Xử lý khủng hoảng truyền thông đừng để Chết vì cái thái độ

Khuất Quang Hưng (giữa” đang giới thiệu các cách xác định mức độ khủng hoảng truyền thông – Ảnh: L.Điền

Một câu chuyện thú vị về quản trị danh tiếng, quản trị rủi ro và xử lý khủng hoảng để tồn tại trong thế giới truyền thông vừa diễn ra tại Đường sách TPHCM chiều 15-4, nhân dịp ra mắt quyển sách Chết vì cái thái độ của tác giả Khuất Quang Hưng.

Sách do DT Books tổ chức bản thảo, nội dung là các bài viết trong thời gian mấy năm gần đây của Khuất Quang Hưng – một chuyên gia truyền thông với 15 năm kinh nghiệm trong một doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Không còn khái niệm “nội bộ”

Nhan đề sách Chết vì cái thái độ được nhiều người cho là có tác dụng gây chú ý đáng kể. Đại diện DT Books, TS Quách Thu Nguyệt cho rằng việc ra mắt quyển sách này ngẫu nhiên lại hợp với thời điểm diễn ra câu chuyện vừa xảy ra với Việt kiều David Dao và công ty United Airline. Đây cũng là một ca “chết vì cái thái độ”.

Bà Quách Thu Nguyệt dẫn trường hợp United Airline vừa rồi như một ca “chết vì cái thái độ” – Ảnh: L.Điền

Cùng dẫn chuyện với Khuất Quang Hưng có nhà báo Chu Minh Trường (Nhịp cầu đầu tư), và MC Lê Đức Duy.

Câu chuyện thú vị ngay từ đầu khi tác giả minh định lại khái niệm khủng hoảng: khi nào thì sự cố thực sự trở thành khủng hoảng? Nếu xác định không đúng mức độ, rất có thể sẽ có thái độ ứng xử không đúng. Theo ông Hưng, có 4 câu hỏi để xem xét vấn đề có phải là một khủng hoảng hay không: Có phải sự cố này khởi đầu cho các sự cố nghiêm trọng khác? Sự cố này có được giám sát chặt chẽ? Có ảnh hưởng tới uy tín  hình ảnh tổ chức? Ảnh hưởng như thế nào đến tài chính và các khía cạnh khác của tổ chức? Căn cứ vào câu trả lời cho 4 câu hỏi này, sẽ xác định vấn đề đang xảy ra có phải là khủng hoảng hay chưa.

Đề cập vấn đề này hiện nay, theo nhóm diễn giả là rất đúng thời điểm, bởi theo thông tin có được, năm 2016 ở Việt Nam có hơn 80 cuộc khủng hoảng truyền thông cỡ trung bình và lớn, như các vụ ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, nhà mạng tự động đăng ký dịch vụ và trừ tiền khách hàng… Và mới đây, vụ khủng hoảng của hãng United Airline với trường hợp hành khách Davd Dao: chỉ trong một tuần lễ, có 34 ngàn người ký tên đòi CEO từ chức, tẩy chay, cổ phiếu hãng hàng không này bốc hơi hơn 1 tỷ USD… Bắt nguồn từ một tình tiết có liên quan tới “cái thái độ”, đó là vị CEO ngay từ đầu xảy ra sự cố, đã gửi một bức thư nội bộ cho các nhân viên trong hãng United Airline với lập luận theo hướng không thừa nhận lỗi thuộc về hãng.

Tuy nhiên, ông Khuất Quang Hưng cho rằng trong thời đại truyền thông hiện nay, thì “không có cái gì là nội bộ cả, và vị CEO này phải xin lỗi 2 lần trước công chúng”, ông Hưng nhấn mạnh. Và trong nhiều trường hợp, vấn đề có khi không nghiêm trọng, nhưng thái độ không đúng mực của những người xử lý khủng hoảng đã đẩy vấn đề đi quá mức, trở nên nghiêm trọng. Ngược lại, thái độ đúng có thể biến sự việc lớn trở nên nhỏ hơn.

Môn “thể thao đồng đội”

Nhà báo Chu Minh Trường bằng kinh nghiệm của mình đưa ra nhận định rằng hiện nay giới Doanh Nghiệp, các tổ chức Việt Nam thường chưa quan tâm đúng mức đến việc xử lý khủng hoảng truyền thông. Theo ông, khủng hoảng truyền thông xảy ra liên quan đến cách ứng xử với sự cố. “Có 2 hướng xảy ra: truyền thông gây ra khủng hoảng, và lỗi của doanh nghiệp, tổ chức trong ứng xử sự cố”, ông Trường lưu ý.

Ông Trường cũng thừa nhận rằng ở Việt Nam mảng sách về giải quyết khủng hoảng cho doanh nghiệp còn chưa nhiều và chưa có hệ thống, lại đa phần là sách dịch nên thiên về lý thuyết mà thiếu thực tiễn của Việt Nam. “Quyển sách của anh Hưng có chỉ rõ các cấp độ khủng hoảng, giúp người ta nhận ra các mức độ khủng hoảng rõ ràng hơn”, ông Trường ghi nhận.

Ông Khuất Quang Hưng: Thời bây giờ không còn gì là nội bộ cả – Ảnh: L.Điền

Ông Khuất Quang Hưng cũng lưu ý các bạn đọc rằng: Khi xảy ra sự cố thì không nên giở quyển sách này ra, vì lúc đó sẽ không còn kịp nữa. Theo ông, các doanh nghiệp nên có người chuyên trách để theo dõi các nguyên nhân có thể xảy ra khủng hoảng.

“Trước tiên là cần có thái độ nghiêm túc với việc này. Và có công tác đào tạo nhân viên có khả quan hệ báo chí để khi có sự cố thì truyền đạt thông tin đến báo chí tốt nhất.

Xử lý khủng hoảng là “thể thao đồng đội”, một người không xử lý hết được đâu. Chúng ta cần có nhóm phụ trách, được đào tạo các kỹ năng, làm sao phối hợp làm việc hiệu quả để xử lý sự cố ngay khi nó vừa nhen nhóm.

Bên cạnh đó thì nên lưu ý mạng xã hội và Internet, nên lắng nghe Internet để biết khách hàng ta đang làm gì, nói gì về ta, để có cách ứng xử tốt nhất và sớm nhất”.

Ông Hưng cũng bày tỏ quan điểm xử lý khủng hoảng trên quan điểm nhân cảm: theo ông là nên cân nhắc với cách thức sử dụng biện pháp pháp lý để xử lý khủng hoảng. Bởi với biện pháp pháp lý có thể xử lý xong một vụ khủng hoảng, nhưng cần xem xét có bị tổn thương tình cảm khách hàng hay không, người ta có còn thương yêu tin cậy thương hiệu của mình nữa hay không… như thế mới là toàn vẹn.

Ông Hưng cho biết hiện đang bắt tay thực hiện quyển sách tiếp theo, bàn về các kế sách xử lý khủng hoảng – đề cập sâu hơn về kỹ thuật xử lý khủng hoảng cho từng loại hình cụ thể.

LAM ĐIỀN

Những vần thơ kỷ niệm mùa thi

Hè về. Ảnh: diaoconline.vn

Hè về. Ảnh: diaoconline.vn

Hè về. Cậu bé miền trung ngước nhìn lên tán dầu cao tít, nơi đang vang lên tiếng ve rộn rã. Tiếng ve râm ran, khuấy động cả không gian chiều trên góc đường Phạm Ngọc Thạch, khuấy động cả một vùng ký ức sâu xa….
Từ ngày xa miền trung, xa bờ rào nhà với những hàng me keo cứ mỗi mùa hè lại vang lên tiếng ve sầu rộn rã mà tha thiết, cậu bé đâm ra có thói quen lắng nghe và để ý tiếng ve sầu đầu tiên nghe thấy trong năm là vào tháng nào, ở đâu. Đó là một điều thú vị nho nhỏ, khi thì công viên Gia Định, lúc giữa rừng Mã Đà, tiếng ve đầu mùa gợi lại nhiều cảm xúc rất hồn nhiên.
Và có lẽ, cảm tình dành cho mùa hạ, dành cho tiếng ve bắt nguồn từ những vần thơ trong trẻo đọc được ở mùa thi xa lăng lắc, thời tốt nghiệp cấp ba. Những vần thơ như đốm lửa làm bừng lện cảm xúc rất riêng tư mỗi độ bắt gặp tiếng ve kêu dưới vòm phượng vỹ. Đâu đó trong vùng mờ ký ức là những vần thơ của Trương Nam Hương:

Và lại đến cái mùa phượng đỏ
Kỉ niệm xưa chìm khuất ở nơi nào
Tiếng ve vỡ ra trăm nghìn mảnh nhớ
Em không về nhận mặt tháng năm sao?

Cái thời không có ý niệm gì về một tiếng gọi “em”, nhưng lại quá đỗi xúc động khi bắt gặp tứ thơ “tiếng ve vỡ ra trăm nghìn mảnh nhớ”. Tiếng ve vỡ hay chính cảm xúc của cậu học trò năm cuối cấp bỗng ngập tràn trong muôn vạn lời ve, để từ đó cứ bâng khuâng mỗi lúc mùa thi, mùa hạ quay về.
Cảm xúc của mùa thi lạ lắm. Hình như bạn bè trước lúc chia tay bỗng trở nên ngọt ngào hơn. Trong buổi chia tay cuối cùng mùa tốt nghiệp đại học, anh bạn thường ngày “khô như ngói” bỗng đứng lên đọc mấy vần thơ như một tiếng vọng đầy lưu luyến:

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em
Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ
Ôi nỗi nhớ, có bao giờ nhớ thế
Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi…?

Thơ Hoàng Nhuận Cầm làm cách nhau mấy thế hệ nhưng cảm xúc vẫn hoà điệu lạ thường. Bạn bè rưng rưng, người đọc rưng rưng, những vần thơ ngọt ngào đọng mãi nhờ phút giây tất cả đều lắng lòng nghe nhịp đập từ thơ.
Lại nhớ những mùa thi gian khổ, chiều mưa rét mướt, lạnh cả một miền quê, còn gì ấm bằng không gian tình cảm bạn bè:

Gương mặt ấy, nụ cười bên lửa thắm
Quả doi rừng trong nón để phần nhau
Ở nơi ấy vị măng vầu chẳng đắng
Củ sắn lùi ống nứa vẫn thơm lâu(*). Bạn mình không thích thơ, nhưng thích cái cách ví von trong thơ, nên rồi thành ra liên tưởng được ít nhiều giữa cảm xúc của bài thơ và cảm xúc của người – nhớ – lại – bài – thơ – đó. Thế mà tất cả rồi cũng xa, cậu bé làng quê không còn nơi bờ tre gốc rạ nữa, nhớ lắm, muốn chạy về nhà để nghe gió đồng lộng thổi. Nhưng ngặt vì lại tiếp nối những mùa thi. Cuộc sống là một chuỗi dài những mùa thi. Từ đận bỏ quê đi bằng mùa thi đầu tiên, cậu bé dấn thân vào chốn bon chen thi thố. Làng quê xa, bạn bè xa:

Nếu em biết những gì tôi đã sống
Những buồn vui tôi đã có trong đời
Nếu em biết bây giờ tôi khác lắm
Buổi cùng em kiếm củi ven đồi…(*)

Chắc là không ai biết, không ai chia sẻ được. Thế giới tuổi thơ bên dưới những mái trường giờ cuộn mình nằm đâu đó trong ký ức. Đốm lửa ấy không mất đi, nó âm thầm giữ trong lòng cậu bé ngày xưa những cảm xúc vẹn nguyên của những mùa thi thơ ấu, dù cuộc đời còn lắm lần thi chẳng thi vị chút nào.

Nguyên Trực

(*) Thơ Lưu Quang Vũ

Một nét

Trong nghề võ có lối đánh một đòn gục luôn, kiểu trong quân đội gọi là hạ gục nhanh tiêu diệt gọn. Lối này phải cao thủ mới triển khai được. Hồi nhỏ nghe bố trầm trồ hai trường hợp, hễ ráp vô bị một đòn là gục, một là đại sư Chín Ng. ở Bình Định, hai là một nữ võ sĩ không rõ tên ở khoảng Phan Rang.

Không biết trong nghề văn có lối một đòn đánh gục không. Chắc là khó, vì văn chương rề rà bỏ mẹ, đại ka Lê Đình Bích từng nhại một câu bài chòi: Mẹ ơi con muốn anh nhà văn/ Ảnh lật qua ảnh sửa lại ảnh lằng nhằng cả đêm. hehe Nhưng truyền thống của Hủ Nho đường có pháp tả thực bằng một nét. Đại khái có lần nói chuyện với đường chủ Hủ Nho đường về một ông thợ sửa xe máy ở đường NTMK gần trường Nhân Văn. Mình bảo là hồi nào giờ trong giới thợ sửa xe máy chỉ thấy tay này là giỏi. Đường chủ hỏi lại: giỏi cách sao, chú nói một nét xem sao? Mình bảo, à à giỏi vầy nè, đại khái là hôm kia tui ghé sửa xe, khi sửa xe xong, trong cái toa tính tiền ghi các hạng mục đã sửa, thì hạng mục xoáy xú páp được ổng ghi chữ xú páp là soupape đúng chữ Pháp luôn. Đường chủ gật đầu, ừ, vậy giỏi thiệt.

Cho nên, cái pháp mô tả bằng một nét như vậy rất chi là lợi hại.

Chuyện Bardo

Chuyện về lạt ma Dugpa Kunleg, ẩn tu nhiều năm trong động đá tại Tây Tạng, không màng đến thế sự.
Trong thời gian ông ẩn tu, trong vùng có một tăng sĩ trụ trì một ngôi chùa lớn. Vị này vốn chăm chỉ tu hành và giữ giới luật nghiêm cẩn, nhưng từ khi nhận chức trụ trì thì trở nên lười biếng, không chịu công phu khuya sớm mà chỉ thích được cúng dường, xưng tụng. Sau một thời gian, vị trụ trì mắc bệnh và qua đời.

Sau khi ông trụ trì nọ qua đời ít lâu, lạt ma Dugpa Kunleg một hôm bỗng rời hang động đi xuống một giòng suối gần đó, đúng lúc có một cô gái đang đến lấy nước. Lạt ma Dugpa Kunleg không nói không rằng lao đến ôm chầm cô gái toan cưỡng bức. Nhưng cô gái thì trẻ khỏe hơn hẳn vị lạt ma cao tuổi lại ẩn tu nhiều năm trong hang, nên cô chống cự kịch liệt và chạy thoát về làng. Về đến nhà, cô kể cho mẹ nghe, bà mẹ ngạc nhiên vì trai làng vốn rất thuần hậu, xưa nay chưa có vụ việc kiểu này, họa chăng có người từ nơi khác đến. Nhưng theo mô tả của cô gái, thì bà mẹ giật mình nhận ra đó chính là lạt ma Dugpa vẫn nhập thất tu thiền trên núi. Đã nhiều năm nay vị này không rời am thất, chỉ chuyên tâm tu hành. Không hiểu sao hôm nay lại hạ sơn làm chuyện tồi bại như vậy.

Tuy nhiên, bà cũng biết rằng những bậc tu chứng đôi khi có những hành động mà một người thường không thể hiểu được. Các ngài đã đạt đến trạng thái tâm không phân biệt, đã phá chấp, vượt ra ngoài những thói thường, vậy nếu quả đúng là lạt ma Dugpa thì chắc phải có một nguyên nhân nào đó. Bà bèn nói với con gái rằng: “Kẻ toan cưỡng dâm con chẳng phải ai xa lạ mà chính là lạt ma Dugpa, một vị tu chứng nổi tiếng của miền này. Ngài là một bậc tu hành cao thượng mà khắp miền đều kính trọng. Bất cứ ngài làm việc gì cũng đều có lý do chính đáng. Vậy con hãy tìm đến ngài, sẵn sàng chấp thuận mọi điều mà ngài sai khiến”.

Cô gái trở lại bờ suối thì thấy lạt ma Dugpa đang tham thiền nhập định gần đó. Cô vội quỳ xuống xin lỗi về việc đã chống cự lúc nãy, nhưng ông cho biết: “Con hỡi, sắc dục không có nghĩa lý gì đối với ta cả. Ta đang nhập định bỗng thấy vong linh một vị trụ trì ngôi chùa lớn vừa đi qua. Vị này vốn lười biếng, chẳng chịu tu hành đề giải thoát, sống nhờ các phẩm vật dâng cúng của tín đồ mà không chịu lo báo đáp, ăn thiếu Tam đề, uống không Ngũ quán, không ý thức gì đến sự vô thường ở cõi đời mà chỉ ham thích những gì xa hoa phù phiếm… Vong linh này đang vất vưởng nơi cõi Bardo và bị nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai. Vì lòng thương xót một kẻ tu hành nên ta mới rời động đá để cứu cho vị này được đầu thai vào kiếp người, bởi thế ta mới hành động lỗ mãng như vậy. Tiếc thay nghiệp lực người đó quá nặng nên khiến con chạy thoát được. Sau khi con về làng thì có hai con lừa đang giao cấu gần đó và vị lạt ma này đã nhập vào bào thai con lừa cái. Từ nay và trong nhiều kiếp nữa, vị này sẽ mang thân súc sinh, lao động khổ cực, bị những người chủ hành hạ đánh đập để trả lại cái nợ hưởng thụ những phẩm vật cúng dường của tín đồ má không chịu tu hành để báo đáp… Tuy ta rất thương xót nhưng cũng không thể thay đổi gì được”.

(theo Mystiques et magiciens duThibet của Alexandra David Neel – 1929, Nguyên Phong dịch)

Chịu trách nhiệm cho dị bản

Lời tuyên bố có nội dung xác định bản gốc của cụ Nguyễn Tuân – Ảnh: Vũ Hà Tuệ

Việc Cục Nghệ thuật Biểu diễn – Bộ VHTT&DL (Cục) vừa có ý kiến cấm vĩnh viễn “bản lưu hành sai lời” của 5 ca khúc ra đời trước năm 1975, đặt ra vấn đề bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

“Bản lưu hành sai lời” thực chất là dị bản. Và việc ra đời một hay nhiều dị bản đối với một bản gốc là chuyện bình thường từ xưa đến nay, không riêng gì ca từ của các ca khúc mà xét chung trong các lĩnh vực sáng tác/ sáng tạo. Điều bình thường này thể hiện qua câu cách ngôn nói về tần suất ra đời dị bản: tam sao thất bản – chỉ cần sao chép ba lần trở lên là đã sai lệch so với bản gốc. Và cũng chính vì thế, trong nghiên cứu các ngành khoa học xã hội, khi phải làm việc với các văn bản, có một thao tác không thể bỏ qua, là “khảo dị” – khảo sát sự ra đời và tồn tại của các dị bản trong mối quan hệ với bản gốc.

Như vậy là trong hành trình sáng tạo của con người, việc ra đời dị bản vốn dĩ bình thường, thậm chí còn trở thành đối tượng nghiên cứu.

Và ứng xử với dị bản cũng bình thường. Nhà văn Nguyễn Tuân – một người nổi tiếng kỹ tính về chữ nghĩa – từng nhiều lần nhìn một truyện ngắn của mình trong tập Vang bóng một thời ra đời mang các tên khác nhau: Tao Đàn năm 1939 in truyện tên là Chém treo ngành; đến năm 1943 nhà Thời Đại xuất bản với tên Bữa rượu máu; đến năm 1957 tập Vang bóng một thời in lần thứ 5, lần này NXB Hội Nhà văn in tên truyện trên là Bữa rượu máu; nhưng đến năm 1968, nhà Trường Sơn ở miền nam in Vang bóng một thời lại vẫn để tên truyện này là Chém treo ngành.

Hay như Tố Hữu, khi xuất bản tập Việt Bắc năm 1954, bài Đời đời nhớ ông có câu: “Yêu biết mấy, nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin”, nhưng trong các quyển thơ Tố Hữu sau đó, câu thơ trên đã tồn tại dưới dạng một dị bản: “Yêu biết mấy, nghe con tập nói/ Tiếng con thơ gọi Sta-lin”.

Và phổ biến nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Toàn thể dân Việt Nam ngày nay xưng tụng, thưởng thức, nghiên cứu… tác phẩm Truyện Kiều cũng chỉ là căn cứ trên các dị bản: Dị bản từ cái nhan đề Đoạn trường tân thanh hay Truyện Kiều cho đến các câu trong nội dung với độ xô lệch rất cao. Đây là một câu chuyện dài của giới Kiều học, từng dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt bắt nguồn từ việc thiếu một văn bản gốc để làm căn cứ xác định.

Trong nhiều trường hợp, việc tranh luận còn do cách hiểu khác nhau về khái niệm “bản gốc” – khái niệm cần làm rõ trước khi xác định một khái niệm phái sinh: dị bản. Nói cách khác, một khi Cục xác định bản nào là “sai lời” hay “thay lời” thì Cục cũng phải thống nhất cách hiểu như thế nào là bản đúng lời/ còn nguyên lời/ bản gốc.

Thật may, Chúng ta đã có Luật Sở hữu trí tuệ, và mặc dù luật này không định nghĩa cụ thể cho mục từ “bản gốc”, nhưng ở Điều 18 và Điều 19 quy định Quyền nhân thân (là một bộ phận của Quyền tác giả), có nội dung “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Như vậy, việc xác định thế nào là bản gốc cùng với bảo vệ sự toàn vẹn của bản gốc là một nội dung quan trọng của Quyền nhân thân. Quyền này quan trọng đến mức, nó không được chuyển nhượng cho bất kỳ ai (quy định tại Điều 45); và nó được bảo hộ vô thời hạn (quy định tại Điều 27).

Dẫn luật như thế để thấy rằng: việc 5 ca khúc bị (hay được) sửa lời là liên quan đến quyền nhân thân của các tác giả. Trách nhiệm lên tiếng để xác định đâu là bản gốc, là bản “toàn vẹn” được luật pháp bảo hộ, trước hết thuộc về tác giả của 4 ca khúc ấy, chứ không phải thuộc ý kiến của một Cục nào. Nếu việc lưu hành “các bản sai lời” là vi phạm quyền tác giả, thì cũng chính tác giả hoặc cá nhân/ đơn vị đang giữ quyền tác giả có trách nhiệm “trả lại lời đúng cho bài hát”. Trách nhiệm này bao gồm cả việc khởi kiện những đối tượng vi phạm.

Điều này chẳng những đúng luật mà còn hợp lẽ, bởi như trường hợp bài thơ Đời đời nhớ ông nêu trên, một khi nhà thơ Tố Hữu đã sửa và công bố lại văn bản bài thơ với hai câu khác lần in đầu, thì không có một ai/ cơ quan tổ chức nào có quyền hoặc nhân danh điều gì bảo phải dùng lại 2 câu thơ in hồi 1954 mới là “đúng bản gốc”.

Ở đây, chúng ta có thêm một chi tiết để kính nể cụ Nguyễn Tuân: vào năm 1957, khi Vang bóng một thời in lần thứ 5, chính Nguyễn Tuân viết lời tuyên bố in vào sách: “Bản in lần thứ năm Vang Bóng Một Thời có chỉnh đốn lại được coi là ấn bản đầy đủ nhất của tập truyện”. Cụ Nguyễn, vào thời Việt Nam chưa có luật bản quyền ấy, đã lo xa rằng biết đâu mai này sẽ có cơ quan nào đó đứng ra “lo giùm” cái việc bản gốc tác phẩm của cụ mà in lại một quyển Vang bóng một thời không đúng ý cụ chăng?

Chịu trách nhiệm về bản gốc tác phẩm của mình, cũng chính là có trách nhiệm với các dị bản vậy.

Lam Điền

Mạnh Tử đòi đuổi vợ

孟子妻独居, 踞。孟子入户视之,向其母曰:“婦无礼,请去之。”母曰:“何?”曰:“踞。”其母曰:“何知之?”孟子曰:“我亲见之。”母曰:“乃汝无礼也, 非婦无礼。‘礼’不云乎?‘将入门,问孰存。将上堂,聲必扬。将入户,视必下。’不掩人不备也。今汝往燕私之處,入户不有聲,令人踞而视之,是汝之无礼也,非婦无礼也。”於是孟子自责,不敢去婦。

Vợ Mạnh Tử một mình trong phòng, đang ngồi dạng chân. Mạnh Tử bước vào nhìn thấy, mới đi nói với mẹ rằng: “Vợ con vô lễ, nên đuổi đi”. Mẹ hỏi: “Vô lễ thế nào?”, thưa: “Ngồi dạng chân”. Mẹ hỏi: “Sao con biết?” Mạnh Tử thưa: “Chính con thấy”. Mẹ nói: “Vậy thì con vô lễ, chẳng phải vợ vô lễ. Sách “Lễ ký” đã chẳng nói sao: ‘sắp vào cửa, phải hỏi có người ở trong nhà không; sắp lên sảnh nhà, tất phải đánh tiếng; bước vào phòng, mắt phải nhìn xuống; không để người ta bất ngờ không chuẩn bị vậy. Nay con đến chỗ nghỉ ngơi riêng tư [của người ta], vào phòng mà không lên tiếng, khiến cho người ta vẫn dạng chân để con nhìn thấy, thì con mới là vô lễ đó, không phải vợ con vô lễ đâu”. Mạnh Tử do vậy mà tự trách, không dám đuổi vợ nữa.

Kiệt Tấn in dấu tay

Hẹn hoài mà không tháp tùng phái đoàn đi xuống Định Tường thăm anh Ngô Kim Khôi được. Ngồi lục mấy tấm hình hôm trước chụp nhà văn Kiệt Tấn in dấu tay theo yêu cầu của họa sĩ Phan Nguyên.
Xin các văn nghệ sĩ để lại dấu hai bàn tay trên tờ giấy trắng, chất liệu in là bằng nước cà phê sữa, chương trình Dấu thời gian của họa sĩ Phan Nguyên đã gom giữ được nhiều dấu tay của nhiều danh gia Việt Nam.
Nhân buổi giao lưu của nhà văn Kiệt Tấn tại tiệm sách Kafka hôm 26-3-2017, Phan Nguyên xuất hiện và đề nghị ông in dấu tay. Lần thứ nhất in xong, Phan Nguyên đề nghị ông ghi câu gì đó lên tờ giấy vừa in, Kiệt Tấn tần ngần một chút rồi chép 4 câu thơ của Phạm Thiên Thư:


“Tình cờ mình gặp nhau đây
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chiêm bao
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng”.
(Phạm Thiên Thư)

Họa sĩ Phan Nguyên cầm lên xem tác phẩm vừa hoàn thành, bỗng lại đề nghị: in thêm 1 tấm nữa đi. Thế là lại quậy cà phê sữa, lại in dấu cả hai bàn tay lên tờ giấy A4. Lần này ông Phan Nguyên đề nghị Kiệt Tấn rằng ông viết câu gì của ông đi, đừng viết câu của người khác.
Thế là Kiệt Tấn ngồi bóp trán một chặp, xong viết ra mấy câu này:
Về đây ta lại về đây
Về đây mây trắng tỏa hoài ngàn năm
Về đây hoàng hạc mất tăm
Về đây lặng đứng âm thầm chốn xưa
(Kiệt Tấn).


ahayhay,

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

IVYXLOVE

Life is a holiday on earth

Khải Đơn

Vui chơi hết ngày tháng

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.