sơ được mấy hàng…

Nay nghệ thuật nhăng nhố
phim, nhạc loạn cào cào
đạo văn, thuổng ý tưởng
giới phê bình làm sao?

Nếu bây giờ dựng kịch
“Câu chuyện Đoàn Văn Vươn”
tôi tin là sẽ diễn
đâu đó ở… thiên đường
người phê bình cũng chỉ
xem kịch với… Diêm vương!

Như vậy thì đời sống
cùng trăm nỗi lòng dân
với những gì nghệ thuật
còn bao lâu mới gần?

Như vậy mà tập huấn
dạy bảo nhau phê bình
để rồi nhìn cuộc sống
chỉ còn cách… làm thinh.

Biên Hòa, 18-7-2012

Sách đọc ngày xuân


Những bức tranh phù thế vừa được công ty Sách Phương Nam và NXB Văn hóa Văn nghệ ấn hành – Ảnh: L.Điền

Bạn đọc có thể bắt đầu những ngày xuân bằng những trang sách thú vị. Ở đó có khoảng trời văn hóa cổ truyền và nhiều thanh âm kỷ niệm của chính các tác giả đã lần giở những trang đời mình chép thành trang sách. Xin giới thiệu với bạn đọc:

Những bức tranh phù thế của nhà báo Phạm Công Luận chính là phần gạn lấy những tinh hoa tươi đẹp từ trong ký ức thiếu thời cho đến khi từng trải cuộc đời chìm nổi. Trong dòng kỷ niệm, mỗi bài viết là một gợi nhắc sâu xa. Hồi tưởng lại chính mình dưới cái nhìn trẻ thơ, anh cho thấy một Sài Gòn ngày xưa bình yên tươi đẹp và… lạ lẫm; lần trong ký ức gia đình dòng họ, anh nhẩn nha tâm sự chuyện cúng giỗ, chuyện làm bánh, chuyện hàng rong, xe kéo, xích lô, sách truyện thiếu nhi, phụ nữ làm đẹp và hàng lô lốc những mảnh văn hóa thị dân có thể nói một cách không ngoa là “chỉ Sài Gòn mới có”. Đọc sách, lắng nghe những câu chuyện thời quá vãng, đôi khi giật mình như thể bị rớt vào thực tại hiện tiền, như chi tiết tác giả và những học sinh tiểu học được uống sữa nóng ở trường nhờ vào chương trình chăm sóc sức khỏe học sinh của Chính phủ miền Nam trong những năm 1960s. Vậy là từ nửa thế kỷ trước, học sinh tiểu học đã từng được uống sữa nóng ở trường rồi đó chứ, điều này có thể là một gợi ý nhân văn những người đang thiết kế chương trình giáo dục hôm nay chăng? Cũng có khi, chính từ một góc nhìn riêng, tác giả khéo léo nhận ra một vấn đề lớn lao tầm cỡ… triết lý nhân loại. Đó là chuyện ăn và cảm tình qua việc nấu – ăn. Dường như ai cũng có thể “vạch bụng mình” nói lên một vài điều về ẩm thực tâm đắc, nhưng Phạm Công Luận có khác, anh nói chuyện món ăn và tình cảm truyền xuyên thế hệ, anh khéo léo nhắc chuyện bếp núc với nguyên tắc quan trọng không chỉ đầu bếp lừng danh Jacques Pépin từng lên tiếng: “Các món ăn quan trọng là những món ăn đã được nấu chín với tình yêu thương”, mà nhà văn G. G. Marquez cũng từng để nhân vật Urbino (trong Tình yêu thời thổ tả) giận dữ trả lại món ăn với phát biểu: “Món này đã được nấu chín mà không có tình yêu”. Cuốn sách còn hợp phong vị ngày xuân khi sử dụng các minh họa màu và tranh bìa của Marcelino Truong như một bộ sưu tập tranh lồng trong những trang sách, rất đặc biệt.

Bên kia cầu chữ Y lại là một mảng văn chương và ký ức thú vị khác. Tác giả xuất thân là nữ sinh trường Gia Long – Sài Gòn, nay đã chẵn thất tuần, nhưng niềm đam mê viết lách từ nhỏ theo đuổi mãi cả khi xa đất nước định cư nơi trời Tây khiến cho từng vùng trởi ký ức quê nhà hình thành qua trang sách. Niềm yêu văn chương và dòng máu Việt hẳn phải thật đậm đặc trong tâm hồn cô Huỳnh Ngọc Nga, nên những trang viết trong tập Bên kia cầu chữ Y mới thật gần gũi thân thương và rặt một giọng Sài Gòn đến vậy. Phải yêu tiếng Việt lắm, thì sau mấy chục năm sinh sống ở xứ người, trong những dòng văn tự nhiên như phản xạ, người ta bắt gặp cái “cười hịch hạc”, cách “liếc mắt ăn đèn”, trò chơi thảy “nắp phén”, chàng trai “bảnh tẻn”… như chứng tích lời ăn tiếng nói chân chất của một thời. Bên kia cầu chữ Y vừa có chất tự sự khi tác giả kể lại không gian sống của gia đình mình và cộng đồng cư dân một góc Sài Gòn hồi trước 1975; lại chan chứa chất văn khi tác giả hóa thân vào nhân vật để thuật lại dông dài những câu chuyện, những mảnh đời mà nếu không phải người trong cuộc thì không thể biết được. Tự nhận mình là người viết lách “tay ngang”, nhưng đọc thiên truyện Khi ông địa khóc, mới thấy Huỳnh Ngọc Nga viết văn có bút pháp: một ông địa chứng kiến chuyện gia đình và chòm xóm, thấy bao cảnh thịnh suy, tham gia vào đời sống người đời… Cấu tứ truyện cần độ sâu của cảm nhận tâm lý/ cảm thông xã hội, và cần kiến thức tín ngưỡng dân gia để lý giải những diễn biến chuyện đời theo một trục hợp lý riêng, rất đáng để tham khảo. Hay như câu chuyện về Ngải mặn Cà Chum, một câu chuyện ly kỳ do bối cảnh thực pha trộn với đời sống tâm linh đặt trên diễn biến của một mối tình tay ba vừa trong trắng đáng thương vừa có chất lụy tình đến nỗi phải viện dẫn thần linh… Chính chất hư thực trong câu chuyện tạo thành hàng loạt tình tiết hấp dẫn có sức cuốn hút khiến bạn đọc không dễ rời trang sách…

Kỷ niệm của một người trải lên trang viết, hóa thành mối dây kết nối những tâm hồn bạn đọc. Đây cũng chính là niềm hạnh phúc của người trót yêu nghiệp viết lách. Bản thân tác giả Phạm Công Luận cũng thừa nhận rằng: “Khi viết về quá khứ, tôi nhận ra mình là ai, những gì đã tác động đến mình để trở thành một con người đủ cả những điều hay và dở… Tôi hiểu vì sao mình yêu tha thiết một thành phố dù nó dần dần không còn giống nơi chốn mình yêu thương…”. Anh gọi điều ấy là “vẻ hấp dẫn của ký ức”, và bạn đọc cũng có thể bắt đầu năm mới của mình bằng những trang sách đẹp ngày xuân.

Lam Điền

         
Bên kia cầu chữ Y do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành – Ảnh: L.Điền

Viết Thư – đẹp quá má ơi!

[Bài này viết từ 2 năm trước, nhân một ngày giáp tết bạn bè nhắc chuyện hồi xưa. Đến nay đọc lại, mới thấy mình chỉ mới viết về 3 đứa bạn, xem chừng túc tắc hơi lâu, nên đưa ra đây bạn bè đọc chơi. hehe]


Viết Thư (đứng giữa). Ảnh: từ FB của Thư

Viết Thư (thứ 2 từ phải). Ảnh: FB Nguyễn Nguyên

Lứa tụi mình hồi đó thường có điểm chung là một số nhà có khoảng cách tuổi của anh em và chị em bằng nhau. Viết Thư thuộc một trong các trường hợp này. Lê Trần Viết Thư, có chị là Viết Tú; chị Tú học lớp chị Kiều của mình, cũng giống như nhà Hoài Lân có chị Hoài Thi học cùng lớp chị mình, hay như mình học chung lớp Hoài Lân còn em Hoài Thảo học chung lớp Lam Anh em mình.

Hồi lớp 5 bé thơ, mình đã cơm đùm gạo nắm lên huyện học chung với Viết Thư trong đợt bồi dưỡng. Lần ấy Thư học lớp toán 5 còn mình học văn 5. Lúc chưa lên huyện thì mình với Thư học khác trường, hình như lúc đó mình còn chưa biết Thư là con của thầy Đông. Đến chừng đi học, cuối tuần phụ huynh lên đón con về, mình mới biết Viết Thư nhà ở Bình Liêm. Cái lần học ở Sông Mao ấy nhiều kỷ niệm. Mình với Thư thì chẳng có kỷ niệm gì, dường như mạnh ai nấy cắm đầu học. Hồi đó có một đứa bạn nam học lớp toán 5 người ở Sông Mao (xã Hải Ninh) là địa bàn trường Quân sự đứng chân – tức là ngay tại cái chỗ bọn học sinh bồi dưỡng lớp 5 và lớp 9 đến đóng ngụ. Đến nay mình quên đứa bạn này tên gì, chỉ nhớ mang máng hình như là dân tộc Nùng vì giọng nói lơ lớ. Sở dĩ nhắc đứa bạn này vì hồi đó cả trại bồi dưỡng toàn huyện tập trung tại Sông Mao thì đại diện khối lớp 5 của xã PRT hình như chỉ có mình và Viết Thư. Mình hay lân la hỏi bài môn toán với Thư. Thư ở chung phòng nữ với các chị lớp 9, có buổi tối mình qua phòng nữ học bài làm bài gì đó, hồi đó đâu có bàn ghế trong phòng, tất cả trải chiếu ra ngồi học, viết thì cúi xuống hí hoáy viết, một hồi mệt quá cả bọn lớp 5 lớp 9 gì đều nằm ra viết cả. Bỗng đâu mình đang làm bài thì nghe tiếng lơ lớ của thằng bạn kia ngoài cửa sổ, nó gọi giật rằng, ê, ra đây đi chứ sao lại nằm cạnh con Thư thế kia, sắp đụng nhau rồi đó. Mình chống bút ngoảnh lại nhìn, thấy nó hất hàm chọc mình, quay lại thì thấy quả là mình và Viết Thư đang nằm sát rạt trên tấm chiếu mạnh ai nấy… làm bài. Đến lúc đó mới hiểu ra thằng bạn kia có ý chọc mình, mà thiệt tình mình chỉ chú mục chuyện làm bài thôi. Nhưng vì vậy mà mình xếp sách vở lại đi ra, rồi về phòng mình, thâm tâm cũng thấy thèn thẹn. Rồi sau đó tự dưng đâm ra ngại, không lân la qua phòng mấy chị nữ nữa, mặc dù các chị vẫn hồn nhiên gọi mình qua chơi, có lần không rõ mấy anh chị lớp 9 đụng nhau vụ gì mà một chị người Chợ Lầu hay Phan Hiệp gì đó nằm úp mặt xuống chiếu khóc hù hụ, vừa khóc vừa chửi một anh lớp 9, ở Bình Tân hay Sông Lũy gì đó, đại khái là cùng trong huyện nhưng ở một xã xa, mình chỉ nghe địa danh chứ chưa đặt chân đến bao giờ.

Sau cái đận học bồi dưỡng hồi lớp 5 ấy, mình với Thư chẳng còn gặp nhau. Mãi đến lớp 8 lớp 9 mới gặp lại. Lớp 8 thì gặp thỉnh thoảng do cái sự nhập lớp rồi tách lớp hồi đó rất mắc cười. Cái này bạn Thanh Trung chắc còn nhớ, vì mình có tức cảnh sinh tình làm mấy câu thơ đến nay chỉ còn nhớ đại khái “Lúc lại bảo rằng: hai lớp nhập/ Khi thì ra lệnh: tách ra riêng/ Khi dời khi đổi khi nhập tách/ Chẳng thấy gì hay chỉ thấy phiền”. Đến lớp 9 thì lại học chung với Viết Thư. Rồi lại tập trung học bồi dưỡng trên huyện nữa. Lớp 9 thì lớn bộn rồi, bấy giờ học bồi dưỡng vui ghê lắm, con trai con gái quậy phá tưng bừng. Mình chỉ nhớ Viết Thư thường ít tham gia quậy (hay là toàn quậy nhằm những lúc không có mặt mình, hehe), nhưng mỗi khi có ai chọc tức, thì Thư thường phụng phịu dậm chân tức tối chực khóc. Những lúc như vậy, nhìn hai má Viết Thư ửng đỏ và cái dáng vùng vằng cự nự, tự dưng mình cũng thấy… hay hay. Nhưng được cái hồi đó thường là Thái Tâm quậy chọc các bạn nữ tức chơi, còn mình chỉ đứng ngoài, thảng hoặc mình có tham gia quậy thì trận nào trận nấy đều vượt ngưỡng, hoặc là xung đột kéo thành hai phe tranh đấu như cái trận xả nước ngập lụt cả phòng nữ, hoặc là lãnh đạo mấy đứa nam lớp 5 nửa đêm chui vô nhà bếp lục cơm ăn dẫn đến suýt bị đuổi khỏi trại bồi dưỡng…

Viết Thư học sở trường các môn tự nhiên mà các môn xã hội cũng rất giỏi. Lên cấp 3 thì học chung lớp A trứ danh của mình. Lúc này mình để ý thấy Viết Thư không tham gia các nhóm quậy trong lớp, cũng không thuộc nhóm các bạn hiền lành tách biệt, mà thuộc nhóm học giỏi và chỉ chí thú chuyện học. Đại khái là Thư thuộc nhóm “lợi hại” của lớp. Suốt ba năm cấp 3, ngoài những khi học chung nói chuyện trên lớp, hình như mình với Hoài Lân và cả Trung bầu nữa vì ở chung xã nên có ghé nhà Thư chừng hai ba lần là cùng. Ba Thư nghiêm nghiêm đúng kiểu thầy giáo, mẹ Thư có vẻ hiền nhưng cũng không thấy nói gì. Mà hồi đó mình ghé Thư thì thường lý do liên quan đến bài vở, gặp gỡ nói dăm câu ba tiếng là đi rồi. Chỉ nhớ nhà Thư có vườn, có trồng cây trồng hoa. Và Thư còn một người em trai nữa thì phải.

Mấy năm cấp ba thật là nhiều biến động, mình gần như trở thành nhân vật lập dị của lớp, của trường, vừa lo chuyện học, vừa lo chuyện cơm gạo ở nhà. Mấy chuyến ăn chơi bù khú của lớp mình đều không tham gia. Giờ ngồi nhớ bạn bè mới thấy tiếc cái thời hồn nhiên vô tư trong sáng ấy: giá như mình có dịp đi chơi chỗ này chỗ kia với các bạn, biết đâu những trang kỷ niệm giờ đây lật lại sẽ được dày thêm.

Sau khi tốt nghiệp cấp ba, đám bạn chia tay mạnh ai nấy đi tứ tán. Mình khi vào Tổng hợp thì nghe tin Viết Thư học Sư Phạm. Và lần gặp mới nhất của mình với Viết Thư chắc cũng đã tròn hai mươi năm rồi. Đó là khoảng cuối năm thứ nhất đại học, mình đưa hai người bạn cùng phòng ký túc xá Thủ Đức là bác Thông và bác Duy về quê chơi. Cũng xin mở ngoặc chỗ này, cái phòng ký túc xá 308 của mình hồi năm nhất đại học ở Thủ Đức có một nét riêng: là anh em trong phòng đều gọi nhau bằng “bác”, bác Thông, bác Duy, bác Đoàn, bác Hậu, bác Hỷ, bác Điền. Có anh bạn ở phòng khác những lân la sang phòng 308 chơi suốt cũng lây cách gọi này là bác Nghĩa.

Lần đó mình đưa bác Thông và bác Duy về quê, đi loanh quanh xuống biển Phan Rí chơi, mà hình như dịp ấy mấy đứa bạn ở quê đang đi học cả thì phải, lục lọi thế nào mình đưa hai “bác” ấy ghé nhà Viết Thư. Lần đó gặp Thư, hỏi thăm chuyện học hành, giới thiệu hai người bạn mới, không khí cũng không có gì đặc biệt. Nhưng với mình thì có một phát hiện chấn động, là bấy lâu nay mình không để ý, đến lúc này gặp lại tự nhiên thấy Viết Thư đẹp quá. Lúc ở nhà Thư ra, mình nói ý này với bác Thông và bác Duy, rằng sao tự nhiên bữa nay mình thấy Viết Thư đẹp thiệt, làm hai bác cười quá cỡ nhưng cũng đồng ý với mình là bạn Thư đẹp thiệt nghen. Từ nhà Thư về nhà mình, tự dưng mình nghĩ vẩn vơ, và chợt nhớ hình như có một lúc nào đó má mình từng nói nhà mình có họ hàng xa với Viết Thư thì phải. Về đến nhà, bèn hỏi luôn với má, ủa chớ nhà mình với nhà Viết Thư có họ hàng hả má, má nói ừ, mà sao? Mình nói không sao, tự nhiên bữa nay gặp lại con thấy Viết Thư đẹp quá, haizzzz (hồi đó chưa có cách viết chữ haizzz như vầy, nhưng mình có thở dài một cái đánh thượt y như vậy, hehe). Má trợn mắt nhìn mình, a cái thằng này, đừng có nghĩ chuyện bậy bạ nghen mầy, làm hai người bạn kia cười mình một trận nữa. hehe

Vậy mà sau lần đó mình và Viết Thư bặt vô âm tín. Mấy năm trước có lần về quê hỏi thăm thì biết Thư về dạy ở Tuy Phong là huyện kế bên và đã lập gia đình. Nhưng không hỏi được số điện thoại. Rồi mình lại đi. May sao tết Bính Thân 2016 vừa rồi trên đường về quê chợt nhớ hồi đi học bồi dưỡng, bèn lên Facebook kêu gọi mọi người vào kể lại kỷ niệm xưa đặng ôn chuyện cũ nhớ bạn bè một thời. Ấy mà nhờ đó mọi người gọi nhau thế nào bỗng thấy nick Viết Thư xuất hiện. Thiệt là tao ngộ bất ngờ dù là tao ngộ trên… Facebook. Vậy cũng là mừng rồi, cũng đủ để khi rảnh rỗi chat mấy câu, hỏi thăm và hẹn một lúc về quê cùng nhau ngồi “tám” chuyện thuở xưa.
Nhất định vậy rồi, Viết Thư ha!

6-5-2016

Áo Trắng – giữ gìn mảnh nhỏ văn chương

Chẳng có gì bí ẩn nữa đâu anh
Em khờ dại vì em trong trẻo quá
Nếu biết tình yêu ưa tìm lạ
Em hóa kiếp đồng đen, câm lặng đến muôn đời

Quả là như món ngon khiến người ta nhớ tên quán ăn, mỗi lần nhớ lại bốn câu thơ trên của Đinh Thu Hiền, là lập tức nỗi nhớ zoom vào cái tên Áo Trắng – tập san thơ văn đã mang bốn câu thơ đầy rúng động đến với tuổi thơ mình hồi còn ở quê.

Và thời gian như một cái chớp mắt, sáng 14-1 ngồi dự buổi kỷ niệm Áo Trắng về lại mái nhà “Xuất bản Trẻ” mới kịp nhớ ra tập san thơ văn này đã tồn tại 29 năm rồi. Hai mươi chín năm, khởi đi từ ý tưởng của ông Lê Hoàng hồi còn làm giám đốc NXB Trẻ năm 1990, nhà văn Đoàn Thạch Biền nhận phần tổ chức thực hiện tập san Áo Trắng do lẽ tận thâm tâm ông Biền mong muốn có một diễn đàn dành cho những bạn trẻ từ khắp các vùng miền thử nghiệm những sáng tác của mình để “khởi sự với văn chương”. Mong muốn ấy bắt gặp chủ ý “cần có một tuyển tập thơ văn hằng tháng in các sáng tác trẻ dành cho bạn đọc trẻ” của ông Lê Hoàng, nên một sân chơi văn chương được hình thành. Nhắm vào những cây bút đang độ tuổi học sinh vinh viên, nên tên gọi Áo Trắng trở thành manchette trong 29 năm qua là vậy.

Vì ra đời trong bối cảnh nền xuất bản chuyển mình theo thị trường, nên Áo Trắng gặp ngay bước đường lận đận. Mười năm đầu hoạt động dưới mái nhà Xuất bản Trẻ với hình thức chuyên đề thơ văn, bảy năm sau được công ty Phương Nam đầu tư tiếp sức, bảy năm sau nữa trở thành sản phẩm của báo Tuổi Trẻ, và quay về với NXB Trẻ trong năm năm trở lại đây. Nhưng dù long đong qua từng nơi chủ quản như vậy, Áo Trắng với niềm tâm huyết của nhà văn Đoàn Thạch Biền và các cộng sự hết lòng với văn chương, đã nhen nhóm ở nhiều tỉnh thành những “Gia đình Áo Trắng” – một mô hình gắn kết bạn yêu văn thơ lấy tập san Áo Trắng làm nơi thể hiện các sáng tác của mình. Thập niên từ 1990 đến năm 2000, hàng loạt Gia đình Áo Trắng ra mắt tại các tỉnh thành có các trường đại học, cao đẳng. Những Gia đình Áo Trắng tự sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm văn chương, tuyển chọn tác phẩm và gửi về đăng trên Áo Trắng, khơi dậy một phong trào sáng tác văn thơ trong lực lượng học sinh sinh viên lúc bấy giờ.

Có lẽ, đất sống của Áo Trắng là khoảng sau những hồn nhiên nhí nhố kiểu độ tuổi Mực Tím, nhưng cũng chưa đến độ chín chắn định hình như các tờ Văn Nghệ hay Văn Nghệ Quân Đội. Những sáng tác có tiềm năng đi đường dài với văn chương nhưng còn ở chặng khởi đầu, những khao khát muốn thử nghiệm một lối viết, một cách nhìn, một thiên hướng thẩm mỹ… đều được Áo Trắng đón nhận. Và cũng chính tập san này trở thành mảnh đất để các nhà thơ trình làng tác phẩm văn xuôi đầu tay, như Lê Minh Quốc với truyện Sân trường kỷ niệm, Đoàn Vị Thượng viết Chuyện tình chim hót, Khánh Chi có Mảnh trăng côi cút… Và một loạt tác giả ngày ấy còn trong màu áo trắng nay đã thành danh trên văn đàn: Trang Hạ, Hoàng Anh Tú, Dương Bình Nguyên, Nguyễn Thị Thanh Bình, Đinh Lê Vũ, Nguyễn Lê My Hoàn, Lê Đỗ Quỳnh Hương…

Bây giờ, trước dấu mốc Áo Trắng bước vào tuổi 30, những người thực hiện gặp nhau cũng bồi hồi xúc động, ông Nguyễn Minh Nhựt – giám đốc NXB Trẻ – hào hứng khi Áo Trắng có diện mạo mới với giấy in Nhật Bản Kinmari bìa màu có logo báo Tuổi Trẻ như tiếp nối sự đồng hành từ những năm trước. Đặc biệt là Áo Trắng nay đã định kỳ phát hành vào ngày 15 hằng tháng như hình thức một nguyệt san, tránh cho bạn đọc phải phân vân trước việc phát hành thay đổi thời điểm. Còn nhà văn Đoàn Thạch Biền vẫn ân cần trước những cây bút từ các vùng miền, dịp này Áo Trắng trao giải cuộc thi viết tạp bút Gia đình tôi, có một số tác giả đoạt giải ở tỉnh xa không về nhận được, nhà văn Đoàn Thạch Biền đã chu đáo nhờ người chuyển phần hiện kim về để các tác giả “có thêm niềm vui tết”. Và hơn tất thảy, việc giữ gìn được “một khoảng văn chương nhỏ bé” là tập san Áo Trắng này chính là niềm vui, là sự đồng cảm thực tế từ những nhà văn đi trước đã trân trọng các sáng tác văn chương của lớp đàn em đang khởi sự về sau.

Lam Điền


Tháng chạp

Tháng chạp về trong sâu thẳm se khô
Câu hát cũ vọng qua từng bụi khói 
Mùa nhấp giọng chén trà trong bốn cõi 
Để hương bay ngan ngát dặm sông hồ,

Thủy Nguyên: Cổ tích giúp nuôi dưỡng điều đẹp đẽ cho tâm hồn


Th.S. Thủy Nguyên trả lời phỏng vấn tại NXB Kim Đồng – Ảnh: L.Điền

Một ê kíp gồm Th.S. Thủy Nguyên và 16 họa sĩ của NXB Kim Đồng vừa hoàn thành tập sách tranh (Artbook) Thiện và ác và cổ tích. Lần đầu tiên, bạn đọc bước vào thế giới cổ tích hoàn toàn mới, ở đó, các nhân vật phản diện cũng lên tiếng tự kể câu chuyện về mình trong ngôi thứ nhất…

Vốn ấp ủ niềm yêu thích cổ tích từ ngày bé thơ cho đến lúc làm mẹ, cô Thạc sĩ văn hóa học Thủy Nguyên đã vào vai các nhân vật cổ tích để viết lại 16 câu chuyện theo phong vị hoàn toàn mới. Với cô, văn học dân gian ngấm vào máu thịt từ những câu chuyện, lời ca của ông bà nội, “Sau này khi học cũng trội về văn, lúc vô đại học cũng học chuyên ngành văn học, rồi cao học văn hóa, toàn tiếp cận văn học gian. Và khi em làm mẹ, em lại kể chuyện cổ cho con nghe. Mỗi tối, em kể bằng nhiều cách khác nhau, nhấn nhá hoặc nhập vai để kể lại, bé nghe và rất thích. Nên mới có ý tưởng là làm sao để có một quyển sách kể chuyện cổ tích nhưng kể bằng cách như thế này, để trẻ con không bị nhàm chán bởi những cách kể cũ nữa. Nhưng lúc đó thì chỉ ấp ủ thôi, đến khi em có cơ hội gặp Ban biên tập của NXB Kim Đồng, nhận được sự đồng cảm, nên hai bên cùng nhau bắt tay thực hiện quyển sách này”.

Lam Điền: Suy nghĩ về giá trị, thì truyện cổ tích phải có một sức sống nào đó, mà trong từng thời đoạn lịch sử khác nhau, cổ tích đều có cách sống, có chỗ sống… Nhưng bằng một cách giản dị nhất, Thủy Nguyên thấy truyện cổ tích hay như thế nào?

Thủy Nguyên: Theo em, dòng chảy của cổ tích từ xưa đến nay đều là mạch không ngừng. Thời của thế hệ em, trẻ con chưa có nhiều phương tiện giải trí, nên truyện cổ tích trong đời sống các em luôn cuốn hút và thú vị, trẻ con rất thích nghe truyện cổ. Thời nay là khúc quanh khác, các thể loại truyện nhiều hơn, nhưng cổ tích vẫn có sức sống, vẫn còn được trẻ con yêu thích và là một phần không thể thiếu trong thế giới tuổi thơ. Ba mẹ trong các gia đình cũng muốn để cho con tiếp cận truyện cổ tích.

Ở góc độ một bà mẹ, em thấy cổ tích thổi vào con trẻ những tưởng tượng phong phú, trẻ con được bay bổng, được sống với những điều trong trẻo. Bài học của cổ tích không chỉ dành cho trẻ mà còn cho cả người trưởng thành. Đó là hướng người ta đến những điều đẹp đẽ, khiến con người ta hoàn thiện bản thân  hơn. Cho nên, dù gì đi nữa, thì truyện cổ tích, những sách đẹp, tranh đẹp vẫn được các bậc cha mẹ khuyến khích con em mình tiếp cận chứ không bị lãng quên hoặc bị bỏ sang một bên. Những điều đó làm cho trẻ con hào hứng với cổ tích, và cổ tích vẫn tiếp tục dòng chảy của mình.

Sáng tạo lại từ những câu chuyện quen thuộc để đưa ra một không gian cổ tích mới là một thử thách, liệu bạn đọc có thể hình dung quyển Thiện và ác và cổ tích có những gì hấp dẫn?

Đây là một cuốn truyện được kể theo cách mới, Thiện và ác và cổ tích cho cả hai tuyến nhân vật cùng lên tiếng. Lần đâu tiên, bạn đọc sẽ nghe các nhân vật phản diện tự nói về mình, tự kể câu chuyện của chính họ chứ không phải như bao đời nay họ là nhân vật thứ ba luôn bị người đời đem ra kể lại.

Trước giờ, chúng ta có cái nhìn phiến diện về tuyến nhân vật phản diện trong cổ tích. Chẳng hạn như khi kể về các nhân vật phản diện theo ngôi thứ ba của cổ tích, những nhân vật ác hay bị thêm các từ của dân gian lồng vào, ví dụ như “có tên bán rượu Lý Thông gian xảo kia”. Như vậy tại sao ta không để cho Lý Thông tự nói, xem anh ta bao biện như thế nào. Hoặc là Cám sẽ nói gì về câu chuyện của mình, trong truyện này, Cám có nói rằng: mẹ con tôi lúc nào cũng xem chị Tấm như người ở trong nhà vậy, mẹ tôi thì lúc nào chả tin tôi vì tôi là con của mẹ mà… Những suy nghĩ của nhân vật như vậy giúp người đọc hiểu hơn tâm trạng của tuyến nhân vật đó. Cũng có thể nói đây là một cách công bằng để cả hai tuyến thiện ác đều cất lên tiếng nói của mình. Qua đó, người đọc dễ chia sẻ  hơn.

Ngoài ra, phần tranh vẽ là điểm rất ấn tượng của cuốn sách. 16 câu chuyện cổ tích ở đây được 16 họa sĩ lành nghề tài hoa dày công vẽ minh họa. Các họa sĩ đã dành nhiều tháng để hoàn thành việc vẽ các câu chuyện cổ tích theo lời mới mà em soạn ra. Các họa sĩ đã rất chăm chút và làm việc chỉn chu. Như vậy, cả phần lời và tranh làm nên một cuốn sách đẹp, xứng đáng để trên kệ sách của mỗi gia đình như một tham khảo đặc biệt về truyện cổ tích.

Và sau mỗi truyện trong sách, còn có một phần gọi là khái quát lại nội dung nghệ thuật của truyện ấy. Đây như một tóm tắt chắt lọc về kiến thức, bởi sách không chỉ dành cho các độc giả nhỏ tuổi, mà các độc giả trưởng thành sẽ tìm thấy ở phần này những kiến thức về giá trị nội dung, về motif truyện với những truyện nào có nội dung tương tự trong kho tàng cổ tích ở các nước khác…

Có thể hình dung tác giả phải vào vai nhân vật, rồi chọn cách diễn đạt sao cho vừa chừng mực có thể chấp nhận được, vừa đủ hấp dẫn và không sai lạc mạch nội dung của truyện, xem ra công việc cũng khá nhiêu khê?

Đây là một trong những khó khăn khi làm sách này. Vì khi nhập vai, phải làm sao để thể hiện được tính cách của nhân vật, chẳng hạn ngôn ngữ của phú ông thì phải khệnh khạng thế nào, kẻ cả ra sao, và phải gói gọn trong dung lượng vừa phải của một quyển sách tranh (artbook) không cho phép phần lời dông dài. Nhiều khi cũng không được sáng tạo vượt quá mức độ chấp nhận của người đọc thông thường, phải như xưa giờ người ta đã quen. Chẳng hạn Tấm cám là một trường hợp đau đầu, vì cái kết của nó từng gây tranh cãi nhiều, có ý kiến cho rằng Tấm sát phạt vậy là tàn nhẫn quá. Trong cuốn này em cân nhắc kỹ, vì em cũng không muốn đưa nhưng chi tiết như vậy vào trong đầu của độc giả nhỏ tuổi. Chính vì vậy mà em đã giảm một chút tình tiết này, chỉ để Cám kể là tôi và mẹ đã bị trừng phạt. Chỉ cần như vậy để trẻ nhận ra điều đúng và sai, thiện và ác, cái ác thì bị trừng phạt, vậy là đủ. Vì thực sự vào vai và diễn đạt cái ác cũng rất khó.

Còn tiêu chí để chọn ra 16 truyện trong kho tàng cổ tích mênh mông…?

Em và ban biên tập cùng thống nhất chọn làm sao được các truyện đặc sắc, quen thuộc với bạn đọc cả trẻ con và người trưởng thành, đặc biệt là các truyện có các cặp nhân vật nổi bật hoặc là trong một mối tương quan (như vợ chồng Âu Cơ và Lạc Long Quân) hoặc mâu thuẫn giữa thiện và ác, để viết lại lời kể. Và kết quả đã chọn được 16 truyện.

Nếu có người nói rằng với cách tạo điều kiện cho những nhân vật ác nói những điều “không đúng với hình dung của tôi về nhân vật ấy”, thì Thủy Nguyên sẽ nói gì?

Mặc dù cái ác lên tiếng, nhưng lên tiếng đúng theo cốt truyện thôi, chứ không phải lên tiếng thái quá vượt quá mức độ cho phép. Còn với góc độ người làm nội dung, em thấy ê kip họa sĩ đã làm hết sức mình, để cho ra đời một quyển sách đem lại cái nhìn mới về cổ tích, thú vị cho người đọc. Phía NXB Kim Đồng cũng đặt yêu cầu cao cho nhóm thực hiện, sao cho phải thật chỉn chu, và đưa ra được những thông điệp sáng rõ nhất có thể.

Và theo Thủy Nguyên, thông điệp đó là…

Là làm sao tiếp nối dòng mạch của cổ tích, vì bây giờ các phương tiện cho trẻ giải trí rất nhiều, nên em muốn làm sao trẻ vẫn đến được với cổ tích, được bồi đắp bằng các giá trị mà cổ tích mang lại. Và mặc dù truyện cổ tích thường hướng người ta đến những điều đẹp đẽ, trọn vẹn, trong khi cuộc sống thì không phải lúc nào cũng được đẹp như vậy, nhưng với trẻ con, và cả người lớn nữa, em nghĩ là cần nuôi dưỡng cảm xúc và niềm tin, tin vào điều tốt đẹp. Trong cuộc sống cần niềm tin như vậy, để khi nào chới với, mình có cái bấu víu. Cổ tích giúp mình tin vào điều tốt đẹp, và nuôi dưỡng điều tốt đẹp trong tâm hồn, nhất là với những đứa trẻ. Đứng ở góc độ một bà mẹ, em không bao giờ để con em thiếu hụt những điều ấy trong tâm hồn.

Lam Điền thực hiện

Box 1:

Sáng thứ bảy 5-1, Thủy Nguyên và ê kip thực hiện tập Artbook Thiện và ác và cổ tích sẽ có buổi giao lưu ra mắt sách tại Trung tâm sách Kim Đồng (Lầu 2, 248 Cống Quỳnh, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh), tại đây còn có triển lãm các tranh vẽ khổ lớn đã được sử dụng trong tập sách này.

Box 2:

Những năm gần đây, bên cạnh việc chăm chút nội dung từng cuốn sách, NXB Kim Đồng còn mạnh tay đầu tư về hình thức, mĩ thuật. Thể loại artbook được quan tâm từ khá sớm, ngoài mảng artbook mua bản quyền từ nước ngoài, artbook trong nước của Kim Đồng bắt đầu từ quyển Những đôi mắt lạnh (Phan Hồn Nhiên và họa sĩ Phan Vũ Linh, xuất bản năm 2011), từ đó dòng artbook của Kim Đồng tiếp tục ra mắt với các đầu sách luôn thu hút đông đảo độc giả: Những nàng công chúa bí ẩn và Nàng lọ lem (của họa sĩ Khoa Lê), 5 Mùa (nhiều tác giả), Lĩnh Nam chích quái (phần tranh do họa sĩ Tạ Huy Long vẽ), Hành trình đầu tiên (Phùng Nguyên Quang & Huỳnh Kim Liên), mới nhất là Thiện và Ác và Cổ tích (Thủy Nguyên viết lời, và nhóm họa sĩ).

“Chúng tôi quan niệm: mỹ thuật là nội dung thứ hai của cuốn sách. Nhưng artbook đòi hỏi đầu tư nhiều về mĩ thuật, chi phí xuất bản cao nên giá thành là một phần trở ngại để sách đến được với số đông độc giả. Tuy nhiên, đây là hướng đi cần thiết, tiệm cận xu thế làm sách của thế giới, góp phần làm phong phú chủng loại sách. Và nhất là, hướng đến một thế hệ độc giả mới với thị hiếu thẩm mĩ ngày càng cao”, ông Cao Xuân Sơn – phó giám đốc NXB Kim Đồng – cho biết.

Previous Older Entries

Blog Trần Hoài Thư

cá nhân và tạp chí Thư Quán Bản Thảo

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.