Vương Hồng Sển vẫn quyến rũ về chuyện địa danh và lịch sử Nam kỳ


–          Sách của Vương Hồng Sển vừa phát hành trên cả nước – Ảnh: L.ĐIỀN

Tháng ba năm nay, tên tuổi Vương Hồng Sển trở lại với bạn đọc qua quyển di cảo Chuyện cũ ở Sốc Trăng, vừa được nhà xuất bản Trẻ ấn hành.

Lại bắt gặp giọng kể chuyện nhẩn nha dây cà ra dây muống mà vẫn rất duyên của ông già gốc Lục tỉnh, người đọc hẳn sẽ ngấm dần những gởi gắm của tác giả qua từng câu chữ. Cụ Vương Hồng Sển viết quyển này từ năm 1986, đến nay đã ngót 34 năm sách mới xuất bản, đây cũng là một câu chuyện.

Duyên cớ để tác giả khởi thảo quyển sách này – viết về nơi nhau rún của ông – là lời đề nghị của những bạn đồng hương, muốn có một công trình khảo cứu về Sốc Trăng (Sóc Trăng – theo cách viết của tác giả). Thế nhưng không như cái nhan đề gói hẹp ấy, có đọc cụ Vương mới biết chính cái sự dông dài trong trang viết của cụ hóa ra không thừa thải chút nào.

Đọc ông, mường tượng như tác giả kể chuyện cùng sắp trẻ đang châu đầu hiếu sự muốn nghe… Riết rồi qua từng trang sách, người đọc cảm như mình đang đối diện với một ông già vừa “lợi hại” vừa xuề xòa, thế nên sẵn sàng lót dép ngồi hóng chuyện.

Mà toàn chuyện hay, chuyện có ích cho sự học.

Chẳng hạn cụ Vương không chỉ viết chuyện Sốc Trăng, mà nhân đó, cụ thuật lại hành trình Nam tiến của nước Việt. Thuật chuyện xa mà vẫn thấy gần, bởi chính mảnh đất Nam kỳ mà cụ thể là miệt Srok Khléang, Srok Bassac (tức vùng từ Cần Thơ, Sốc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) khi chính thức nhập thành đất nước Việt Nam, quá trình nam tiến mới hoàn tất, và hình hài Tổ quốc mới có “hình chữ S” như cách ví lâu nay.

Câu chuyện của Sốc Trăng vì thế hóa thành câu chuyện của cả Nam kỳ lục tỉnh, từ thuở xưa đất này thuộc người Chăm, rồi người Khmer đến ở, sau đó lịch sử biến động đến chừng họ Mạc làm chủ, rồi chúa Nguyễn sở hữu và sáp nhập để thành phần lãnh thổ cuối cùng của Tổ quốc…. Bao nhiêu sắc dân từng hiện diện nơi đây, bao nhiêu câu chuyện về quan hệ giữa người Khmer, Chăm, Việt còn ghi dấu tại đất này…

Nhưng thú vị nhất phải kể đến các đoạn cụ Vương Hồng Sển lý giải các địa danh Nam kỳ. Những cách cắt nghĩa đôi khi sẽ trở thành đề tài cho học giới bàn tiếp, nhưng có hề gì, trong mạch chuyện của cụ ở đây, người đọc tưởng mình như đang đối diện với một pho từ điển sống.

Chẳng hạn như địa danh Bến Lức, cụ Vương cải chính cả cách lý giải của học giả Nguyễn Tạo trước kia khi chọn cách gọi “Phiếu Giang”, trong khi địa danh này liên quan đến cây Lật, “Tây gọi chataignier, ngoài bắc gọi là cây dẻ, ngót mười năm Lê Thọ Xuân mới tìm ra đó là “Bến Lứt” mà thuở nay viết “lức” mới khó biết”.

Hay như cái cà ràng người miền Tây lâu nay vẫn hiểu là cái bếp củi, nó vốn mang tên Khmer là Châng-kran – là cái lò lửa dời đi được.

Còn Rạch Giá tên Khmer là Kra muon sor nghĩa là sáp ong trắng, từ đây mới biết chữ Giá chỉ cây giá – một loại cây cùng họ với tràm tiêu biểu của xứ này mà ong làm tổ cho ra loại mật, sáp màu trắng…

Càng đọc, càng thấy cái biết của mình về đất Nam kỳ được mở ra. Có khi là nhờ cách vắn tắt kê ra những chi tiết lịch sử cần thiết, như tên gọi thuở đầu của “lục tỉnh”, cụ thể mỗi tỉnh gồm mấy phủ mấy huyện tên gì; có khi hấp dẫn bởi chính tác giả kể chuyện quê mình: “Sốc Trăng năm 1920 chưa có đèn điện. Khi tôi tám, chín tuổi (1910) phố đốt đèn dầu lửa, nhà nhà nơi chợ châu thành phải treo đèn lồng rọi sáng trước cửa… lối 1917-1918 đã văn minh khá, thành phố có đèn manchon, chiều chiều có phu đi xe đạp đến bơi dầu, đốt manchon cho cháy…”, quả thật là những tư liệu về tình hình chiếu sáng đô thị buổi đầu không dễ gì tìm được chứng nhân kể lại như vậy.

Lam Điền

Quê còn mây trắng bay

Ảnh: Thanh Trung tàng bản,

Nhiều lúc muốn về Phan Lý cũ
Thăm mái trường xưa giữa xóm Chàm
Hóng tiếng ve sầu đang thổn thức
Trong mùi khói cuộn gió nồm nam,

Thèm đứng bên đường lên Sông Mao
Nhìn em áo trắng khuất qua rào
Nhớ ơi Hòa Thuận mùa xanh lúa
Chuông giáo đường buông tiếng vút cao,

Nhớ đường năm cũ bến Thanh Tu
Bò lẫn trâu chen đất bụi mù
Ai đứng chờ ngưng cơn nước bạc
Mặt người chưa tỏ bỏ trăng lu,

Và bạn đi đâu bỏ Chợ Lầu
Bỏ đường phố hẹp ngõ ăn sâu
Bỏ hoa khế rụng vườn thư viện
Vạt nắng xưa còn hong tóc nhau?

Lại muốn đứng trên cầu Xóm Lụa
Nghe từng lóc cóc ngựa xe qua
Nứa tre gạo cám rau hành ấy
Còn giúp mưu sinh mấy trẻ già…

Ai nhớ lời thầy năm cuối cấp
Đắng từng gan ruột buổi chia tay
Rằng quê trong mắt trong lòng đó
Nào phải về đâu hay ở đây,

Nhưng gặp hanh hao nắng cuối ngày
Nghe mùa đang chuyển gió qua tay
Ngoảnh nhìn bốn hướng trời giông loạn
Có lẽ quê còn mây trắng bay…

Sài Gòn, 18.2.2020
藍田

Trừ mai có lẽ lan là nhất

Chiều ba mươi tết, sau khi kịp chạy một vòng lên rừng và xuống biển đúng nghĩa đen, thì ghé nhà anh Thành lúc chập tối.
Ý định thắp cho anh nén hương, nhớ người anh thân thiết mới năm nào mỗi bận về quê thể nào cũng ngồi cùng nhau hàn huyên bao nhiêu là chuyện đời chuyện đạo…
Ghé nhà gặp cả cô Hoa và chị Thu, chị Chi ba người đang ngồi nói chuyện. Minh vừa thắp nhang xong thì cô Hoa buột miệng nói ra một tin: cô Hoàng Lan vừa mất hôm qua.
Ôi trời, mình nghe mà không tin vào tai, chị Thu cũng hỏi lại vì dường như cũng không tin được.
Nhưng sự thực là cô Hoàng Lan đã mất, cô mất tại nhà ở Phan Thiết, mà sau khi nhập liệm xong thì đưa vào Bình Hưng Hòa (Sài Gòn) để hỏa táng, rồi mới đem tro cốt về thờ.
“Người ta nói, chưa có cái đám tang nào mà đẹp như vậy, cũng chưa có đám tang nào đau đớn như vậy”, cô Hoa dẫn lời mấy người bạn giáo viên từ Phan Rí Thành vào dự đám kể lại.
Trong hình dung của mình, cô Hoàng Lan vẫn còn trẻ lắm.
Hồi nhỏ, ấn tượng về cô có rất nhiều, cô hát hay, đặc biệt có giọng ngâm thơ hay. Và cô thương yêu học trò rất mực. Hồi đó nhà mình nghèo xơ xác, nhưng không hiểu sao đến giờ có lẽ chỉ có cô Hoàng Lan là người giáo viên ghé nhà mình nhiều nhất. Khi thì mang cho chị mình mượn cuốn sách, có khi mang đến cho luôn. Khi thì đến nói chuyện với bố mình về việc học gì đó của tụi mình. Và cũng lạ, nhớ hồi mình còn học lớp 4-5 gì đó, mà không hiểu sao cô Hoàng Lan đã chú ý đến mình trong khi cô dạy văn cấp II kia mà. Còn nhớ có hôm cô đến nhà gặp lúc mình đang đun củi nấu cơm chiều, cô cười cười bảo mình: Lam Điền làm hỏa đầu quân à. Mình ngớ ra vì lúc ấy vừa không biết chữ hỏa đầu quân vừa không nghe rõ vì cô nói giọng Huế. May sao có bố mình đứng cạnh vội nhắc, cô nói hỏa đầu quân tức là người lính nấu bếp đó. Mình ghi nhận thêm được một chữ, và nhận thấy cái cách hỏi chuyện của cô mới văn vẻ thú vị làm sao.
Lên cấp 2 có học cô, mình lây cái thú ngâm nga thơ phú từ rất sớm bởi hai người, một là bố mình, và người kia chính là cô Hoàng Lan.
Chị em nhà mình thích học văn, có lẽ vì vậy mà cô rất quý, còn nhớ hồi đó cô cho nhà mình 1 quyển sách rất hay, in các bài thi đoạt giải học sinh giỏi quốc gia của các thế hệ học sinh thời còn chiến tranh, cái cụm từ “giải nhất/nhì toàn miền bắc” bên dưới tên tác giả các bài văn ấy làm mình thấy ngồ ngộ.
Cũng trong quyển sách ấy, khi đọc đến bài làm của Trần Đăng Khoa trong kỳ thi văn quốc gia, thay vì bài văn như tên gọi kỳ thi, Trần Đăng Khoa đã viết một bài thơ dài, đến mấy chục khổ. Mình đọc đi đọc lại, tuổi thơ cứ băn khoăn, làm một bài thơ dài thay cho bài văn như vậy không khó, cái khó là tại sao thi văn mà giám khảo chấp nhận cho thí sinh làm thơ. hehe

Lớn lên, mình nhận ra đường tình duyên của cô Hoàng Lan lận đận. Nhưng rồi chuyện nhà chuyện học cuốn mình đi, có lúc ngoảnh lại thì nghe tin cô đã vào Phan Thiết đã lập gia đình với thân phận kế thất của một quan chức hàng tỉnh. Hay tin, lúc ấy tự nhiên thấy buồn buồn. Nhưng bấy giờ là bặt tin cô luôn rồi.
Nhớ lần tình cờ gặp cô cách đây cũng ngoài hai mươi năm, lúc chưa tốt nghiệp đại học. Trong một dịp tết về quê cũng như này, mình ghé Phan Thiết, một mình tha thẩn vào hiệu sách đối diện trường Phan Bội Châu, thì bất ngờ gặp cô. Hai cô trò mừng quá, nhưng cũng chỉ kịp hỏi han mấy câu vì hình như cô đang vội.
Sau đó lại bặt tin cô, nhưng trong những lần nhớ quê, bao giờ mình cũng nhớ cô, nhớ dáng người mảnh mai, giọng Huế nằng nặng ngâm thơ tuyệt hay và đôi mắt to lại có đuôi… Trong hình dung hồi nhỏ của mình, cô Hoàng Lan là một cô giáo đẹp.
Cũng có nhiều bận tự dặn lòng về Phan tìm nhà cô ghé thăm nói chuyện một phen cho đã, nhất là cách đây nhiều năm hay tin chồng cô đã mất, nghĩ bụng nay cô một mình nuôi con lại thấy buồn buồn.
Nhưng bao năm rồi mà cái ý dặn lòng vẫn chưa làm được. Nay đột ngột hay tin cô đã đi xa.
Mình bước chân ra khỏi nhà anh Thành, trời quê tối sẫm, nhìn ra khoảng sân tàu mênh mông, lại nhớ hình như ngôi nhà của ba mẹ cô từ lâu cũng đã dọn đi đâu mất rồi. Lòng càng thêm trống trải lạ kỳ.
Lại nhớ cái tên của cô, Hoàng Lan là tên một loài hoa. Mình không rành hoa, nhưng những năm cấp hai ở quê bố mình đưa quyển Để hiểu thơ Đường luật của Hư Chu kêu đọc, thoạt thấy cụ Hư Chu phê phán tất tật những bài thơ lâu nay được xem là hay như của Nguyễn Khuyến, Bà Huyện Thanh Quan là những khuôn vàng thước ngọc đang hiện diện trong sách giáo khoa, mình tá hỏa. Ráng đọc cho trôi, mới thấy Hư Chu lợi hại, và ông đơn cử một bài thơ Đường luật ông xem là chuẩn, lại là một bài vịnh hoa hoàng lan của cụ Tô Nam. Sẵn cảm tình với cô Hoàng Lan, mình đọc qua và thuộc luôn bài thơ ấy
Nay chép ra đây để nhớ cô, kể như một đóa hoàng lan mới lìa cành trong ngày cận tết sắp sang năm Canh Tý:

Nghe nói nhà lan có ả hoàng
Mở coi hoa phả biết dòng sang
Đứng bên khóm cúc chen màu sắc
Ngoảnh lại thềm chi nhận họ hàng
Vẻ đẹp giấu trong khi lẫn cỏ
Tiếng thơm nổi tự lúc rời hang
Trừ mai có lẽ lan là nhất
Quý nhất xem ra lại giống vàng.

[Phan Rí Thành, đêm 30 tháng chạp
24.1.2020]

Lễ chung thất ôn Trí Quang tại Quảng Hương già lam,

Vẫn còn đây những dư hương
về trong ánh sáng vô thường thế nhân

đã đành mấy độ trầm luân
nếu không thánh lộn phàm trần như chơi

năm mòn hạt bụi thưa rơi
hình như cả một đất trời Nam mô…

26.12.2019

Vũ Đức Sao Biển ra sách hồi ức trong cơn bạo bệnh

Ảnh: L.Điền

Trong cơn trọng bệnh ở tuổi ngoại thất tuần, nhà văn, nhà báo Vũ Đức Sao Biển vẫn đều đặn ra sách, mới nhất là hai quyển miên man trong dòng hồi ức từ thuở thiếu thời đến khi lập nghiệp: Phượng ca và Miền Nam sống đẹp.

Thật đáng yêu biết bao khi một người đến tuổi bảy mươi vẫn còn nhớ như in và dạt dào cảm xúc khi nhắc lại tuổi học trò của mình. Trong cách kể của nhà văn Vũ Đức Sao Biển về quãng đời hoa niên thơ mộng dưới mái trường bên cạnh bạn bè thân mến, người đọc cảm nhận được mức độ say sưa và nồng nhiệt, như thể trang viết đã hoàn toàn chiếm lĩnh tâm trí ông, dẫn ông vượt thoát hiện thực sức khỏe đang cần phải đấu tranh gắng gượng, để “hồi xuân” lại một chặng đường đẹp nhất của đời người.

Phượng ca là cách gọi của tác giả, ở đó bạn đọc sẽ bắt gặp không ít những câu chuyện lạ lẫm mà thú vị, gặp lại hình ảnh những cô cậu học trò trung học có những cách tinh nghịch hồn nhiên “cũng giống như mình”. Nhưng có lẽ, Vũ Đức Sao Biển tha thiết kể chuyện thời học trò của mình còn có một lý do riêng. Đó là hoàn cảnh xuất thân của ông có chút đặc biệt. Bản thân một cậu học trò xứ Quảng nghèo khó trong thời chiến tranh được cắp sách đến trường, đã là một sự đặc biệt. Đọc ông, thấy cách kể nhẹ tênh về những ám ảnh nặng nề, bắt gặp những cách nhìn dí dỏm cho một số đoạn trường đau đớn lẽ thường người đời phải buột miệng than van… mới biết câu chữ từ một người từng trải qua khắp lượt đời người nay quay trở lại nói chuyện thiếu thời, có một tầng giá trị đáng kể.

Rồi người đọc sẽ cảm giác như mình đang tha thẩn nghe một ông già kể chuyện. Có ai tự hỏi đã bao lâu rồi mình không được nghe một người già kể chuyện? Ở đây, đọc Vũ Đức Sao Biển còn thú vị vì trang viết hoàn toàn không có những rề rà đáng chán thường gặp trong kiểu cách của người già. “Nét già” duy nhất trong câu chuyện của ông chính là những câu chuyện đã có độ lùi của thế hệ. Người đọc hôm nay qua đó có dịp hồi nhớ lại chuyện của mình khi bắt gặp những khởi đầu của tác giả từ hàng nửa thế kỷ trước. Kiểu như khi tác giả kể chuyện xa nhà đi trọ học từ năm cấp hai, và cũng ở tuổi ấy, tác giả đã tìm được “mối” dạy kèm để tự trang trải tiền cơm và tiền nhà. Việc học của ông từ đó không còn là gánh nặng đối với gia đình nữa.

Nhiều người Sài Gòn khi nghe nhắc đến học trò miền trung thường chép miệng bảo rằng: Dân miền trung thường giỏi giang và siêng học. Nhưng cụ thể giỏi giang siêng học thế nào, có thể tìm thấy những mẩu tư liệu thực tế sinh động từ trang viết của Vũ Đức Sao Biển.

Đọc ông, lại còn nhận ra những đặc thù đáng quý trong giao tế, lễ phép của người miền trung. Bắt gặp những thói quen trong ăn uống sinh hoạt, những thức ăn thời học sinh có hương vị quê nhà ám ảnh cậu học trò nhiều chục năm sau không chỉ bởi hương vị của món quê mà còn bao nhiêu câu chuyện kèm với nó đã sớm in hằn trong tâm trí cậu học trò đa cảm. Lại cũng có chuyện kỳ thú như… chuyện ma ở làng. Chẳng hiểu sao điểm chung của mối quan tâm tuổi học trò thể nào cũng có chuyện ma. Vũ Đức Sao Biển kể lại chuyện ma ở làng sinh động quá, một trường hợp người thanh niên bị ma giấu giữa bụi tre miệng ngậm đầy đất – vốn là style quen thuộc của các chuyện ma giấu – được tác giả thuật lại theo lời ông lái đò thật ấn tượng khó quên.

Còn một ấn tượng khó quên nữa là tác giả bộc bạch niềm đam mê âm nhạc thuở thiếu thời và trong từng thời đoạn của tuổi học trò, ông đã thu xếp để thực hiện ước mơ niềm thích mình như thế nào.

Miền Nam sống đẹp lại là một quãng đời khác, với những câu chuyện khác cũng ly kỳ không kém. Tuổi thành niên của Vũ Đức Sao Biển gắn bó với Sài Gòn và miền Nam. Nay hồi tưởng lại từ buổi đầu chân ướt chân ráo bước đến đô thị vốn là hòn ngọc viễn đông, thấy quả nhiên cảm nhận của tác giả là chân thực: Người Sài Gòn hiếu khách và rất nhiệt tình chỉ đường cho những ai lạc lối. Chỉ một nét sơ giao, mà tác giả khái quát được cả một niềm tin gắn bó về sau được định hình không sai lạc.

Không nhằm viết về sống đẹp, nhưng qua câu chuyện giao tế, làm nghề, tiếp bạn, theo thầy… tác giả khéo léo làm lộ ra nét đẹp của đất và người miền Nam. Thật đáng quý là Vũ Đức Sao Biển đã có một chặng đời hoạt động sôi nổi tại vùng đô thị lớn nhất thời trước 1975 với đời sống văn nghệ, xã hội và cả chính trị cũng cực kỳ phong phú, nên giờ đây trở thành chất liệu dồi dào cho trang viết.

Chỉ riêng các nhân vật ông từng tiếp xúc, nay được kể lại ở cự ly gần, có thể xem là những sử liệu về nhân vật mà giới nghiên cứu đời nay không dễ tìm thấy được.

Như câu chuyện ông kết giao với nhà văn Lê Tất Điều trong buổi đầu chập chững học nghề báo, hay những kỷ niệm với người thầy, học giả Giản Chi với những lời giảng về Hán văn, bút thiếp gợi lại phong khí cổ nhã thời xưa.

Rồi câu chuyện Mậu thân 1968, chuyện phong trào sinh viên trước 1975 vắt qua câu chuyện làm báo làm nhạc sau 1975… Tất cả được tác giả xếp vào dòng hồi ức gọi tên là cách sống đẹp của miền Nam. Dẫu chỉ là một góc nhìn riêng của tác giả, nhưng rất đáng để chia sẻ, cảm thông. Những trang viết này cũng có thể là chất men gợi hứng để những cây bút về sau tiếp tục mạch cảm xúc của mình với đất và người Sài Gòn chỉ nói riêng trong hai chữ “sống đẹp”

LAM ĐIỀN

Ảnh: L.Điền

Thế giới kín bưng và quê hương diệu vợi của Khương Hà

Tập thơ do Phục Hưng books và NXB Đà nẵng liên kết xuất bản – Ảnh: L.ĐIỀN

Một tập thơ vừa trình làng, của cây bút trẻ Khương Hà, với nhan đề nói lên nhiều phần cái khẩu khí riêng có của tác giả: Những rời và rạc.

Sở dĩ phải đặt vấn đề khẩu khí ở đây, do lẽ Khương Hà không chỉ trong thơ mà cả trong mối giao hảo thù tiếp bạn bè cũng sớm bộc lộ một khẩu khí riêng.

Khẩu khí, chính là một khởi sự cần thiết cho thơ vậy.

Và điều may mắn kèm theo là không chỉ khẩu khí, cách diễn đạt ngay từ nhan đề đã hé lộ khả năng chủ động kiểm soát ngôn từ của tác giả. “Những rời và rạc”, với Khương Hà, đây không còn là một kiểu chẻ chữ rời + và + rạc nữa, mà kỳ thực là: “rời rạc” phải bị chữ “và” chen ngang như vậy mới thật là rời rạc; nhưng lập tức hệ quả phát sinh: tại sao lại là chữ “và” ở đây? Phải chăng “rời” nối với “rạc” bằng “và” như vậy mới không phải là rời rạc?

Chính khả năng kiểm soát ngôn từ đã khiến cho Khương Hà tạo dựng một không gian kín bưng và rồi trong đó tất thảy mọi suy tư tung tẩy cũng như chiêm nghiệm tưởng tượng kèm với thả lỏng tâm hồn xem thử có điên không… bỗng dưng làm thành thế giới thơ của Khương Hà.

Hồi nhỏ tôi từng đọc trên một tạp chí uy tín bài viết của một người kể chuyện cha mình. Cha ông là một người đáng kính với cuộc đời trải từ thời Cần vương đến Đông kinh nghĩa thục. Người cha ấy dặn con – tác giả bài viết ấy – một câu gan ruột: “Mi là người chuộng văn chương phơi ruột phơi gan, mi tuyệt nhiên không được luận bàn đến chính trị”. Đọc và nhớ mãi lời dặn ấy, lớn lên tôi lại thấy băn khoăn khi hầu hết những nhà chính trị ở xứ này đều… chuộng văn chương. Thế thì lời dặn ấy có gì sai hay sao. Lớn lên nữa, mới kịp nhận ra chỗ mình chưa hiểu. Đó không phải là văn chương không hợp với chính trị, mà văn chương chính là chỗ làm cho người ta “phơi ruột phơi gan”, chính cái sự “phơi ruột phơi gan” này mới là nên tránh xa chính trị.

Bây giờ tôi nghĩ, có lẽ người cha khả kính kia chưa đọc thơ [như của] Khương Hà. Bởi chỉ cần đọc Những rời và rạc, chí ít người ta sẽ không gắn văn chương với “phơi ruột phơi gan” được. Tất nhiên qua ngần ấy câu chữ trải trên gần 200 trang sách, người ta đều thấy cảm xúc trong từng cấu tứ, nhịp điệu ngôn từ; thấy tình người ấm lạnh qua nhãn quan ráo hoảnh sau khi nước mắt chảy ngược hết vào trong; thấy rờn rợn nỗi hoang vu chẳng hiểu sao lại đi cặp với quê nhà; thấy tác giả tỉnh táo đem cái tôi của mình ra thử nghiệm cho nhiều pha va đập với đời để rồi không ít lần đau ngất đi chỉ vì thương cái tôi của mình quá…

Và rõ nhất là thấy tâm sự của tác giả với Sài Gòn, ở đó có bạn bè, có KD, có những người từng không chỉ là một phần của cảm xúc trên hành trình “lọc từ thế giới xung quanh để thấy rõ mình hơn”.

Ấy vậy mà cả một thế giới thơ Khương Hà vẫn kín như bưng. Cảm giác như tác giả đã từ chỗ kiểm soát ngôn từ tinh diệu chuyển thành mã hóa tâm sự bằng câu chữ. Điều này mang lại cho người đọc một thú vị pha chút căng thẳng: Đây, tất cả là chữ, nhưng thông điệp là gì tùy thuộc vào công việc giải mã của anh. Tác giả lui ra, không đưa cho chìa khóa mà chỉ mìm cười hiền hiền, như trong buổi ra mắt thơ vừa qua Khương Hà cũng mỉm cười hiền hiền như vậy. Nhưng đừng nghĩ cách thế ấy kém phần thi vị, bởi với thơ, nhiều khi chỉ cần giao nhau bằng cảm xúc là đủ. Chẳng hạn như trong tập thơ này, có đoạn ngọt ngào trau chuốt như Đường thi: “Đâu đó trên đỉnh đồi kia/ con chim nhạn cùng đường/ lao vào mưa/ không biết mình đã chết”; hay như nấc nghẹn khi nhắc đến Sài Gòn: “đây là Sài Gòn, Sài Gòn/ nơi tất cả cơn mộng tan đi/ chỉ còn lại linh hồn em/ khốn khổ và lưu vong…”, những “bản mã” như vậy chỉ cần cảm nhận là đủ phần tâm đắc.

Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng chia sẻ một nhận định sau khi đọc Những rời và rạc, rằng thơ Khương Hà “như cuộc tìm tòi về quê nhà sâu xa của mình, đó là một hành trình cô đơn, và quê nhà tối hậu ấy không phải ở đây, không phải thế giới này, mà như một cõi giới nào để từ đó nhà thơ đi lạc đến đây”.

Cũng có thể, biết đâu hành trình ấy lại mang tiếp đến cho chúng ta vài tập thơ nữa.

Lam Điền

Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng và tác giả Khương Hà tại buổi ra mắt tập thơ Những rời và rạc – Ảnh: L.ĐIỀN

Già Lam một sớm trà

Bước bộ mười năm còn bí mật
Bể dâu mấy độ xóa tang bồng
Quảng hương trà tỏa vào hư thật
Song ngoại vàng lên phải nắng không.

15-11-2019
Lam Điền

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.