Nhận là có có từ bụi mảy

Thu_bao_bat_bao

Rằm tháng mười, đọc lại chuyện Từ Đạo Hạnh,

Chuyện thì hay, và trong chuyện có hai bài thơ, cũng rất hay. Một bài mình nghe từ lâu, là nghe từ bản dịch, bốn câu lục bát, cứ ngỡ thiền sư nào đó làm, hóa ra là dịch từ bài kệ của cụ Từ Đạo Hạnh:

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thể gian này cũng không
Xưa nay bóng nguyệt lòng sông
Ai hay không có có không là gì,

Đến chừng đọc được bài thơ của Từ Đạo Hạnh, vỡ lẽ rằng bốn câu lục bát kia là dịch từ bài chữ Hán, thì lại nhận thấy có nhiều bản chép cái bản chữ Hán ấy khác nhau. Trên mạng cũng dị bản lung tung. Nay theo bản dịch của Lê Hữu Mục, Khai Trí in tại Sài Gòn năm 1960, có bản chữ Hán thì bài thơ cụ Từ Đạo Hạnh như sau:

作有沙塵有
爲空一相空
有空如水月
勿著是空空。
Tác hữu sa trần hữu
Vi không nhất tướng không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước thị không không.

Xem lại nguyên tác, thì bài lục bát trên kia dịch rất hay 2 câu đầu, mà rất thoát 2 câu cuối, đặc biệt là câu 4 thì khác ý hẳn. Trong khi đó ý của câu 4 là một ý rất quan trọng: Vật trước hữu không không. Xem một lượt các bản dịch, dường như điểm chung đều bỏ chữ “vật trước” không dịch. Trong khi đây là một dạng thơ làm theo văn nói của cụ Từ Đạo Hạnh, lại nói theo thiền ngữ, dịch cho đạt, thật không đơn giản. Nghĩa của bốn câu ấy thế này: Nếu nhận mọi vật là có thì từ mảy bụi hạt cát cũng là có/ Còn nếu xem mọi vật là không thì tất cả đều không/ Có không như trăng trong nước/ Đừng làm cho có thì cũng tức là không không.

Thấy tình hình như vậy, nên chỉ có thể hỗn dịch thế này:

Nhận là có có từ bụi mảy
Xem là không tất thảy đều không
Có không như nước trăng lồng
Đừng thành có tức không không vậy mà.

Trong chuyện Từ Đạo Hạnh còn bài thơ Thu lai bất báo nhạn lai quy, nhớ năm xưa hồi năm thứ nhất đại học bập bõm đọc bài này trên cái tháp hậu viên tu viện Vĩnh Đức với bác Do Thien Dang. Không biết nay bác còn nhớ không.

秋來不報鴈來歸
冷笑人間暫發悲
爲報門人休眷戀
古師幾度作今師。
(徐道行)
Thu lai bất báo nhạn lai quy
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi
Vị báo môn nhân hưu quyến luyến
Cổ si kỷ độ tác kim si.

Bài này, cụ Lê Hữu Mục dịch một bản thiệt hay:

Thu sang chẳng báo nhạn về đây
Cười bấy nhân gian nước mắt đầy
Nhắn với môn nhân đừng luyến tiếc
Thầy xưa mấy độ, đến thầy nay.

Bài này là Từ Đạo Hạnh làm trước khi “cởi thây mà đi”, tức quyết định tái sinh làm vua Lý Thần Tông, cụ làm dặn với đệ tử như vậy.
Cơ mà bản dịch của cụ Lê Hữu Mục hay nhưng không hỗn. Mình bèn hỗn dịch một phen:

Thu sang chẳng báo nhạn về
Cười nhân gian tạm não nề thương thay
Con đừng quyến luyến, không hay
Thầy xưa tái thế thầy nay mấy hồi.

Advertisements

Sách nhà cụ Vượng ra chợ

Nghe sách vở một ngày ra đến chợ
rộn cung đường nức nở bút ai quen
rồi gạch đá theo giấy lùa bỡ ngỡ
chạm rêu xanh còn tẩn mẩn soi đèn…
1-12-2017

Ảnh: L.Điền

Một hai thành ba trợn

Anh em học hành ghê quá
đồng môn sư đệ các trường
mình một hai thành ba trợn
bốn mùa năm cõi tha phương
 
Cúi xuống thương mình thiếu học
ngẩng lên thẹn kẻ thừa tiền
nhìn giọt mồ hôi công cốc
nghĩ thầm hai chữ nhân duyên
 
Bạn có đứa thành thiên cổ
có người lợi ngất thiên kim
có chân vẹt mòn ngõ phố
có tay không ngớt kiếm tìm
 

Hư Vân ngữ trích 022

参襌的目的,在明心見性,就是要法掉自心的污染,實見自性的面目。
污染就是妄想執著;自性就是如來智慧德相。如來智慧的相,為諸佛眾生所同具,無二無别,若離了妄想執著,就證得自己的如來智慧德相,就是佛,否則就是眾生。祇為你我從無量劫來,迷淪生死,染污久了,不能當下頓脱妄想,實見本性,所以要参襌。因此参襌的先決條件,就是除妄想。
妄想如何除法?釋迦牟尼佛說得很多,最简單的莫如“歇即菩提” 一個“歇”字。(022)
Mục đích của tham thiền là ở chỗ minh tâm kiến tánh, là phương pháp quan trọng để giảm dần ô nhiễm trong tâm, để thực thấy mặt mũi tự tánh.
Ô nhiễm chính là vọng tưởng chấp trước; tự tánh chính là đức tướng trí tuệ Như Lai. Đức tướng trí tuệ Như Lai này cả chúng sinh và chư Phật đều có đủ, không sai không khác; nếu lìa vọng tưởng chấp trước là chứng đắc đức tướng trí tuệ Như Lai tự tánh, là Phật, còn không thì là chúng sinh. Chỉ vì ông, tôi từ vô lượng kiếp đến nay mê đắm sinh tử, nhiễm ô đã lâu, không thể lập tức bỏ phứt vọng tưởng, thực thấy bản tánh, nên mới cần tham thiền. Vì vậy điều kiện tiên quyết để tham thiền, chính là trừ vọng tưởng.
Pháp trừ vọng tưởng thế nào? Thích Ca Mâu Ni đã nói rất nhiều, giản đơn nhất không gì bằng “dừng bặt tức bồ đề”, một chữ “dừng bặt” thôi.
(Hư Vân ngữ trích)

Ông Sáu Gù chùa Suối Ngổ

 

Đấy dãy núi như một bức trường thành xanh rì trước mặt là Hòn Ngang. Nó nổi lên bề thế giữa những cánh đồng lúa chung quanh. . . Hề hề. . . “Ngang” là ngang ngược ấy mà. . . . . . Tía tui kể lại, từ cái thời xa xưa lắm rồi, thời mà nơi này còn là vùng ma thiêng nước độc với “Cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận”. . . .Trên núi có một cái chùa gọi là chùa Chí Đại. . . Chùa chuyên dạy Thần quyền. . .

Thầy trụ trì còn để tóc, ăn mặn và có vợ con. . . .Học trò thường là người giang hồ dọc ngang giỏi võ nghệ và ngang bướng coi trời bằng vung. . . Thầy dùng Thần quyền để chế phục họ. . . Rồi dạy họ giới luật nhà Phật, tinh thần võ sĩ đạo. . .Biến họ thành người thuần tính, trọng nghĩa khinh tài và hữu dụng cho xã hội. . .

Khi thấy họ hết ngang ngược và đã thành thục Thần quyền nghĩa là: Đao kiếm chém vào người không đứt. . . Có thể công phá các vật cản. . . .Đi trên lửa hay mẻ chai. . . . .Chạy trên mặt nước. . . .Có thể vận công trị bệnh cho người khác. . . .Có pháp trừ tà diệt quỷ. . .v. .v. . .

Thì Thầy sẽ trao tín vật để học trò mình băng rừng vượt thác đến cái núi thứ nhì gọi là Hòn Dung. . . .Hềhề. . . .“Dung” là biết tha thứ lỗi của người khác. . . không chấp. . . . Có tấm lòng độ lượng khoan dung với người có lỗi. Không sát phạt mà cứu giúp và độ họ. .  để họ trở thành người tốt, người hữu dụng. . . .Trên đỉnh Hòn Dung thời ấy cũng có một cái chùa gọi là chùa Chí Thánh. . .Chùa có vị Thầy cũng là cư sĩ, ăn chay kỳ. . .có vợ con. . . .dạy các pháp của Mẹ. . . thuộc về thần thông pháp thuật. . .bùa ngải. . . .khế ấn linh phù. . . linh duợc luyện đan. . v. .v. . .Chùa nhằm đào tạo những người ngang ngược đã thuần tính trở thành người có tâm đại bi. . . .thương yêu muôn loài. .  .khiêm cung nhường nhịn kẻ khác. .  .thường bất khinh đối với mọi chúng sanh. . . .và luôn biết “dung” người. . . không sát phạt ai kể cả người có lỗi với mình. . . .

Sau khi đã thành thục các pháp của Mẹ. Nghĩa là có thể dùng khế ấn, linh phù, trừ tà diệt quỉ và độ sanh. . . .Có thể dùng bùa ngải để trị bệnh, có thể hái thuốc nam. . . .Luyện linh dược. . . .Trên thông thiên văn, dưới biết địa lý Có tài bói toán, nhâm độn.  . .v. .v. . .và nhất là có tâm đại bi thương yêu chúng sanh. Luôn khoan dung độ lượng, không chấp người có lỗi. . . .

Thì Thầy sẽ trao tín vật để học trò mình băng rừng vượt thác đến cái núi thứ ba gọi là Hòn Bà. . . .Hềhề. . . Hòn Bà nhưng ngoài việc thờ Mẹ lại còn thờ Ông tức là Vua Cha. . .

Theo tía tui kể lại, thì trên núi ấy thời xa xưa lắm rồi. . . Có một cái chùa gọi là chùa Chí Tôn. . . Thầy trụ trì búi tóc ăn chay trường và ly dục. . . .Dạy các pháp của thượng Tiên. . . .các pháp của Thượng Đại Hội Đồng Tối Cao Cơ Mật Viện. . . . .các pháp của Lục Vị Thiên Hòang. . . các pháp của Tứ Vị Thiên Vương. . .Thầy cũng dạy Phật Gia Quyền . . . .và phương cách quản lý tổ chức để phát triển đường đạo. . . . . . Đây cũng là nơi người học trò qua ân điển thiêng liêng nhận ấn lệnh để dạy Mật và các phép thông công. . . .Là nơi người học trò thọ thêm giới nhà Phật, rèn tứ oai nghi, tâm chánh định tỉnh giác và tùy duyên hiển tướng. . . .

Đến đây người học trò đã đủ điều kiện để xuất gia. . . .

Người Thầy sẽ trao một tín vật để học trò mình băng rừng vượt thác đến cái núi thứ tư gọi là Hòn Chùa. . . .Trên núi có một cái chùa gọi là chùa Chí Linh. Chùa có một cái giếng Tiên trên đỉnh núi mà nước ngọt tự phun lên chung quanh có nhiều rau ngổ mọc nên còn gọi là chùa Suối Ngổ.. . . . Thầy trụ trì ở đây là một vị tăng. . . .và người học trò sẽ xuất gia học Phật với vị Thầy này. . . .Đây là nơi người trò sẽ học về Thiền Mật và Bát Nhã. . . .học Đại Bi huyền công, Hrih huyền công, pháp Chuẩn Đề, Lăng Nghiêm ngũ hội và học pháp “Vô lượng Thọ Phật”. . .Nếu được trên điểm đạo nghĩa là lúc nào cũng thường trú thường tịch quang. Tùy việc, ân điển thiêng liêng sẽ tự biểu thị thành lời nói và hành động. Khi ấy người học trò có thể dùng các môn văn hóa nghệ thuật để truyền chánh pháp của Như Lai, như: Viết văn, làm thơ, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, múa hát, sắp đặt. . .v. .v. . .Nghĩa là người ấy với giới tự giữ đã biến thành một nghệ sĩ tâm linh đích thực. . . .

Thông qua thiền ngữ và các thiền cơ mà người học trò hiển thị khi thực hành các pháp bát nhã này. . . .Người Thầy sẽ ấn chứng cho học trò mình. . . . Gọi là “Trực ngộ”. . .

Và kể từ khi ấy, người trò mới hạ sơn. Tự mình vừa tu “giác”vừa hoằng dương chánh pháp của Như Lai. . . .

Này, chú Ba biết không. Bốn cái núi ấy như bốn ngón tay của Phật hơi khum lại. . . .Trên đầu các ngón tay ấy là bốn cái chùa đều bắt đầu bằng chữ Chí. . . .nghĩa là tột cùng các pháp. . . .Nó tương ứng với tứ tượng và tứ pháp là: Phong , Lôi, Vũ, Điện. . . .

Còn vùng thung lũng này như trong lòng bàn tay của Phật. . . .Tía tui kể lại. . . .Thời xa xưa lắm rồi ở vùng Gò Củ Chi này có rất nhiều cọp, nhiều cây mã tiền và có một cái chùa rất linh thiêng . .Tên Chùa này cũng bắt đầu bằng chữ “Chí”, nhưng chí gì thì tui quên mất rồi. . . .Chùa ở Gò Củ Chi này với bốn cái trên bốn đỉnh núi kia hợp thành một mạn dà la nghĩa là đàn tràng của Mật tông thờ Ngũ Phương Phật. . . .và Ngũ Vị Kim Cang. . . .

Cái đàn tràng vĩ đại này tựa theo hình khe thế núi và linh điển thiêng liêng mà thành. . .còn gọi là Kim Cang đàn tràng của Ngũ Trí Như Lai. . . .. . . Với Trung ương đàn tràng là chùa Gò Củ Chi thờ Đại Sư Cổ Phật Tỳ Lô Giá Na và hóa thân ngài là Tịnh Thân Kim Cang. . . .Bốn phương khác thờ: Bảo Sanh Như Lai với hóa thân là Quân Trà Lợi Kim Cang. . . .A Di Đà Như Lai với hóa thân là Lục Túc Kim Cang. . . .Bất Không Thành Tựu Như Lai với hóa thân là Bất Động Tôn Như Lai. . .và A Súc Phật với hóa thân là Hàng Tam Thế Kim Cang. . . .

Gọi là Ngũ Trí Như lai vì người học đạo sẽ học thiền với minh sư tại thế của mình và học Mật với chư vị thiêng liêng qua ân điển:

Bảo Sanh Như Lai dạy Diệu Quán Sát Trí của thiền. . . và hóa thân ngài là Quân Trà Lợi Kim Cang sẽ dạy các pháp Mật tương ứng

A Di Đà Như Lai dạy Bình Đẳng Tánh Trí của thiền . . . và hóa thân ngài là Lục Túc Kim Cang sẽ dạy các pháp Mật tương ứng

Bất Không Thành Tựu Như Lai dạy Thành Sở Tác Trí của Thiền . . . và hóa thân ngài là Bất Động Tôn Kim Cang sẽ dạy các pháp Mật tương ứng

A Súc Phật dạy Đại Viên Cảnh Trí của thiền. . . .và hóa thân ngài là Hàng Tam Thế Kim Cang sẽ dạy các pháp Mật tương ứng

Cuối cùng ở trung ương đức Tỳ Lô Giá Na sẽ trực chỉ nhân tâm để nguời tu kiến tánh thành Phật. . .và hóa thân của ngài là Tịnh Thân Kim Cang sẽ dạy các pháp Tịnh Mật tương ứng. . . .

. . . . .

Chú Ba biết không, cái đàn tràng của trời đất này to lớn, âm u huyền bí và nhiều cảnh lạ. . . nhiều cái kỳ dị lắm. . . .

Như cái Hòn Dữ kia còn gọi là Hòn Lớn cây cối rậm rạp, nhiều vực nhiều khe, hùm beo rắn rít, rất khó vượt qua. . . .

Trên núi có một cái cối xay lúa bằng đá rất lớn. . . . Gọi là cối xay chứ nó là một hòn đá khổng lồ.. . . Phía trên mặt có một cái lỗ thủng thông ra đất. . . .Từ cái lỗ ấy trấu ở đâu cứ tuôn ra thành một đống ước độ một giạ. . . .Chắc là trấu còn tuôn ra nhiều hơn nữa, nhưng vì gió ở đây rất mạnh nên bay đi hết chỉ còn trong chỗ khuất mà thôi. . . .Bởi vì đã có người nghịch hốt hết đống trấu ấy đi. Ngày khác lên lại thấy đống trấu đầy như cũ. . . .

Chú Ba biết không, trên đỉnh đó âm u vì đầy mây mù. Gió lớn thổi từng hồi, hú lên rất ghê. Mỗi lần có gió thổi, cỏ chung quanh nằm rẹp xuống thành  một đường cong, ngoặc ở nhiều chỗ trông giống như hình chữ bùa . . . .Các cụ xưa bảo đó là vì gió lộng qua đồng Găng đồng Tròn này, hốt trấu do bà con làm lúa ở đây xả ra trên đồng. . .Gió mang trấu men theo các hẻm núi rồi thổi dộng lên đỉnh. Chui qua cái lỗ của hòn đá ấy, khiến trấu rớt lại trên đỉnh núi cao như thế. . . .

Nhưng có người lại nói đó là chư Thần linh núi này dùng bùa xay lúa bằng cái cối đá này để thành gạo nấu cơm. . . .

Hòn Dữ đó hút gió ghê lắm. Gió muôn phương, sau khi gào rú qua gộp Lá Liễu, men theo các khe và các hẻm núi vách dựng đứng để chui qua Eo Gió, và tụ về nơi đây. . . .Bởi vậy tía tui gọi chỗ cối xay đá ấy là Hà Tụ Phong. . . .

. . . . .

Còn nơi đỉnh Hòn Dung có môt vườn cam rất lớn. . . .Người qua đây có thể khấn vái xin ăn. .  .thì thấy cam rất ngọt. . . Nhưng ăn rồi thì không được mang về. . . .Nếu mang về thì tự nhiên bị lạc trong vùng đá dựng ở chung quanh. . . Phải bỏ hết của rừng lại mới về được. . . Hềhề. . .tía tui còn kể rằng. . . . Có người khi ăn, lỡ nuốt phải hột cam. . . .cũng bị trên làm cho lạc phải ở lại vùng đá dựng chung quanh vườn cam cho đến khi nào đi cầu ra hết hột cam. . . .thì tự nhiên tìm được lối xuống núi. . . .

Chú Ba thấy có kỳ không?!. . . .

. . . .

Còn trên đỉnh Hòn Bà có bàn cờ tiên. . . .Đó là một phiến đá rất lớn, trên mặt có những đuờng nứt giống hệt bàn cờ. . . Còn có quân cờ bằng đá rất lớn sắp hai bên. . . .Có người đi ngang qua, nghịch, lấy tay xóa đi. . .hoặc hốt quân cờ vất khắp nơi trong rừng. . . .Hôm khác lên lại thấy quân cờ sắp lại như cũ. . . .

Hòn Bà cũng như các núi khác đều có rất nhiều cây trầm hương. . . .Dân đi trầm, thường phải khấn để Bà độ cho thì mới tìm trầm được. . . Còn nếu không sẽ bị lạc mà không tìm ra . . . .Tía tui kể lại rằng. . . .thời Pháp thuộc có một cha cố người Tây thấy một cây trầm rất to ở đỉnh Hòn Bà. . . Ông liền cho người lấy dây cột gốc rồi chuyền đến tận chân núi. .  .Hôm sau cho người theo dây lên núi để chặt cây trầm. . .thì thấy dây buộc vẫn ở chỗ cũ mà cây trầm hương đâu chẳng thấy. . . .như chưa hề có cây trầm hương ở đây vậy. . . .

. . . .

Còn như vùng Hòn Chùa, nếu đi từ Đại An vào, phải qua suối Phèn rồi tới suối Ồ Ồ. . . .Suối Phèn rất nhiều cá, trông thấy như đặc nước. . .Cho chúng ăn để nhìn chơi thì chúng tới rất đông. . . .tưởng như có thể sờ được. . . .Nhưng nếu nhúng tay xuống nước thì thoắt cái chúng đã lẫn hết vào gộp đá không thể bắt được. . .

Suối Ồ Ồ giống như một con giao long đổ xuống một cái hồ chung quanh là vách đá cao ngất. . . nước trong vắt. . .bụi nước bay như sương phản chiếu ánh mặt trời tạo ra muôn ngàn sắc cầu vồng trên cây rừng và đá núi. Tạo thành một cảnh trí cực kỳ diễm lệ. . . .Nếu đột nhiên dưới đồng mà nghe tiếng suối chảy ồ ồ, như tiếng hò reo của thiên binh vạn mã thì thế nào trời cũng có mưa to. . . .Bởi vậy thời phong kiến khi nào hạn hán quá lâu thiếu nước cày cấy. . . .Quan địa phương phải lên vùng suối Ồ Ồ đặt bàn hương án khấn vái cầu mưa. . . Rồi cho người lên phía trên lăn một hòn đá thật to rơi xuống hồ nước. . .Tiếng động vang đến tận dưới đồng cũng nghe được. . . .thì thế nào trời đất cũng nổi cơn mưa giông rất lớn. . .sấm sét nổ đùng đùng nước ngập tràn trề khắp mọi nơi. . . .

. . . . .

Chú Ba biết không, từ gộp Lá Liễu đi dần xuống đồng bằng về phía tay trái thì sẽ đến vườn trầu của Mẹ. Vườn trầu không biết ai trồng từ đời nào mà bám cây rừng vách đá xanh tốt um tùm. . . .Nếu đến hái cúng Mẹ và chư Thiên cùng ăn chơi tại chỗ thì không sao. Nhưng hái mang về thì sẽ bị lạc không xuống núi được. . . .

. . . . .

Từ chùa Suối Ngổ xuống đến đồng thì có ba cái giếng tiên, quanh năm nước ngọt tự phun lên không bao giờ khô cạn. . . .Cái thứ nhất nằm phía sau chùa suối Ngổ hay chùa Chí Linh. . . . Cái thứ hai nằm giữa đường đi. . . .Cái thứ ba phun lên tại chùa Đông Lãnh nằm ngay giữa một vườn xoài rất lớn. . . .À. . . .tại chùa Đông Lãnh này, có thờ Tổ sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một vị sơ Tổ của dòng Thiền Mật . . . .

Chùa Suối Ngổ này thời chiến tranh bị bom đạn phá tàn phá không còn gì. . . .Chùa mới này do nhóm Bà Vú và cô Ba Kẹp cùng chư huynh đệ của Mẹ ở Khánh Hòa xây dựng lại. . . .con nhang đệ tử rất đông, nhưng Phật tử thì ít. . . .chưa có tăng trụ trì. . . .

 

Ngày già Năm nương theo điển quang tìm về thăm chùa để đảnh lễ Như Lai và Mẹ. . . .Ban đầu chư huynh đệ ở đây tỏ vẻ không mặn mà lắm, vì thấy cụ già chỉ ngồi thiền chẳng tụng kinh hay lên đồng như họ. . . .Còn dân làm rừng làm rẫy ở đây cũng vậy, họ tưởng cụ già là người vô công rỗi việc lên chùa vãn cảnh, trong khi họ phải lao động cực nhọc mà chẳng đủ ăn, nên thường tỏ vẻ không thích, hỏi gì cũng không nói. . . .

Vì mến cảnh chùa, muốn thỉnh thỏang về đây để tịnh nên già Năm phải bắt đầu làm quen với họ. . . .

Chú Ba Biết không, ban đầu mỗi khi về chùa cụ lên núi rất sớm khi chưa tỏ mặt người. . .

Vì đường đi dốc đá dựng đứng rất cao, dân làm rừng làm rẫy mỗi khi gánh chuối, thơm, củi. . . . hay các cây gỗ lớn thường phải bỏ lại giữa lưng chừng núi, hôm sau sẽ lên khiêng tiếp. . . . Cụ già thương tình thường gánh hay vác hộ họ xuống chân núi. . . .Có những cây gỗ rất nặng đôi ba người khiêng. .  . hay những gánh than gánh trái cây quá khổ cụ cũng vận công gánh hay vác xuống dễ dàng. . . .Khi dân làm rừng lên núi định khiêng về họ rất ngạc nhiên và vui sướng . . . .Vì quá nhiều lần như vậy và trong một thời gian rất dài nên dân làng quyết tìm hiểu chuyện lạ này. . . .Họ rình suốt đêm  trong rừng và bắt gặp cụ già mảnh mai đang vác gỗ giùm họ. . . . Họ rất ngạc nhiên và cảm động:

–  Cụ ơi, nặng lắm, của chúng cháu thì để chúng cháu làm cụ nghỉ đi. . . .chúng cháu cảm ơn cụ đã giúp đỡ lâu nay. . .

–  Hềhề. . . .chẳng có gì. . . .đối với mấy chú thì nặng, chứ già tập luyện tu hành từ nhỏ nên thấy nhẹ lắm. . . .Già chỉ vác một nhoáng là xong ngay đấy mà. Để các chú hì hục mãi không đành lòng. . .Sẵn đường lên chùa. . . .chứ khi khác thì các chú phải tự làm thôi. . .

 

Vừa nói cụ già vừa chồng hai cây gỗ làm một rồi vác đi nhẹ tênh. . . .

–  Thưa cụ. . . .có nước trà đây mời cụ dùng một ly. . . .

–  Cảm ơn các chú. . . .cho già xin vài khúc củ mì để vừa đi lên chùa vừa ăn. . . .hềhề. . .sáng vội đi, ta chưa kịp ăn gì. . . .

. . . . .

Lên chùa cụ già đốt hương đảnh lễ Như Lai, chư Tổ và Mẹ cùng các quan, các Thánh. . . .Xong, cụ già đến một góc chánh điện ngồi thiền trong yên lặng. . . .

Một lát sau, các vị huynh ở đây đang làm Phật sự dưới nhà bếp, đang quét sân, đang làm hương đăng. . .v. . v. . .thậm chí đang ở trong rừng. . . tự nhiên như lên đồng. Họ đều nhận điển và chạy về chánh điện. . .. Vị huynh trưởng tràng trụ trì ở đây tự nhiên được ơn trên tá khẩu tự nói ra mồm:

–  Nó là con ta, đang làm Phật sự, các ngươi phải chung lòng chung sức hộ trì nó. . . .

 

Mô Phật. . . bình thường vị huynh ấy vì hiểu nhầm thường tỏ vẻ không thích cụ già. . . .Nay tự miệng mình nói ra như vậy thật là việc dị kỳ chưa từng có xưa nay. . . .

Từ đấy đến nay đã nhiều năm rồi, mỗi lần về chùa ngồi thiền luyện công. . . .cụ già thường hay hái lá thuốc và vận công trị bệnh giúp người nghèo khổ quanh vùng. . . .Mỗi lần có người hảo tâm cúng dường vì được lành bệnh. . .Cụ đều công đức để sửa sang lại chùa và giúp đỡ người nghèo khó quanh vùng. . . . Bởi vậy ai cũng cảm mến và thường đến chùa rất đông mỗi khi nghe tin cụ về tịnh ở đây. . . .

Chú Ba thấy đấy. . . .hôm nay bà con lại kéo về chùa. . . .Tôi chắc cụ già lại sắp lên. . . .Thôi để tôi đi dọn dẹp quét tước chung quanh một tí cho sạch. . . .

. . . . .

Cơn mưa rừng chợt đến rồi chợt đi. Núi đồi như thay màu lá mới. . . .Mây hay khí đá không biết mà trắng đục và mềm mại chảy chầm chậm vào chùa theo các khe lũng hẹp. . .

Phút chốc cảnh vật chung quanh như xóa nhòa đi. . .chỉ còn cái chùa Suối Ngổ nhỏ xíu như đang bay, đang chập chờn ẩn hiện trong mây. . . .Có tiếng chim quốc gọi bạn thiết tha lẫn trong tiếng gió ào ào lướt qua khu rừng thưa phía sau chùa rồi chạy về phía gộp Lá Liễu. . . .

Ông Tư đã đi từ lâu mà Ba Gàn vẫn còn ngồi đấy với biết bao kỷ niệm buồn vui. . . .Cũng ở nơi này, những ngày gian khó hắn đã đến đây. . . Hắn đã gặp những người bạn. . . những người đồng tu. . . .Một số đã chết. . . .Một số đã thay đổi và đã ra đi. . .. . .Một số còn lại với biết bao người mới đến. . . .Họ như mây như cơn gió này. . . Đến chùa rồi lại ra đi. . . .Chỉ có chùa thì vẫn còn lại! . . . .

Ba Gàn lẩm bẩm:

–  Mong sao cơn gió này, nó lại chạy về đỉnh Hà Tụ Phong để gặp gỡ gió muôn phương. . .

Trong tiếng chuông chùa ngân nga từ chánh điện. . . .Có tiếng chổi của ông Tư loạt xoạt trên nền đá cứng. . . .

Ba Gàn cũng đứng dậy. Hắn cầm cái gùi khoác vào sau lưng rồi đi về phía cây đa ông Bảy bụng. Phút chốc bóng hắn biến mất trong khu rừng đầy cỏ lau và những cây thiên tuế già nua. . .

Khu rừng tối nhờ nhờ. . . .Nắng chiều loang lổ như gấm thêu. . . .Cỏ và lá cây lướt mướt. . . .Ba Gàn hái rau rừng để về chiều nay chiêu đãi già Năm và chư huynh. . . .

Cây nào ở chỗ nào. . . .Lá gì có vị gì, hắn đều thuộc nằm lòng. . . .Tỷ lệ giữa vị chát của chòi mòi, vị chua của chua lẻ, vị  cay nồng của đọt mắc mèo, vị bùi và dôn dốt của tai nghé, vị ngòn ngọt của ngòi dương xỉ . .v. .v. . . phải cân đối và phù hợp thì sau khi trộn chung với nhau, rổ rau rừng mới hấp dẫn khi chấm nước tương kho hay chao chưng của cô Bảy. . . .

Kinh nghiệm này hắn học được từ ông Sàu Gù, người bạn già của hắn trên đỉnh Hòn Chùa. . . .

Hắn nhớ những khi buồn, hắn dạy võ cho ông Tư và ông Sáu. . .Rồi hai ông già ôm nhau vật và đấu nhau còn hắn thì ngồi bên ngoài hò reo cổ vũ. . .

Ông Tư thì còn đấy, nhưng đã già và ho hen ốm yếu quá rồi. . . .Còn ông Sáu thì đã chết. . . .Ngày ông Sáu chết hắn đang làm Phật sự ngòai bắc . . . .gần 5 năm trôi qua nhân duyên lại đưa hắn về chùa. . . .

Chiều nay trên bàn thờ ông Sáu. ngoài hương hoa trà quả.Hắn còn đặt đĩa rau rừng, tô cháo môn và đĩa đồ nhậu làm bằng đá và sỏi của Hòn Chùa. . . .Những món ăn độc đáo này hắn được ông Sáu truyền nghề. . . .

Đốt nén hương cắm lên bàn thờ, hắn khấn người đã khuất:

–  Ông Sáu à. . . .Ba Gàn đã về đây. Ông có linh thiêng thì về ăn rau rừng, húp cháo môn và nhậu đá sỏi với tui đi. . . . Chúng ta vẫn thường làm như vậy mà. . . .

Nước mắt rưng rưng. . .Hắn nhớ người bạn già, người bạn thời gian khó long đong của hắn! . . .

Ngày ấy hắn ở chùa này. . . .

Một buổi chiều mưa rừng đầy trời. . . .Cũng có mây bay vào chùa. . .Cỏ cây cũng ướt át và chim quốc cũng gọi bạn như hôm nay,. . . .Hắn đang hái lá thuốc trong rừng thì ông Sáu gọi về:

–  Chú Ba nè, về nhậu với tụi tui đi. . . Ông Tư mới về dưới xuôi, có người cho một chai Bầu Đá ngon lắm. . . .

–  Mô Phật tui ăn chay không dám uống ruợu.

–  Chẳng phải hôm trước trời mưa. . . .Chú buồn. . .Ngồi uống một mình. Tui hỏi thì chú Ba bảo đang uống ruợu với ma quỉ và thần linh? . . .

–  Mô Phật, tôi nói vậy chứ thực ra đang uống nước lạnh! . . . . .

–  Nước lạnh mà sao tôi thấy hình như chú cũng hơi phê?

–  Hềhề. . . .đúng vậy. Tôi có pháp uống nước lạnh mà cũng phê chẳng khác gì uống rượu? Cái đó gọi là “Cơn say thần thánh”!. . . .

–  Thì bữa nay tụi mình cũng làm vậy đi. . . .Thay vì uống với ma quỉ và thần linh, thì chú uống với tụi tui đi. . . .Hềhề. . . ông Tư nói cứ mỗi lần trời mưa thì thấy chú buồn ghê lắm như có tâm sự gì. . . Hôm nay trời cũng mưa, sợ chú lại buồn nên ổng biểu rủ chú nhậu chơi. . .

. . . . .

Ba Gàn về chùa, thì thấy ông Tư đang ngồi đợi ở hè trước bên gốc cây ké già. . .lá đang rụng đầy sân. . .

Hắn vào trong rót nước lạnh vào một cái chai ruợu Bầu Đá đã hết. . . .Cái chai đựng nước lạnh mà hắn vẫn thường mời ma quỉ và thần linh về uống rượu với mình. . . .

Bên ngoài trời lại rả rích mưa. . . .khí đá mờ mịt . . . .tiếng gió hú. . . .tiếng ễnh ương gọi bạn trong cái hồ sen cạn trước chùa nghe buồn thúi ruột. . . .

Ba người bạn già lấy nước lạnh làm rượu ngồi bệt xuống đất yên lặng để cái hiu hắt hoang tàng thấm từ từ vào người. . .

Ba Gàn hướng dẫn họ nhận ân điển thiêng liêng. Kiết đại thủ ấn.. .Vẽ linh phù vào toàn thân, vào chai nước lạnh vào đĩa mồi. . . .Rồi khấn nguyện mời những người yêu quí của mình đã mất hay ma quỉ và thần linh ở đây về cùng uống ruợu giải sầu. . . .

–  Hềhề. . . chú Ba nè. . . .Chú cho tụi tui uống thứ ruợu kỳ dị này. . . .thì tui cũng mời chú nhậu với đĩa mồi độc đáo của núi rừng này. . . .

Ông Sáu Gù vừa cười ha hả vừa chỉ vào cái đĩa mồi trên chiếu. . . .

–  Ông bảo sao?

–  Chú có nhậu thì cẩn thận, thứ này chỉ mút chứ đừng nhai. . .

–  Tại sao vậy?

–  Bởi vì bên trong nó chẳng phải thịt cá gì mà là đá và sỏi. . . .! Trên núi cao heo hút này có thứ gì đâu. . . .mà mình ăn chay nữa. .  .nên tui lấy sạn và sỏi nhỏ rửa sạch. . . .tẩm bột sơ, rồi chiên phồng lên. . . .Nó ngon ở gia vị bám bên ngoài, chứ bên trong là đá. . .

 

Mô Phật. . . .Thế là bữa nhậu với nước lạnh với đá sỏi của ba người bạn già vẫn ngây ngất say sưa dưới mưa rừng giăng tơ lướt thướt đầy núi đầy rừng. . . .

Thế mà. . . Hôm nay ông Sáu Gù đã chế! t. . . .Ông Tư đã quá già rồi! . . . .còn Ba Gàn tóc đã bắt đầu điểm hoa râm. . .trán hắn đã hằn thêm nhiều nếp nhăn khắc khổ! . . .

Ông Tư không nhậu với hắn hôm nay. . . .Ổng muốn để Ba Gàn ngồi một mình với hương hồn ông Sáu. . . .

Trên chánh điện có tiếng tụng kinh buồn buồn, chắc là ông Tư đang cầu ơn trên độ cho hương hồn ông Sáu Gù về Tây Phương cực lạc và độ cho Ba Gàn chân cứng đá mềm trên con đường ra Bắc vào Nam để làm Phật sự độ sanh. . . .

. . . .

Trời đã chập choạng tối, đom đóm bay lập lòe, mà Ba Gàn vẫn đang còn say sưa với anh linh của người bạn già đã khuất. . . .

Lá ké rụng đầy chiếu. . .rớt vào đĩa mồi làm bằng đá sỏi. . . .Còn mưa bụi vẫn lưa thưa. .  .vẫn đang rơi vào ly ruợu nước lạnh của Ba Gàn rót mời Ông Sáu Gù chùa Suối Ngổ! . . .

–  Ông Sáu nè. . . thôi mình dzô. . .ly này rồi thôi nghen. . .để cụ ra cụ thấy mình nhậu thì cụ quở đấy. . . .Dzô này. . . .DzÔ!. . . . .

. . . . .

Bên trong chánh điện có tiếng Già Năm cười ha hả.

Trên con đường mòn vắt qua mấy cái trảng tranh dẫn đến chùa, đom đóm bay lập lòe như ánh ma trơi. . . .Phật tử và người ái mộ cụ già vẫn đang đội mưa về chùa. . . .Họ vừa đi họ vừa niệm hồng danh A Di Đà trong mưa rừng lưa thưa và mây mù giăng giăng khắp lối. . . .

Ba Gàn lẩm bẩm:

–  Ông Tư chắc đang lên hương đăng, hương hồn ông Sáu chắc đang phụ mấy cô mấy bà làm bếp nấu ăn, còn mình chẳng lẽ ngồi mãi đây sao. . . .

 

Hắn đứng lên, đi trải chiếu, đốt trầm, chuẩn bị cho buổi nói pháp của già Năm . . . . .

 

Bên ngoài gió vẫn hú. . . .mưa vẫn đang ngày càng nặng hạt. . . .còn trong chùa hương trầm ngan ngát . . .

Có tiếng đại hồng chung ngân nga. . . . Mây mù theo gió ngàn lãng đãng chung quanh rồi bay vào chánh điện. . . .khiến đèn nến như sao giăng ở một cõi nào xa lắc xa lơ. . . .

 

Mây/ Viết để tưởng nhớ hương hồn ông Sáu Gù chùa Suối Ngổ /31/7/2007

Nhà phê bình bị câu chữ quyến rũ

Nhà văn Mai Sơn tại buổi ra mắt sách – Ảnh: L.Điền

Nhà văn, dịch giả Mai Sơn vừa cùng bạn bè đồng nghiệp và các văn hữu làm một cuộc chuyện trò có tính chất tọa đàm xoay quanh câu chuyện thưởng thức tác phẩm văn học và công việc của nhà phê bình.

Sự kiện nhằm đánh dấu tập sách của Mai Sơn vừa ra mắt: Sự quyến rũ của chữ, do Trung tâm Tân Thư liên kết ấn hành, vừa ra mắt hôm 27-10.

Mặc dù nhà văn, dịch giả Mai Sơn không tự nhận là nhà phê bình, nhưng có đến hai phần ba nội dung trong quyển Sự quyến rũ của chữ được mọi người đón nhận như những tác phẩm phê bình nghiêm túc.

Khởi sự cho công trình này là lời “xúi giục” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. “Anh Ánh nhận xét rằng tôi viết phê bình có nét riêng, và rằng nên tập hợp các bài viết thành quyển”, Mai Sơn cho biết. Và công việc của tác giả thực ra chỉ là chọn lọc, tập hợp các bài viết từ trước đây, hình thành theo ba tuyến nội dung: tiểu luận – phê bình – điểm sách.

Nhà thơ Trần Tiến Dũng tự nhận mình có “thâm niên” kết giao và đọc tác phẩm của Mai Sơn, đã đặt vấn đề rằng trong mấy chục năm qua, Mai Sơn vẫn giữ được cách viết bình tĩnh điềm đạm như vậy, là do đâu? Và câu trả lời từ Mai Sơn cũng rất trải lòng: “Tôi giữ cách của tôi là viết rất tập trung, dù chỉ viết về một truyện ngắn; và viết nghiêm ngắn, do tôi có nghiên cứu triết. Điều này giúp tôi làm việc trong lý tính, bên cạnh niềm say mê với nghệ thuật”.

Đề cập đến nhan đề tập sách – sự quyến rũ của chữ – cũng là nhan đề bài viết duy nhất về thơ trong cả tập, Mai Sơn thừa nhận nhà phê bình dường như phải để mình bị câu chữ quyến rũ thì mới được. Do đó, “nhà phê bình phải đọc nhiều lắm, vì văn chương của anh lấy cơ sở từ văn chương của người khác”.

Trên cơ sở “tự lượng” đó, Mai Sơn tâm sự rằng khi đọc và viết về truyện ngắn, anh cố gắng phát hiện được một điều gì đó cho mỗi tác phẩm, hoặc một ý tưởng, một cấu tứ, một nét tư tưởng, hay một cách đặc biệt trong sử dụng ngôn từ, “như vậy cũng là quý rồi”.

“Còn tiểu thuyết thì khó hơn, đọc tiểu thuyết như đến một thành phố lạ, ở đó có nhiều con đường nhiều ngõ ngách, nhiều cảnh sống và nhiều câu chuyện… Viết về tiểu thuyết, tôi cố gắng tìm những điều ít ai thấy, những độc đáo trong cái “thành phố lạ” ấy”.

Và thơ là lĩnh vực khiến nhà văn Mai Sơn ngại nhất khi viết phê bình. “Tôi rất thích  thơ, đọc nhiều thơ, thậm chí có thể xem bài phê bình đầu tiên của tôi là viết về tập thơ của nhà thơ Nguyễn Đạt, nhưng tôi vẫn thấy viết về thơ khó quá”.

Chia sẻ với Mai Sơn, nhà văn Vũ Thành Sơn dẫn quan điểm George Steiner cho rằng “đọc là chấp nhận mạo hiểm khôn lường bởi nó làm tổn thương đến căn cước và sự tự chủ của chúng ta. Chúng ta cảm thấy như bị nhấc ra khỏi thân xác; nhìn lại, chúng ta thấy mình và cảm nhận một nỗi sợ đột ngột khiếp đảm; một sự hiện diện khác đang thâm nhập vào con người chúng ta mà không có con đường để tháo lui”.

Và Vũ Thành Sơn ghi nhận thêm, trong tình hình sách xuất bản như hiện nay, việc đọc và viết cùa Mai Sơn là tiếng nói có trách nhiệm và có nghề, sẽ giúp người đọc đỡ mất thì giờ để xác định sách nào nên đọc và sách nào không nên đọc.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (đứng) chia sẻ ý kiến về thưởng thức tác phẩm phê bình tại cuộc tọa đàm – Ảnh: L.Điền

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cũng góp một ý kiến, nhắc lại quan niệm rằng đọc một bài phê bình sách cũng như đọc lại một lần nữa cuốn sách đó với tất cả sự phát hiện thú vị, cảm nhận đặc biệt… mà lần đọc đầu tiên người đọc đã vô tình bỏ qua.

Trong khi đó, GS. TS. Huỳnh Như Phương thẳng thắn nhận định rằng “tôi không nghĩ Mai Sơn viết phê bình như tay trái, vì anh dành tất cả tâm huyết cho công việc đọc và viết về các tác phẩm anh yêu thích. Anh lại gần gũi với giới trẻ, với phong cách hậu hiện đại. Và có lẽ khi anh Mai Sơn viết, anh không quan tâm đến bài viết sẽ đăng ở đâu…”.

Có thể nhận ra sự “toàn tâm toàn ý” của tác giả Mai Sơn trong tập sách vừa ra. Hãy xem cách anh nhận xét về Nguyễn Nhật Ánh: “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là tác phẩm độc đáo của Nguyễn Nhật Ánh. Chỗ độc đáo của nó là sự đan xen liên tục giữa văn bản tiểu thuyết hư cấu và văn bản triết luận”. Không phải ai cũng có khả năng và đủ tự tin để nhìn ra điều đặc biệt ấy trong văn của Nguyễn Nhật Ánh.

Lam Điền

 

“Tôi quan niệm có bốn loại nhà phê bình, tạm gọi tên theo vần “T”: Thù tạc, Tài tử, Thanh toán, và Trí thức. Nếu có thể, tôi chỉ thuộc loại nhà phê bình tài tử mà thôi”. (Nhà văn, dịch giả Mai Sơn)

 

Su_quyen_ru_cua_chu

Sách do Trung tâm Tân Thư liến kết với NXB Văn hóa Văn nghệ xuất bản – Ảnh: L.Điền

Tập sách Sự quyến rũ của chữ bao gồm phần lớn là các bài tiểu luận về văn học Việt Nam và văn học thế giới. Tác giả Mai Sơn dành tình cảm và sự quan tâm cho các tác giả Việt Nam như Hồ Anh Thái, Nguyễn Nhật Ánh, Ý Nhi, Nhật Chiêu, Trần Nhã Thụy, Vũ Thành Sơn, Song Khê, Nguyễn Vĩnh Nguyên… và những danh gia thế giới như Orhan Pamuk, Gabriel Gacía Márquez, Michel Houellebecq, Milan Kundera, Albert Camus… Bên cạnh đó là 4 bài đọc và bàn luận về triết học, các bài Mai Sơn trả lời phỏng vấn và những bài “viết ngắn về truyện ngắn”.

Hoa hồng nào cho Quyền tác giả ở Việt Nam?

GS. TS. Nguyễn Vân Nam – Ảnh: nhân vật cung cấp

Một quyển sách bình luận luật vừa ra mắt bạn đọc Việt Nam: Quyền tác giả – đường hội nhập không trải hoa hồng, tác giả là Giáo sư, Tiến sĩ khoa luật Nguyễn Vân Nam, người vốn quen thuộc với lĩnh vực sở hữu trí tuệ không chỉ ở Việt Nam.

“Với một giáo sư luật, viết công trình bình luận luật là tác phẩm cao cấp nhất của họ rồi đấy”, ông Vân Nam chia sẻ với Tuổi Trẻ trong câu chuyện xoay quanh quyền tác giả và tác phẩm mới của ông.

Quyển sách quan trọng này bắt nguồn từ năm 2006 khi Việt Nam có bộ luật Sở hữu trí tuệ. “Lúc đó, phóng viên đài BBC có phỏng vấn tôi, hỏi rằng thấy Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thế nào, lúc ấy tôi chủ quan nên trả lời rằng Việt Nam bây giờ là thành viên của Công ước Berne, của WTO rồi, thì viết Luật sở hữu trí tuệ cũng phải chuẩn thôi.

Cũng lúc đó, tôi dự định viết một công trình bình luận luật Quyền tác giả Việt Nam, nghĩ là sẽ viết xong trong 3 tháng, nhưng bắt tay vào mới thấy gần như bất cứ 1 điều luật nào của Luật về Quyền tác giả Việt Nam cũng có vấn đề: thiếu sót, không rõ ràng, và sai. Cho nên quyển sách bình luận luật này viết trong 5 năm mà cũng chỉ mới hoàn thành tập 1. Quá nhiều vấn đề sai, nghiêm trọng. Ví dụ, Công ước Berne quy định 1 điều quan trọng nhất: Quyền được công nhận là tác giả, vậy mà luật về Quyền tác giả VN không có điều này”.

TT: Ở nhan đề sách ông đã hướng mọi người đến khái niệm “hội nhập” – cụm từ xuất hiện nhiều tại Việt Nam trong những năm gần đây. Vậy ông có thể mô tả một cách dễ hình dung rằng vấn đề quyền tác giả có vị trí như thế nào trong quá trình hội nhập của Việt Nam, và quyển sách Quyền tác giả – đường hội nhập không trải hoa hồng sẽ có đóng góp gì cho việc khẳng định vị trí ấy?

GS. TS. Nguyễn Vân Nam: Trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế, không phải ngẫu nhiên mà Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có hẳn 1 hiệp định riêng về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), và qui định rằng các thành viên của WTO còn có nghĩa vụ tuân theo Công ước Berne. Bởi vì trong kinh tế thế giới, quyền sở hữu trí tuệ không trừu tượng mà mang lại lợi ích kinh tế và được giao dịch một cách trực tiếp, mang lại quyền và lợi nhuận kinh tế rất lớn, quan trọng, trong giao thương các nước. Cho nên, TRIPS và Berne đã thống nhất các chuẩn mực chung tối thiểu về Luật Quyền sở hữu Công nghiệp và Luật quyền tác giả mà các nước thành viên có nghĩa vụ tuân thủ. Các nước thành viên không được ra các điều luật hạ thấp chuẩn mực bảo vệ quyền tác giả hơn chuẩn của Công ước Berne. Nhìn dưới góc độ này, luật về quyền tác giả của ta không những thấp hơn mà còn sơ hở nhiều, không thể bảo vệ quyền tác giả của người Việt Nam theo chuẩn mực tối thiểu của Công ước Berne. Vì vậy, việc giao dịch và chuyển giao công nghệ ở ta cực kỳ khó khăn, mà lĩnh vực phần mềm chuyên dụng, chương trình máy tính là điển hình. Hậu quả nhãn tiền là ta không mua được công nghệ tiên tiến với giá cả hợp lý. Trong văn học nghệ thuật và thể thao, ta không được thụ hưởng các chương trình biểu diễn lớn của các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới, không được xem các giải đấu quốc tế hấp dẫn, vì người ta rất ít khi đưa các chương trình ấy đến VN, vì sao, vì đây là những sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, họ nghi ngại quyền lợi của mình ở đây không được bảo hộ đứng đắn. Ta bị ảnh hưởng lớn là vì vậy.

Bên cạnh đó, quyền tác giả có ý nghĩa bảo vệ sản phẩm sáng tạo tinh thần có dấu ấn cá nhân của mội người. Bảo vệ không tốt khiến người Việt Nam không có động lực sáng tạo. Không có sáng tạo, xã hội cũng thiếu động lực để phát triển.

Việt Nam mới bước chân vào lĩnh vực này từ lúc mở cửa, và cái mới thì lúc đầu tất nhiên khó có thể  hiểu đúng ngay được. Đây là lý do sinh ra rất nhiều các cãi cọ về quyền tác giả ở Việt Nam. Thực ra, các cuộc cãi cọ ấy chỉ là “tưởng rằng đây là quyền tác giả”. Ví dụ cãi nhau về “đạo ý tưởng”, cãi nhau về đạo tác phẩm và tác phẩm phát sinh, vì người ta không có kiến thức cơ bản để định hướng nghĩ thế nào là đúng.

Ông vừa nói ở Việt Nam có cách hiểu về “đạo” không đúng, cụ thể là như thế nào?

Do những người làm luật ở Việt Nam hiểu không đúng về quyền tác giả. Chẳng hạn ý tưởng thì không được bảo hộ theo quyền tác giả, cho nên những trường hợp cáo buộc đạo ý tưởng ở Việt Nam là không đúng và không cần phải xem xét làm gì. Ý tưởng chỉ được bảo hộ bằng quyền sở hữu công nghiệp và bí mật kinh doanh thôi.

Thêm vào đó, định nghĩa về “tác phẩm” của Việt Nam là sai so với định nghĩa của Công ước Berne, ví dụ trường hợp số 9 tôi nêu trong sách (từ trang 315-317): luật VN sai hẳn so với công ước Berne: Công ước Berne định nghĩa tác phẩm là sản phẩm sáng tạo tinh thần mang dấu ấn cá nhân; trong khi đó Việt Nam định nghĩa tác phẩm chỉ là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”, do vậy, Việt Nam không có cơ sở phân biệt tác phẩm nguồn và tác phẩm phát sinh, là bởi không quy định về “dấu ấn cá nhân” này. Tác phẩm phát sinh là tác phẩm phải mang cả 2 dấu ấn cá nhân, của tác giả tác phẩm nguồn và của tác giả làm tác phẩm phát sinh. Đây là điều cơ bản nhất. Điều này mới mẻ, nhưng cơ bản và rất quan trọng trong quá trình hội nhập với các chuẩn mực quốc tế chung tối thiểu.

Trái với Công ước Berne, Luật của Việt Nam cũng không quy định tác giả có “quyền được công nhận là tác giả”; vì vậy, nếu hiểu theo chuẩn mực quốc tế “đạo là cướp đoạt quyền được công nhận là tác giả”, thì tác giả Việt nam không có quyền được công nhận là tác giả. Vì vậy không thể có hành vi “đạo tác phẩm” tại Việt Nam.

Còn 1 điều nữa: Suy đoán là tác giả, Việt Nam cũng không có quy định này trong khi Berne có quy định và đây là 1 yếu tố quan trọng trong các giao dịch về quyền tác giả. Ta thiếu như vậy, thì làm sao mà phát triển được?

Trong sách có phần nội dung thú vị là các trường hợp thực tế được ông đưa ra và phân tích/ đề xuất cách giải quyết. Qua đó cho thấy luật về quyền tác giả của Việt Nam có những chỗ vênh với các Luật, Công ước về quyền tác giả của các nước hoặc quốc tế; nhiều trường hợp cho thấy luật của Việt Nam còn có chỗ sơ hở?

Có nhiều trường hợp nếu áp dụng luật Việt Nam thì không xử được tranh chấp về quyền tác giả. Có những chỗ luật chúng ta sơ hở, gây hại cho xã hội. Chẳng hạn tôi có nêu trường hợp thực tế số 13 (trang 382), là vụ đạo tranh danh họa Dương Bích Liên. Nếu áp dụng luật Việt Nam, xem xét tác phẩm “đạo” là một tác phẩm phát sinh, trong trường hợp này là làm tác phẩm phát sinh nhưng vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm nguồn, do đó, tác phẩm phát sinh không được bảo hộ. Điều này thoạt nghe tưởng rằng hay, nhưng nếu nhìn dưới góc độ một tác phẩm phát sinh, thì bức tranh “phát sinh” này do không được bảo hộ, nên ai cũng có thể sử dụng mà không cần xin phép tác giả. Hậu quả là sản phẩm vi phạm quyền tác giả lại được tự do phổ biến. Nếu muốn nhìn dưới góc độ đây là một sản phẩm “đạo” đúng theo chuẩn mực quốc tế, thì Luật Việt Nam không thể áp dụng được do không có cơ sở kết luận đó là tác phẩm “đạo”, vì thiếu yếu tố “dấu ấn cá nhân” trên tác phẩm.

Trong khi đó, ở các nước phát triển, nếu xác định là hành vi “đạo” thì tác giả “đạo” phải nộp phạt, có khi phải đi tù, và không có chuyện tác phẩm “đạo” ấy còn được sử dụng.

Như vậy trong thực tế công việc ở Việt Nam, ông phân biệt “đạo” và làm tác phẩm phát sinh như thế nào?

Luật sư Nguyễn Vân Nam (phải) trong một cuộc họp báo về quyền tác giả tại TP.HCM – Ảnh: L.Điền

“Đạo” theo nghĩa chung nhất là lấy của người khác làm của mình, trong quyền tác giả, đạo là chiếm đoạt quyền công nhận là tác giả của người khác.

Vì luật Việt Nam không có quy định “dấu ấn sáng tạo cá nhân” cho tác phẩm, nên lâu nay tôi phân biệt hành vi “đạo” bằng cách: Tác phẩm nào lấy nguyên xi của người khác và đề tên mình thì đó là đạo; còn nếu lấy tác phẩm và có sửa đổi gì đó thì xem đó là tác phẩm phát sinh. Cực chẳng đã mới phải xem xét thô thiển như vậy, chứ theo Công ước Berne thì phải xem xét dấu ấn sáng tạo cá nhân của cả tác giả tác phẩm phát sinh và tác giả tác phẩm nguồn, để kết luận.

Ông từng nói qui định  tác phẩm phát sinh theo kiểu Việt Nam là không không khuyến khích sự sáng tạo?

Nên nhớ đến nguyên lý rằng: Vì sao người ta bảo hộ độc quyền khai thác quyền tác giả? Tại vì bảo vệ độc quyền khai thác tác phẩm là để khuyến khích những người khác cũng sẽ sáng tạo, anh sáng tạo thì anh có lợi.

Công trình bình luận luật về quyền tác giả dày hơn 600 trang viết trong 5 năm do NXB Trẻ ấn hành – Ảnh: L.Điền

Nhưng một mặt, nếu xã hội không có lợi gì thì bảo vệ độc quyền cũng không có ý nghĩa, cho nên phải bảo vệ độc quyền, nhưng độc quyền này cũng không được ảnh hưởng đến lợi ích cơ bản của xã hội. Một trong những lợi ích cơ bản đó là được sử dụng tự do tác phẩm để làm nguồn cho những sáng tạo khác.

Vì  thế ở hầu hết các nước thành viên Công ước Berne, việc sử dụng tác phẩm làm tác phẩm nguồn để làm tác phẩm phát sinh là tự do.  Chỉ khi nào tác phẩm phát sinh được đưa ra công bố, giao dịch, thì mới nảy sinh lợi ích kinh tế, và lợi ích này phải được chia sẻ cho tác giả tác phẩm nguồn. Cho nên chỉ khi nào muốn đưa tác phẩm phát sinh ra công bố,  giao dịch mới phải xin phép tác giả tác phẩm nguồn (Việt nam gọi là tác phẩm gốc)

Chính việc Luật Quyền tác giả Việt Nam buộc người muốn làm tác phẩm phát sinh trước khi làm phải xin phép tác giả tác phẩm ngốc là hạn chế số người muốn làm tác phẩm phát sinh, hạn chế khả năng sử dụng tác phẩm bằng những hình thức mới khác. Cũng có nghĩa là hạn chế  sáng tạo trên cơ sở tác phẩm gốc, đồng thời  gây thiệt hại cho tác giả do việc khai thác tác phẩm nguồn bị hạn chế. Không nước nào dại dột như vậy cả.

Với bạn đọc là công chúng quan tâm nhưng không chuyên đối với lĩnh vực quyền tác giả, ông có lưu ý hay hướng dẫn gì khi đọc sách này?

Quyển  này viết theo chuẩn mực về hình thức của 1 quyển bình luận luật học của Đức, để người đọc có thể tra cứu nhanh nhất vấn đề mà mình cần. Ví dụ, muốn biết định nghĩa tác phẩm, chỉ cần tìm chỉ mục, lật đến số đoạn.

Bạn đọc không cần chuẩn bị gì cả, có thể đọc các trường hợp thực tế trước, rồi quan tâm đến vấn đề pháp lý nào có liên quan, thì tìm đọc tại các trang trước, là ra vấn đề cần tìm ngay.

Lam Điền thực hiện

Box:

Về những thắc mắc với ý kiến đòi thu tiền nghe nhạc trên TV trong các khách sạn?

Luật về quyền tác giả, cả của VN lẫn của các nước khác, không cho phép tác giả có độc quyền trực tiếp cho phép ai đó thưởng thức tác phẩm. Nhưng để đảm bảm bất cứ ai thưởng thức tác phẩm đều phải trả công cho tác giả,  Luật cho phép tác giả có các độc quyền: cho phép phổ biến, nhân bản, trình diễn – biểu diễn, truyền phát sóng,v…v.  Tác giả chỉ cần nắm độc quyền các quyền này, thì đều kiểm soát và quyết định được lợi ích kinh tế cho mình đối với những ai muốn sử dụng các quyền đó để khai thác lợi ích kinh tế từ tác phẩm.

Như thế, với các ca khúc, ai là người cần quyền phổ biến và quyền phát sóng tác phẩm đến với công chúng , người xem TV có cần không? Người xem TV không cần mua quyền phát sóng, mà chỉ có nhu cầu thụ hưởng tác phẩm, họ không cần phải mua quyền phổ biến và quyền phát sóng tác phẩm. Ai là người cần quyền ấy? Chắc chắn là nhà đài. Nhà đài mua các quyền ấy từ tác giả là được rồi. Trong giá mua các quyền đó, nhà đài đã phải tính toán đến việc bù lại giá mua từ việc thu tiền của người sử dụng chương trình phát hình của mình. Người sử dụng chương trình truyền hình ở đây là các khách sạn. Và họ cũng phải trả tiền, trực tiếp hoặc gián tiếp qua công ty Truyền hình vệ tinh chẳng hạn, cho việc sử dụng này. Trong giá mua gói sử dụng chương trình TV, các khách sạn đã phải tính các khoản thu từ khách lưu trú của mình vào rồi. Tác giả chẳng đòi được gì nữa, vì sao? Luật cho phép tác giả độc quyền cho phép phổ biến tác phẩm và quyền phát sóng, ông đã sử dụng các quyền này chưa? Rồi. Ông thu được tiền chưa? Rồi, từ các nhà đài. Chấm hết, ông đòi gì nữa? Ông có quyền gì nữa? Những người dẫn ra điều 20 về quyền truyền sóng là không hiểu luật, vì người xem TV thì cần gì phải mua quyền truyền phát sóng tác phẩm?

Cần nhớ rằng có 2 loại người sử dụng tác phẩm, một loại người sử dụng quyền tài sản để khai thác tác phẩm là các công ty, tổ chức, và những người hưởng thụ tác phẩm/ thưởng thức tác phẩm, những người đó trả tiền gián tiếp cho tác giả bằng nhiều hình thức.

 

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.