Sài Gòn ồ bỗng dưng ngon

Sách do NXB Văn hóa văn nghệ ấn hành – Ảnh: L.Điền

[Hồi năm ngoái, đại ka gọi mình kêu mày viết mấy chữ về cái vụ ăn rong cho tao với, death line là lúc này nè, mình dạ dạ xong rồi sém quên, may mà đại ka lại nhắc, rốt cuộc cũng vận công viết mà cứ nghĩ trong đầu là đại ka định làm gì với mấy cái này ta, hay là tái bản sách và in vào tai gấp. hehe
Xong cách đây mấy hôm thấy đại ka khoe sách mới xuất bản, như lệ thường mình nhảy vào đòi tặng 1 quyển có chữ ký. Đại ka nói có người bảo sẽ chuyển sách cho mình, bèn giận lẩy nói phàm là em chỉ xin sách của anh, nay anh lại gán cho người khác thành ra em phải xin người khác hay sao. Đại ka bèn bảo, thì mày chạy tới đây lấy đi. Kẹt cái lúc đó đang không chạy tới chỗ đại ka được.
Rồi bất ngờ hôm nay cái chỗ kia lại mang sách đến cho mình, thoạt nhận nhắn ngay cho đại ka rằng để hôm nào em đem ra đổi quyển có chữ ký chứ khi không nhận sách người ta thế này kỳ quá. Đại ka cũng OK.
Đến chiều muộn giở sách ra đọc mới bất ngờ thấy quyển sách mang tên “Sài Gòn, ồ bỗng dưng ngon” nghe cứ như tên bản nhạc “Ô kìa đời bỗng dưng vui” của Hoàng Thi Thơ. Nhưng quyền bí hơn nữa là lật ra thấy cái lời giới thiệu chính là mấy dòng mình viết hồi năm ngoái. há há
Bèn lục lại máy tính post lên đây cho bằng hữu giang hồ đọc chơi. Biết đâu trong số đó lại có người tìm mua sách của đại ka mà ích lợi cho cả NXB nơi em Dinh Phuong Thao đang tọa trấn. hehe]

LỜI GIỚI THIỆU

Phàm con người ta, trong khi ăn thường lộ ra nhiều thứ. Với Trần Công Khanh, cái ăn của anh rốt cuộc làm phát lộ ra anh là người ham… những chuyện xung quanh chuyện ăn. Nhờ vậy mà những chuyến dung dăng đi vào cuộc rong chơi ẩm thực của anh cũng tựa như hành trình khám phá đề tài cho trang báo. Nói tựa như, vì trong cái chuyện ăn để viết – viết để ăn ấy, bảo dễ thì cũng dễ xuôi lọt, còn bảo khó chắc cũng khó đến nghẹn ngào.
Đọc chuyện anh ăn, thấy chính niềm yêu thích những thứ “bàng môn tả đạo” nằm bên ngoài mực thước tư duy ăn uống theo các “nhà ẩm thực” đã mang lại trong anh “cảm giác ngon” kỳ đặc hơn người. Cũng từ một chuyện nước mắm, nhưng cái khác nhau giữa Phú Quốc, Phan Thiết, Bình Định… đâu chỉ là kết quả của cái lưỡi nếm trải. Mà đâu đó trong hành trình chưng cất từ cá đến mắm, có quan niệm gió mùa thời tiết, có cảm nhận nắng mưa gắt nhạt, có nghệ thuật dùng liều lượng và chất lượng muối biển thế nào… đều không ai giống ai. Những “cái khác” ấy không phải cái lưỡi sành ăn nào cũng chạm tới được.
Trong hành trình ăn rong, cái lưỡi của Công Khanh nhiều khi đến sau bước chân phóng sự và đôi tay ghi nhanh, nên cái ngon trong ẩm thực của anh gom gói nhiều chất vị lắm. Đó là chưa kể, cái sự ăn rong của anh thường khởi phát từ những ưu tư về thời quá vãng, nên miếng ngon của ngày hôm nay còn dắt díu cả những mối dây liên hệ từ thuở nảo nào trong tàng thư hay qua lời nhân chứng kể – mà lắm khi đấy chính là lý giải thuyết phục cho việc sinh ra, trường tồn lẫn biến thiên của các món ăn trong từng cộng đồng cư dân.
Ấy gọi là trong khi đọc chuyện anh ăn, người ta còn ăn chuyện anh đọc nữa vậy.

Lam Điền

Nhớ quyển vè Chèo bẻo đánh quạ

Hồi nhỏ, mình có mua ở Hiệu sách nhân dân huyện một quyển Vè chèo bẻo đánh quạ. Quyển vè gồm mấy trăm câu thơ lục bát, đọc thích mê.
Hôm rồi nhân dịp 60 năm nxb Kim Đồng, nói chuyện với anh Cao Xuân Sơn về các sách Kim Đồng mình đọc thời thơ bé mà quên nhắc quyển này, đến hôm qua nhớ lại, không biết có phải là của nhà Kim Đồng in hồi xưa không nữa. Để hôm nào tìm lại xem, nhưng chắc đúng là nhà Kim Đồng thôi, vì thời thơ ấu của mình dường như chỉ có sách Kim Đồng về với thiếu nhi ở cái xã nghèo khô xác ấy.
Hồi đó đọc câu chuyện chèo bẻo đánh quạ bằng thơ, thích lắm, đặc biệt thích cái cảnh vợ chồng chèo bẻo vì bị quạ khoang chén thịt mất đàn con, mà quyết tâm đi tìm đồng minh, đặng đoàn kết đánh quạ trả thù.
Vì thích nên đọc đi đọc lại, mà cũng vì lúc ấy đâu có mấy sách vở, lâu lâu mua được một quyển thì mấy chị em xúm lại đọc cho kỳ nhão cả sách ra mới thôi. Kết quả là mình thuộc lòng cả bài vè dài ngoằng ấy.
Lớn lên, mỗi lần nhớ lại, thì lại thêm một lần nhận ra cái hay từ bài vè. Như cái việc miêu tả đặc tính của hàng loạt loài chim – mà tác giả bài vè gom vào thành 2 phe: một bên là sợ quạ, không muốn dây vào đánh nhau với quạ; và một bên là không sợ quạ, có thù riêng với quạ.
Bài vè còn hay ở chỗ có mở đầu, có cao trào, có thắt nút mở gút rất logic. Hai vợ chồng chèo bẻo mải đi kiếm mồi khi quay về tổ phát hiện đàn con bị lão quạ khoang chén mất, nên ngậm thù đi tìm cách đánh trả. Thế rồi liên tiếp nhiều ngày tháng chèo bẻo gặp toàn các loài chim sợ quạ, chẳng ai chịu hiệp đồng với chèo bẻo đánh quạ cả. Trong bài vè, cái đoạn này hay nhất, vì tác giả tả chim mà sinh động như thế giới con người. Có loài chim lo làm giàu nên sợ đánh nhau, có loài chim nhút nhát quá không dám đụng đến loài mạnh hơn, lại có cả loài chim tài tử thoát trần không muốn dây vào chuyện thế gian…
Mấy chục năm rồi, bài vè ấy nay mình không còn nhớ trọn vẹn, nhưng nhờ dòng chữ in cuối sách “theo lời kể của cụ Đoàn Văn Tưởng, thôn Đông Sấu, xã Liễu Đôi, huyện Kim Thanh, Hà Nam Ninh” mà khi lớn lên, lúc quyển vè kia tan tác từ lâu, mình bắt gặp quyển sách Văn hóa truyền thống Liễu Đôi, và thấy trong ấy có in bài vè chèo bẻo đánh quạ này.
Thế rồi hôm nay đi đường, tự dưng nhớ lại đoạn vợ chồng chèo bẻo tìm gặp hai nhân vật cuối cùng của “phe sợ quạ”, thật hay:

Ngậm ngùi bẻo cất cánh ra
tối trời gió rét sương sa lạnh lùng
nhà ai đốt lửa bập bùng
vợ chồng nhà vạc bên thung một mình
bẻo vào nói hết ngọn ngành
những mong được vạc đồng tình cho chăng
nghe xong vạc mới lại gần
cất giọng ân cần: “Bác hóa điên chăng?
quạ nó sức vóc ai bằng
đụng vào cửa nó hàm răng chẳng còn
ai mà chả sợ hết hồn
đến tôi đây phải ngủ cồn kiếm đêm.
thôi thôi, khuyên bác chớ nên
một mạng đã đền mấy mạng nữa thôi
nó là thiên tử con trời
đâu đâu cũng cống hết vơi lại đầy
cánh nó chạm chín tầng mây
nó kêu một tiếng đó đây rợn người
nó tàn ác nhất trần đời
binh thư võ nghệ nó thời lại cao”.

Đoạn này, mình nhớ hồi đó cả bố mình đọc xong cũng thích. Hồi đó mình còn nhỏ, không hiểu lắm ông thích vì cái gì, nhưng vẫn nhớ bố đọc đến câu “chính tôi đây phải ngủ cồn kiếm đêm”, ông dừng lại cười ha ha, bảo hay quá, phải ngủ cồn kiếm đêm, há há.
tiếp:

Mấy ngày tìm bạn lao đao
bỗng thấy ai thật lớn cao giữa đồng
mặt mày trông thật oai phong
cái cổ ngất nghễu to bằng cổ tay
đôi cánh vừa rộng vừa dày
chèo bẻo xuống đậu ở ngay cạnh bờ
– “kìa ai đứng đó hững hờ
ta đang bầu rượu túi thơ hữu tình
gẫm trong ba vạn sinh linh
một mình ta tỉnh một mình ta say
trời cho đôi cánh thì bay
nay góc trời này mai góc trời kia
hết đầm thì lại ra đìa
hết đồng ta lại lui về rừng xanh…”
thênh thang trời rộng đất lành
thế gian mới gọi tên anh: lềnh đềnh
to như cái thúng, bụng nổi lềnh phềnh
đố ai bằng kiếp lênh đênh lão này
chèo bảo mới tới giãi bày
đềnh rằng: “Bể khổ khi đầy khi vơi
đứa thì ăn uống nói cười
đứa thì nước mắt xương rơi thịt tàn
thôi thôi chẳng luận chẳng bàn
trải qua trăm sự thế gian chán rồi
ta nay rong ruổi chơi bời
mặc cho ai khóc ai cười mặc ai
kìa trông bể rộng sông dài
túi thơ đã nặng đôi vai rượu đầy…”
chèo bẻo chắp cánh đi ngay,

Đoạn này cũng là đoạn mà bố mình rất thích. Còn nhớ hồi đó em Lam Anh nhỏ xíu, nhưng lại rất có khiếu thơ, đọc đoạn này đến chỗ “to như cái thúng, bụng nổi lềnh phềnh” em bảo câu này sao kỳ quá, không giống mấy câu kia, và đề nghị đọc lại là, “to như thúng, bụng nổi phềnh”, ý này được cả chị Kiều ủng hộ, rồi khi bố mình nghe vậy, lại càng ủng hộ kèm theo nhận xét: con Lam Anh vậy mà hay. Xong mình lấy cây bút bi sửa luôn dòng chữ in thành “to như thúng, bụng nổi phềnh”. hehe
Còn đoạn vè sau tìm gặp đồng minh đánh nhau với quạ khoang một trận kịch liệt giành thắng lợi hoàn toàn cũng rất chí lý. Nhưng giờ nhẩm lại mình không còn nhớ câu nào. Lại rất khoái cái loại lãng tử của còn chim lềnh đềnh kia, mà rốt cuộc vẫn không biết lềnh đềnh là loài chim nào luôn. ahihi

[Tây Cống 10-7-2017]
Lam Điền

Hư Vân ngữ trích – 020

從前在罽賓国近著僧伽藍的地,有條毒龍時常出來為害地方。五百位阿羅漢聚在一起,用襌定力去驅遂他,總没法把他趕跑。後來另有一為僧人,也不入襌定,僅對那毒龍說了一句話:“賢善遠此處去。” 那毒龍便逺跑了。
眾羅漢問那僧人,什麽神通把毒龍趕跑?他說:“我不以襌定力,直以謹慎於戒,守護輕戒,猶如重禁。”
我們想想,五百位羅漢的襌定力,也不及一位嚴守禁戒僧人。

Hồi xưa ở nước Kế Tân, gần ngôi chùa Phật nổi tiếng, có con rồng độc vẫn thường xuất hiện làm hại người dân địa phương. Năm trăm vị la hán cùng hợp lại, dùng sức thiền định để đuổi nó, rốt cuộc không có cách nào đuổi nó được. Sau đó có một vị tăng, không nhập thiền định, chỉ đối trước con rồng độc kia nói một câu: “Này hiền thiện, đi xa khỏi chốn này đi”. Con rồng độc ấy liền bỏ chạy mất.
Các vị la hán mới hỏi vị tăng, thần thông nào giúp đuổi con rồng độc ấy vậy? Vị tăng đáp: “Tôi không dùng sức thiền định, chỉ cẩn thận đối với giới luật, giữ gìn các giới nhỏ nhặt cũng như các điều trọng cấm”.
Chúng ta nghĩ xem, sức thiền định của năm trăm vị la hán cũng không bằng một vị tăng giữ nghiêm giới cấm.
(Hư Vân ngữ trích)

Tiếp trận mưa lờ (2)

 

Hôm nọ vì bất ngờ thấy các cụ mô phạm một thời như Quách Tấn, Tôn Thất Lương, Tôn Thất Mỹ rất hào hứng làm thơ vịnh lờ, mình ghi cái note Một trận mưa lờ, ý là để ghi nhận nguồn chất liệu dân gian mà các cụ đã sử dụng để mần thơ.
Ngay khi đó, nhà văn Trần Quốc Toàn đã vào comment hẹn hôm sau ra đường sách sẽ rỉ tai mình chỉ thêm vài câu nữa. Nghe đã thấy hấp dẫn.
Đến hôm sau tại Đường sách, quả nhiên bác Trần Quốc Toàn có bổ sung mấy câu, thuộc loại lợi hại:

1/ Có một quan điểm khi đọc câu thơ của Hàn Mặc Tử “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì cho rằng đây là ý nói đến một nét mặt con trai, chứ cho rằng mặt chữ điền trong thơ là của con gái như lâu nay vẫn thấy, là nhầm. Thế rồi bác Toàn dẫn một câu của dân gian, có tác dụng kéo gương mặt chữ điền trong thơ Hàn Mặc Tử về với con gái, đó là câu: Mặt chữ điền l. liền với đít. hic

2/ Bác toàn còn 1 câu thuộc chuyên ngành đông y: Thuốc nam thuốc bắc bú c. cho cơm. Mình không rõ cơm đây là cơm nào, cơm gạo nghĩa đen hay cơm trong câu “sáng đưa cơm đi ăn phở trưa đưa phở đi ăn cơm chiều về với cơm mà nhớ phở” nữa. hehe

3/ Lại có 1 câu, cũng bác Toàn cung cấp, gần giống với câu trách “nóc nhà xa hơn chợ/ l. vợ gần hơn mộ cha”, là câu “bên l. thì chắc, bên c. thì lép”, dùng cái đó để nói về hai bên nội ngoại khi người con trai có gia đình riêng, cũng là 1 ca đặc biệt vậy.

4/ Thế rồi đến cuối buổi ở Đường sách, bác Toàn còn nhớ một bản dịch Nôm cái bài thơ Hán “trường túc bất tri lao”: theo bác Toàn thì người dịch là Nguyễn Bính, nhưng bác không nhớ hết, chỉ nhớ hai cặp lục bát: “Những người cẳng sếu chân giang/ nứng l. thì gọi cả làng tới chơi”, và “những người mặt đỏ hồng hồng/ nước l. tát mấy gàu sòng chưa vơi”. Cái này hay, nhưng lúc ấy mình không nhớ cái bài chữ Hán nguyên văn kia, nên không biết bản dịch Nôm lục bát ấy nó ăn nhập thế nào. Đành gác lại.
Đến nay thì đã có chuyện hay, mình tìm được nguyên văn bài chữ Hán, được xem như một kinh nghiệm xem tướng phụ nữ, truyền tụng từ thời xưa, và sau khi lục lọi trên mạng thì mình ngờ là bản gốc này do mấy cụ đồ nhà ta chế ra chứ không phải chính văn từ Trung Quốc. Bài ấy như sau:

Hồng diện đa dâm thủy
Mi trường hộ tố mao
Triết yêu chân đại huyệt
Trường túc bất tri lao
紅面多淫水
眉長戶多毛
折腰真大穴
長足不知勞.

Thế và quan trọng hơn là có một người Việt ở hải ngoại đã khảo dị bài này, và cho rằng hồi 1947 từng có một người tên Đoàn Bá Ninh đã dịch trong lúc ở tại trại giam Thái Nguyên, thành mấy câu lục bát như sau:

Những cô má đỏ hồng hồng,
Nước L…tát bẩy gầu sòng chưa vơi!
Những cô mày rậm mi dài,
Lông L…đốt được một vài thúng tro!
Những cô thắt đáy tò vò,
Cửa L…rộng phải gọi đò sang ngang!
Những cô cẳng sếu chân giang,
Nứng L…thách phét cả làng không thua.

Có điều, chính việc tìm kiếm này đã làm phát lộ 1 thông tin, là hiện có 1 quyển sách, nhan đề là: Thơ tục cổ kim, do một nhóm văn thi nhạc hải ngọai sưu tầm (Quê hương xuất bản 1992). Liệu các lộ giang hồ nào có hoan hỷ tìm giúp quyển này không, thật là hoan hỷ!

5/ Nhưng hôm ở đường sách ấy còn một pha cực kỳ lợi hại. Là trên đường quay ra, đi ngang cà phê Phương Nam gặp một tiên sinh đức cao vọng trọng, đang ngồi với thầy Nhật Chiêu. Mình thấy hai người bèn chắp tay lại chào, tiên sinh kia đã ghé tai mình nói nhỏ: “Đàn ông học trống học kèn/ Đàn bà học đ. cho quen cái l.“. Ôi chao ôi, cái sự học hành giáo dục đào tạo nước nhà rốt lại nếu làm theo công thức của dân gian như vầy thì có phải đơn giản biết nhường nào hay chăng.
há há

Một trận mưa lờ

Đây là trái bần, bác Đoàn Thạch Biền từng thích câu: Bần de đom đóm lập lòe/ Thấy em còn nhỏ anh ve để dành. hehe

1/ Không cần đọc thiên kinh vạn quyển gì, hẳn ai cũng từng nghe câu này: nghèo còn mắc cái eo/ đã nghèo còn mắc eo vân vân. Mình cũng vậy, từng nghe người lớn nói câu này lúc mình còn nhỏ, và từng nghe người nhỏ cỡ mình nói câu này lúc mình lớn lên. Trong thâm tâm, mình xếp câu này vào chỗ các ý nói về mấy cái xui rủi thường đi chung dồn dập nhau mà tới, kiểu phúc bất trùng lai họa vô đơn chí, vậy thôi.
Cho nên mình không hề để ý rằng cái cụm “đã nghèo còn mắc cái eo” là câu lục trong một cặp lục bát. Lại là cặp lục bát của dân gian, tức là ca dao hoặc có thể cho là tục ngữ cũng đặng.
Duyên sự của việc bắt gặp này là do khi không mình rơi vào một trận mưa lờ, thiệt là không thể tưởng tượng.
Trận mưa ấy, trong sách, sách chép chuyện của các cụ, người chép là cụ Quách Tấn, mình lâu nay tín nhiệm cụ Quách bởi tính mô phạm chi li cặn kẽ trong pháp tắc thơ Đường, lại cẩn trọng trong viết lách giao thiệp với bằng hữu văn giới hồi đó, đại để uy tín của cụ thì thôi khỏi bàn, vì chắc chắn là cụ thuộc thế hệ những người thừa hưởng nền nếp Nho phong và lấy giềng mối Nho gia làm đạo xuất xử.
Thế nên mình mới thực sự mắt chữ a mồm chữ o khi đọc phải một trận mưa lờ mà cụ Quách Tấn chép. Mưa từ ngoài Huế vô tới Nha Trang, lên tận Đà lạt.
Mà toàn là mưa hay.
Mình cũng chưa từng thống kê, nhưng không ngờ trong lời ăn tiếng nói dân gian, sự hiện diện của lờ nó hay ho đến vậy. Cái mà mình gọi là “mưa” ở đây, chỉ là phía những câu chữ của dân gian, còn trong sách cụ Quách chép, là từ chỗ dân gian các cụ đã sáng tác thành thơ luật rất chi là hoành tráng.
Và cũng bởi mình vốn trọng thị dân gian, nên bèn chép trận mưa ấy lại ở đây. Ai có tiện đường thấy mưa thì che chắn đi, đừng có sa chân vào rồi lại lên tiếng trách mình sao bỗng dưng đem mấy thứ gió mưa không đoan chánh này về chỗ này. Nói lại mình vốn trọng thị dân gian, vậy thôi hà.

2/ Mưa đây:

– Mặt đỏ như lửa/ thấy l. chửa cũng sợ;
– Chết thì chôn, chớ có ai bỏ vô l. mà sợ;
– Con gái mười bảy mười ba/ đêm nằm với mẹ chuột tha mất l.
– Ăn dưa môn ngứa l. chạy sải/ ăn dưa cải ngứa d. chạy theo;
– Sớm mai xách mủng lên đồn/ Anh cho chén gạo giơ l. anh coi;
– Đầu trở xuống cuốn trở lên;
– Chơ hơ như l. phơi giữa chợ;
– Đút đớt như l. trợt giữa sân;
– Quay quắt như mèo nứng l.
– Đi nhai đứng ngậm ngồi cười/ tháng ba ăn đất tháng mười ăn tro (câu đố);
– Cô kia hóng mát bên cồn/ gió thổi vào l róc rách rò re;
– Ở với mẹ cha thì l. lá vông/ khi có chồng thì l. lá chóc/ làm ăn mệt nhọc thì l. lá tre/ ba chú không nghe kiện đâu thì kiện.
– L. là như trã canh môn;
– Bôn chôn như thấy l. lạ;
– Nóc nhà xa hơn chợ/ l. vợ gần hơn mộ cha;
– Trai hay dù khéo dù khôn/ đến cửa nhà l. phải quỳ gối thượng tay;
– Tưởng rằng quân tử nhất ngôn/ hay đâu quân tử rờ l. hai tay;
– Vân Tiên ngồi núp bụi môn/ chờ cho trăng lặn rờ l. Nguyệt Nga;
– Đời xưa cho chí đời nay/ đố ai cho khỏi mó tay vào l.;
– Làm khéo làm khôn/ lấy chỉ may l./ ai ngờ bí đái;
– Cái l. tám sải/ có dải tòn ten/ có khoen chính giữa;
– Giả đui dòm l.;
– và đây: Đã nghèo còn gặp cái eo/ đi cưới con vợ bị teo cái l.; há há

3/ Trong số các bài thơ luật cụ Quách Tấn chép xung quanh cái lờ, có một bài trong sách cụ in sai nhiều quá. Nói sai là sai so với bản mình từng được đọc hồi nhỏ ở quê, in trong Bách Khoa Văn Học. Bản mình đọc không nhớ do ai chép, nhưng câu chuyện có ngọn ngành rõ ràng, bối cảnh cũng là anh học trò nghèo vô nhà ông quan xin tiền, gặp bà quan đang có mặt, bà bực mình nạt: xin xỏ gì, xin xin cái lờ! Nghe vậy anh học trò nhanh miệng bảo: bà đã cho đề rồi, xin ông cho vần con làm luôn; ông quan thấy vợ tự nhiên văng lờ vậy lúng túng quá kêu lên: không…, ý chừng nói anh học trò là không có thơ thẩn gì cả. Thế nhưng anh này vin ngay vào chữ “không” cho đó là vần, và đọc ngay bài thơ thế này:
Trời đất sinh ra nối tổ tông
Mỗi người một cái chẳng ai không
Ngoài bao da trắng ba phân bạch
Trong điểm khuyên son một chấm hồng
Ngày sáu khắc vây màn Đổng tử
Đêm năm canh dựng ngọc Đồ công
Tôi đây hàn sĩ vào xin xỏ
Cái ấy của bà, để kính ông.
>>> Cũng là một cơn mưa hay. hehe

4/ Chép tới đây thì nhớ đến một bài hát nói của quan đốc học Trần Lê Kỷ. Bài này hồi nhỏ anh Thành đọc cho mình nghe, bảo là do bố mình mang từ quê vô, đến chừng đám tang bà nội, mình về quê gặp mấy chú bác trong họ, thức đêm nói chuyện dông dài thế nào mà nhắc bài này. Mọi người hỏi mình biết không, mình nói con thuộc chớ, và đọc. Nay cái status này viết tới đây mà không chép bài này ra luôn thì e không được hết ý:

Từ lên một đến mười lăm còn trẻ nít
Sáu mươi năm cút kít đã về già
Tính trong vòng cắn đá mấy trăng hoa
Phỏng độ ba mươi năm là dứt kiệt
Thế mà còn: đi học đi hiệt, đi thi đi thiết, khi đỗ khi điệt, làm quan làm kiết,
Mảnh tình chung nấn ná biết bao ngơi
Trời đã sinh ra kiếp làm người
Không chơi thì người cười ta chú vích
Được ngày nào ta chơi cho thỏa thích
Cho phong lưu thanh lịch mới là trai
Thấy ai ai ta cũng ai ai
Ai ai ấy thì ta cũng ấy
Chớ có quở chữ dâm là chữ bậy
Nếu không dâm sao có nảy ra hiền?
Bảo em, em cố giữ giềng.
(T.L.K)

鲁人徙越

鲁人身善織屦,妻善織缟,而欲徙於越。或谓之曰:“子必窮矣”鲁人曰:“何也?”曰:“屦為屦之也,而越人跣行;缟為冠之也,而越人被髪。以子之所長,遊於不用之国,欲使無窮,其可得乎?”鲁人不應,攜妻之越。居三月,俏愴而返。
(韩非子)

Người Lỗ sang Việt
Có người nước Lỗ giỏi nghề bện giày, vợ y giỏi nghề dệt tơ may mũ, đang muốn dời sang nước Việt. Có người bảo rằng: “Anh chắc sẽ nghèo đấy”. Người Lỗ hỏi: “Sao vậy?” Trả lời: “Giày là để mang, mà người nước Việt toàn đi chân đất, mũ để đội, nhưng người Việt quen khoe tóc dài. Đem cái nghề sở trường của anh đến một nơi không dùng được, dẫu có muốn không nghèo liệu có được sao?”
Người Lỗ không trả lời, dẫn vợ dời sang Việt, ở được ba tháng, uất ức quay về.
(Hàn Phi Tử)

Miếng ngon khó nuốt

Trang 226 trong bản in của Nam Chi Tùng Thư, có đoạn văn cuối của bài báo phụ lục. Ảnh: L.Điền

Cái vụ nhà sách Minh Thắng ở Đường Láng in quyển Miếng ngon Hà Nội lần này gây ồn ào quá thể. Ồn ào chỉ bởi một câu trong sách. Mà đây là quyển sách tái bản từ 1 bản đã in trước 1975. Nay thấy nhiều người nói như đúng rồi trong khi chứng cứ văn bản thì chỉ có mấy mảnh share đi share lại. Trong tình hình văn bản như vậy, chắc nhiều người nghĩ cái câu phạm húy/phản động kia – lý do khiến sách bị thu hồi – là của Vũ Bằng. Nhưng không phải, câu ấy không phải của Vũ Bằng, mà là của tác giả bài báo được in trong phần phụ lục của quyển Miếng ngon Hà Nội, do Nam Chi Tùng Thư in tại Sài Gòn năm 1960. Có mấy ý cần minh định:

1/ Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng in lần đầu tại Sài Gòn là bản của nhà Đất Nước, xuất bản năm 1957, chắc chắn trước ngày 28-10-1957. Là vì ngày 28-10-1957 báo Nắng Sớm tại Sài Gòn đăng một bài dài ngoằng giới thiệu quyển này. Ba năm sau, vào ngày 26-8-1960 giấy phép tái bản quyển Miếng ngon Hà Nội được cấp cho nhà Nam Chi Tùng Thư. Lần này, sách có in phần phụ lục gồm hai bài báo: Một bài trên báo Nắng Sớm như vừa nói, một bài trên báo Tự Do số ra ngày 23-12-1957. Cả hai bài báo in trong phụ lục đều không in nhan đề. Bài trên báo Tự Do có in tên tác giả là Hy Hoàng, nhưng bài trên báo Nắng Sớm lại không in tên tác giả.

2/ Quyển sách của nhà Minh Thắng bị thu hồi do in câu “Tôi ao ước một ngày kia miền bắc được giải thoát khỏi nanh vuốt Cộng Sản…”. Nhiều báo viết về vụ này đã không trích câu này, một số facebookers cũng viết không rõ, chỉ nói sách của Vũ Bằng có in câu phản động trong khi câu đó đã được NXB Dân Trí biên tập vân vân. Nay phải nói cho rõ là: câu ấy là trong bài báo của báo Nắng Sớm. Cụ thể, câu ấy nằm trong đoạn cuối cùng của bài báo. Chữ “tôi” xưng ở đầu câu là tác giả bài báo chứ không phải tôi là Vũ Bằng (như hình chụp). Và như đã nói ở trên, tên tác giả bài báo không được in trong Phụ lục, nên đến nay chưa biết đó là ai, bằng hữu nào có bài báo gốc in ở Nắng Sớm Số 27 ra ngày 28-10-1957 xem giùm tác giả là ai cho biết luôn thì hay quá.

Bìa quyển Miếng Ngon Hà Nội do Nam Chi Tùng Thư in năm 1960 – Ảnh: L.Điền

3/ Như vậy đủ thấy nhà Minh Thắng in Miếng ngon Hà Nội là in theo bản ra đời năm 1960. Những ai bảo bản in lần đầu năm 1960 thì nên xem lại: Nam Chi Tùng Thư chẳng những tái bản, mà còn in kèm cả 2 bài báo ra đời từ 3 năm trước kia mà.

4/ Không cần có bản Miếng ngon Hà Nội để xem cụ thể, từ năm 2000 mình đã nghĩ Vũ Bằng không thế viết một câu có cụm từ như thế. Đơn giản bởi Vũ Bằng là tình báo của miền Bắc được cử vào Nam. Ông là tình báo có bí số X10 hẳn hoi. Người làm rõ chuyện này là nhà phê Bình Văn Giá, trong quyển Vũ Bằng bên trời thương nhớ (NXB Văn hóa thông tin, in năm 2000). Lần đó sách ra mình đã nói chuyện này trên báo nhân phỏng vấn ông Văn Giá. Đến nay tư liệu này được dẫn dụng lại nhiều, có thể tìm trên mạng dễ dàng (*).

5/ Qua vụ này, thấy cái pháp tái bản sách theo đúng bản in lần đầu cũng có cái hay, ít ra cũng tránh được những thị phi xung quanh sách khi vừa ra và được các lần tái bản sau gom vào phụ lục. Hehe

(*)http://www.vietnamplus.vn/cac-nha-bao-dau-the-ky-…/96881.vnp

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.