Truyện bà Liễu Hạnh(*)

[Hôm trước lục báo xưa bắt gặp bài của Thượng Tân Thị viết về bà chúa Liễu Hạnh, chụp hình post lên FB, nhưng hình nhỏ chữ mờ, xem qua biết có cái bài nhưng đọc thì không được. Nay bèn gõ lại thành bản text để bằng hữu đọc chơi cho biết. Bài này in 2 kỳ liên tiếp trên tuần báo Tân Văn, là tờ báo lớn phát hành ở Nam Kỳ hồi 193x. Tác giả Thượng Tân Thị là cây bút nổi tiếng, lại viết về câu chuyện ở Bắc kỳ, cũng là lạ vậy.]

Kỳ 1: trên báo Tân Văn, số ra ngày 13 Avril 1935:

Một sự tích nước nhà: Bà Liễu Hạnh công chúa

Nhơn thấy trong báo “Ngày Nay” số 5 ra ngày 10 Mars 1935, nơi bài Đánh cá Hồ Tây, có một câu hỏi: “Tại làm sao đức Liễu Hạnh công chúa lại có miễu thờ ở Hồ Tây được?” Nên tôi xin thuật ra đây cho ông Việt Sinh là tác giả bài ấy rõ và cũng luôn dịp cống hiến cho quý độc giả “Tân Văn” rõ biết nước ta cũng có một vị con gái hiển thánh rất phi thường mà hiện nay từ phía bắc xứ Trung kỳ trở ra còn sùng bái lắm vậy. Tôi còn nhớ hồi nhỏ, tôi có đi dự hội đền Sòng (Thuộc phủ Hà Trung tỉnh Thanh Hóa) có gặp một ông kỳ lão đưa bổn sự tích của bà Liễu Hạnh (chép bằng chữ Hán) cho tôi xem, nhưng tiếc vì hồi đó lộ đồ, tôi không có giờ rảnh mà chép lại bổn sự tích ấy, tôi chỉ coi qua một bận rồi trả lại cho ông. Thế mà đến bây giờ tôi cũng còn nhớ được gần hết, chỉ quên ít bài thi mà thôi.

Bà Liễu Hạnh họ Lê, người huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Bắc kỳ, cha mẹ bà ăn ở nhơn đức, kết bạn với nhau đã lâu năm mà không có con, mãi đến sau mới sanh được một mình bà. (Trong truyện chép: bữa tối sanh bà thì có hào quang sáng cả trong ngoài và mùi thơm lạ bay đầy nhà) cha mẹ bà thấy sự khác thường thì sợ, bèn đem bà cho ông bạn là Trần Công nuôi làm con nuôi. Ngày bữa ấy ở ngoài vườn Trần Công cũng có ai đem bỏ một đứa con trai mới đẻ ở dưới gốc cây đào, Trần Công đem về nuôi luôn và đặt tên là Đào Lang.

Khi bà Liễu Hạnh và Đào Lang lên được 7, 8 tuổi thì Trần Công cho đi học, hai người đều học giỏi cả, sau Đào Lang thi đỗ tú tài. Đến khi khôn lớn thì Trần Công lại đứng làm chủ hôn cho hai người kết làm vợ chồng với nhau. (Nguyên bà Liễu Hạnh là ngọc nữ, Đào Lang là kim đồng, hầu ở trên Tây cung vương mẫu, vì làm bể cái chén ngọc, mà phải đày xuống trần gian một ít năm). Được hơn một năm, thì bà có sanh hạ một người con trai, kế bà lâm bệnh từ trần. Khi bà gần nhắm mắt, thì bà có nói với chồng, trong mười bảy năm nữa, thì vợ chồng lại gặp nhau.

Bà mất rồi, Đào Lang buồn rầu, có làm lắm bài thi thiệt hay, tôi còn nhớ được một bài:

Man man nguyệt sắc như tiền độ
Nguyệt sắc bất tri nhơn tứ khổ
Tảo thức tiên nhơn dị biệt ly
Đương niên mạc nhập thiên thai lộ
.

(Sắc trăng mờ tỏ như hồi trước
Nỗi khổ người, trăng khôn thấu được
Sớm biết người tiên dễ biệt ly
Thiên thai năm đó không lần bước).

Vài tháng sau, Đào Lang rầu buồn quá cũng chết, chàng đầu thai làm con trai của một nhà ở trong Nghệ An.

Đây nói về bà Liễu Hạnh khi mất rồi thì biến hóa ở núi Bỉm (Bỉm Sơn) làm cô gái bán quán (con đường trong Nam ra Bắc phải đi ngang qua đó) ai thấy bà đẹp mà chọc ghẹo, thì phải đau ốm, đem lễ vật mà khấn vái thì lành mạnh liền.

Bà nhơn đó có tiền bạc đem về cung cấp cho cha mẹ ruột bà (vì lúc đó cha mẹ bà nghèo lắm) mà đáp nghĩa sanh thành, đến chừng cha mẹ bà mất rồi bà mới thôi cung cấp.Sau bà lại hiện ở trên khu rừng Lạng Sơn (đâu như ở Đồng Đăng thì phải) bữa kia ông Phùng Khắc Khoan (làm quan triều Lê) đi sứ Tàu, ngang qua đó, thấy trong rừng có một con gái ngồi thiệt đẹp, thì ông đọc lên rằng:

Tam mộc sâm đình tọa trước hảo hề nữ tử;

Chữ “tam mộc” nhập lại là chữ “sâm”, chữ nữ chữ tử nhập lại là chữ hảo. Ý ông nói ba cây mọc ở sân sum sê, có một người con gái ngồi thiệt đẹp.

Bà liền ứng khẩu đáp lại: Trùng sơn xuất lộ, tẩu sai sứ giả lại nhơn. Chữ trùng nghĩa là lần cũng như hai, hai chữ sơn nhập lại thành chữ xuất, chữ “lại nhơn” nhập lại thành chữ sứ. Ý bà nói: đường ra trong lầu núi có một ông quan sứ đi qua là kẻ lại. Ông Phùng nghe đọc xong câu đối ấy, thì ông biết bà là người thiên tài, bèn xuống ngựa đi đến chỗ ấy mà tìm, thì bà biến đi đâu mất, ông Phùng ghi nhớ chỗ ấy, rồi nói với quan trấn Lạng Sơn lập miễu thờ bà.

Phong dao ngoài bắc có câu:

Ai lên phố các Đại Đồng
Hỏi thăm cô tú có chồng hay chưa?

Thì chắc cũng là tích nầy.

Khi ông Phùng đi sứ Tàu về, ông tự nghĩ: hồi nào ông ở bên Tàu, nay đi chơi hồ Động Đình, mai đi chơi chầm Bành Trạch, nào lầu Hoàng Hạc, nào Cát Tình Xuyên, bao nhiêu danh sơn thắng tích bên Trung Quốc, đều thâu vào trong con mắt ông cả. Bây giờ về triều, việc quan ràng buộc trăm bề, thật là khó chịu, ông bèn rủ hai ông bạn là Lý cử nhơn và Ngô tú tài đi chơi Hồ Tây cho thư thả.

Linh đinh mặt nước một chiếc thuyền nan
Lấp nhấp lưng hồ vài con sóng lượn.

Thuyền chèo ra gần giữa hồ bỗng thấy trước mặt có một tòa lâu các nguy nga (chư độc giả có biết nhà của ai không? Chính là của bà Liễu Hạnh hiện ra vậy). Ông Phùng bèn biểu ghé thuyền lại đó, ba ông đồng bước lên bờ rảo xem thấy trước cửa ngõ đề một đôi liễn:

Hồ trung nhàn nhựt nguyệt
Thành ngoại tiểu càn khôn.

Ba ông thì thầm với nhau, đây chắc là chỗ danh gia vọng tộc, chớ chẳng phải chỗ tầm thường, chúng ta sẽ xin phép vào chơi cho biết. Thì có một nàng thế nữ ở trong cửa đi ra, ba ông đón hỏi: Chúng tôi là kẻ trần khách, lạc bước tới đây, muốn vào xem chốn cung tiên, chẳng biết có được hay không? Thế nữ nói: Để tôi vào thưa với bà tôi xem. Một lát thế nữ ra nói: Bà tôi kỉnh mời quí khách vào.

Ba ông khăn áo chỉnh tề, theo thế nữ từ ngoài đi vô, thấy đền đài lộng lẫy thì trong lòng hồi hộp như đến chỗ cung cấm vậy. Đến nhà khách, thế nữ mời ba ông ngồi đó, rồi đi vô nhà trong, bẩm cho bà hay, bà ra chào khách, mùi huê thơm ngát, khiến cho ba ông ngơ ngẩn tâm thần, mà nhứt là Ngô tú tài thấy sắc đẹp của bà thì lại càng mê mẩn hơn nữa.

Chủ khách ngồi đối mặt nhau uống trà nói chuyện, lời lẽ ôn tồn văn chương lưu loát, thì lấy làm tâm đắc với nhau lắm. Bà nói tôi muốn vịnh bài trường thiên tả cảnh Tây hồ chơi, mà một mình tôi làm không vui, nay có ba ông đây, chúng ta mỗi người cứ liên tiếp nhau xướng một câu cho thành bài, thì chắc là hay lắm. Ba ông đồng thanh nói được, xin bà xướng lên trước đi, rồi anh em tôi tiếp sau.

Bà xướng:
Tây hồ biệt chiếm nhứt hồ thiên (Bầu trời riêng chiếm một Hồ tây);
Ông trạng Phùng:
Túng mục càn khôn tận khóa nhiên (Buông mắt càn khôn rộng thế nầy);
Ông cử Lý:
Cổ thọ viễn trang thanh tịch tịch (Cây cỏ lặng xa màu lục sậm);
Ông tú Ngô:
Kim ngưu khoát bộ lục quyên quyên (Trâu vàng dấu đậm nước xanh đầy);

Ba ông sính nghề thơ cứ chuyền lao nhau đọc một hơi đến năm sáu chục câu không dứt.

[Hết kỳ 1
Thượng Tân Thị]

Kỳ 2: trên báo Tân Văn số ra ngày 20 Avril 1935:

Một sự tích nước nhà: Bà Liễu Hạnh công chúa (tiếp theo và hết)

Bà ngồi yên để nghe ba ông đọc, chừng đến câu chót hết, ba ông đã đuối hơi, bà mới chen vô được một câu nữa là:

Đắc nguyệt phương tri ngã thị tiên” – Được trăng mới rõ thiếp tiên đây,

Bài thi nầy dài lắm, tôi chỉ nhớ được có năm câu thôi.Trời xế có một ông chài đem ba con cá vào nói: “Bữa nay bà có khách quí, tôi đem biếu ba con cá ngon để làm gỏi nhậu chơi một bữa”, bà gật đầu rồi biểu treo ở mái hiên, ông chài bước ra, bà biểu thế nữ đem cá ra nhà sau làm gỏi nhắm rượu. Chẳng bao lâu gỏi dọn ra, bà mời ba ông khách uống rượu, và bà nói: “Chẳng mấy khi có ba ông, đến chơi mà lại được cá ngon làm gỏi thì quý lắm. Vậy tôi nghĩ vụng một câu đối, xin ba ông vừa uống rượu vừa đối chơi, ấy cũng là một điều phụ ích vậy.

Bà đọc:“Tam ngư thiên khoái, lâu trung hội ẩm chúng tam nhơn”,

Ba chữ “ngư” nhập lại thành chữ thiên, chữ ngư chữ hội nhập lại thành chữ khoái là gỏi, chữ chúng có ba chữ nhơn là người. Ý bà nói có ba con cá làm gỏi ngon, trong lần nhóm lại ba người khách đông.

Ba ông vừa nhắm vừa nghĩ, tiệc gần tàn, trời gần tối, mà không ra, tính đành phải chịu thua bà. Nhưng thời may, vừa trăng ló giọi, lóng lánh mặt hồ, khiến cho ông trạng Phùng nảy tứ ra mà đối đặng:

Ông Phùng đối:

Lưỡng cá trúc diên, hồ thượng diên bằng khan lưỡng nguyệt”,

Hai chữ “cá” nhập lại thành chữ “trúc”, chữ trúc chữ diên nhập lại thành chữ diên là tiệc, chữ bằng có hai chữ nguyệt là mặt trăng. Ý ông Phùng nói hai cái ghế tiệc bằng tre, trên hồ với bạn ngồi xem hai mặt trăng.

Bà khen câu đối hay, và ông cử Lý, ông tú Ngô cũng chịu ông Phùng là bực đại tài.Trời đã khuya, trăng đã xế, ba ông cáo từ ra về, mà trong trí cứ mơ tưởng về dung nhan và cách điệu của một người con gái như tiên nga thuở nay chưa từng thấy bao giờ. Ông Phùng, ông Lý là bực lão thành, còn đè nén cái dục vọng xuống được, thì chẳng nói làm chi, chớ còn ông Ngô trẻ trung, hễ thấy sắc tốt, thì cái dục vọng phừng lên như lửa dậy, không thể đè được. Bởi vậy về nhà chưa được mấy ngày thì lại nhớ cảnh Hồ Tây hôm trước, ông Ngô bèn lót tót, đến rủ ông Lý, ông Phùng đi chơi nữa.

Nhưng chuyến nầy đi Hồ Tây thì chỉ thấy:

Lầu đài ẩn ở nơi nao
Đầy hồ sen nở ngạt ngào gió Nam

Ba ông đứng ở trên thuyền nhìn một hồi lâu không thấy chi hết, rồi quày trở về. Ông Phùng nhớ suy nghĩ mới nhớ lại hồi ông đi sứ Tàu có gặp một người con gái như thế, thì đây chắc cũng là người đó. Ông bèn thuật lại cho hai ông kia hay và cũng giải được lòng khao khát của ông Ngô. Sau ông Phùng có lập miếu thờ bà ở đó.

Bà Liễu Hạnh có hẹn với người chồng trước là Đào lang trong mười bảy năm nữa thì lại gặp nhau, nay Đào lang đầu thai ở Nghệ An đã được mười bảy năm rồi, nên bà phải lo về đó, đặng có vầy duyên cá nước.

Bà từ biệt Tây Hồ về Nghệ An, bà lựa chỗ mà người chồng trước của bà thường hay qua lại đi học, bà cất một cái quán bán bánh nước.Đây nói Đào lang đầu thai làm con trai nhà họ… ở Nghệ An, nhưng sanh ra được 5, 6 tuổi thì mồ côi cha mẹ, ở với chú nuôi cho ăn đi học, đến năm chàng 17 tuổi, học hành đã giỏi, thường bữa chàng đi học ngang trước quán thấy có người con gái đẹp, thì phải lòng mà không dám nói ra. Bà Liễu Hạnh biết ý mới làm thơ ghẹo chàng, dán ở gốc cây gần bên quán, mà tôi nhớ được hai câu:

Lệ chất thiên sanh bất giả tài
Phương tâm trinh thủ kỷ niên lai

(Chất tốt trời sanh chặng mượn trồng
Lòng trinh bền giữ bấy nhiêu đông)

Chàng xem thơ có họa lại, tôi không nhớ được hết, tôi chỉ nhớ có một bài nầy là bài chót. Khi chàng họa thi đem dán ở gốc cây kế bên bài thi của bà Liễu Hạnh, rồi đêm ấy trời [mưa] lớn, chàng lo sợ không [biết] bài thi của chàng họa mà bà có xem được không, hay là mưa trôi mất. Sáng ngày chàng dậy sớm đi ra xem, thì hãy còn y nguyên, mà lại có bài thi khác của bà họa, cũng dán bên đó, chàng mừng, bèn làm ra bài thi nầy mà tự thuật:

Vạn chưởng tương tư trấn nhựt tài
Tầm phương nhẫn phụ thử phiên lai
Sổ hàng cẩm tự nhơn như kiến
Nhứt trận thanh phong hoa chánh khai
Thùy cố trùng mong quân hữu ý
Khiên kỳ thác hận ngã vô môi
Vu ta kỳ ngộ thành ô hữu
Sầu hải man man diếu độ bôi.

(Trồng bóng nhựt tương tư muôn giống
Dạo tầm phương lại ngóng phen này
Vài hàng chữ gấm người hay
Gió thanh một trận chính rày nở hoa
Lòng xũ đoái nàng đà chẳng đổi
Giận không mai ta lỗi hẹn hò
Than ôi kỳ ngộ ở mô
Biển sầu mờ mịt nhấp nhô chén nồng).

Bà Liễu Hạnh có họa lại mà tôi còn nhớ một câu thúc kết: “Mạc oán thiên đình trụy ngọc bôi” (Chớ oán thiên đình chén ngọc rơi). Chàng xem câu nầy không hiểu ý bà nói cái gì, mãi sau nầy bà nói lại mới hiểu.

Ngày kia, chàng đi học về, bà Liễu Hạnh đón mời chàng vô quán, bà nói: “Tôi biết chàng có lòng tưởng đoái đến tôi mà giữ lễ phép không dám nói, nếu tôi cũng làm lơ, thì tội nghiệp cho cái thân sầu não của chàng. Nên tôi có làm thơ tỏ ý cho chàng biết, chàng họa lại nhiều bài cảm động, khiến cho lòng tôi cám cảnh thương chàng. Ấy vậy hôm nay là cái ngày kết tóc trăm năm của đôi ta, xin chàng về thưa lại cho ông chú hay, rồi tôi sẽ về ở với chàng mà lo việc tề gia nội trợ”.

Cách vài tháng sau, thì cái quán bên đường biến đi đâu mất, mà trong nhà của chàng Đào Lang kiếp trước lại có cái bóng bà Liễu Hạnh vào ra. Bà ở với chồng đâu được vài năm rồi bà lại chết. Ngày bà chết bà có nhắc tích lại cho chồng hay và chuyến nầy bà hiển thánh luôn không hiện hình như trước nữa.

T. T. T.

(*) chữ trong ngoặc vuông […] trong bài là của facebooker này thêm vô, vì e báo in bị lỗi rớt chữ.

Văn hóa Việt cần người Việt thật tâm thật lòng thay đổi

Nhà báo Lê Minh Quốc trong một lần giới thiệu sách tại Đường sách TP.HCM – Ảnh: L. ĐIỀN

Nhà báo Lê Minh Quốc dành hơn 20 năm để theo đuổi đề tài khảo cứu về các cá nhân có ảnh hưởng trong lịch sử Việt Nam, kết quả là tập sách Dấu ấn khơi dòng văn hóa Việt vừa ra mắt bạn đọc.

Vai trò đóng góp của các danh nhân là một phần trong lịch sử, đến nay, nhiều vấn đề thuộc văn hóa vẫn còn chưa ổn, nhất là không gian văn hóa ứng xử và các chiến lược xây dựng con người, giáo dục công dân… Tác giả Lê Minh Quốc dành cho Tuổi Trẻ một cuộc trao đổi.

Người Việt dám làm

Tuổi Trẻ: Nếu tính từ loạt sách Kể chuyện danh nhân Việt Nam hồi năm 1998 có giá trị như một nền tảng để quyển sách Dấu ấn khơi dòng văn hóa Việt được biên soạn và ra mắt bây giờ, ông đã có hơn hai mươi năm theo đuổi đề tài về các cá nhân nổi bật trong sử Việt, ông tâm đắc điều gì nhất từ hành trạng, công đức của các vị danh nhân này?.

Lê Minh Quốc: Tinh hoa của một dân tộc, nhìn từ những con người cụ thể, dân tộc nào cũng có và thời nào cũng có. Điều này thể hiện qua công nghiệp của họ để lại cho cộng đồng đương thời và có tầm ảnh hưởng mãi đến đời sau. Khi khảo sát về các danh nhân của non sông nước Việt, có đặc điểm chung khiến tôi vô cùng ngưỡng mộ: dám làm. Một khi nhìn thấy sự vật, sự việc nào đó đã cản trở bước đường tiến hóa của dân tộc, họ sẵn sàng đương đầu chống chọi; và thực hiện thay đổi cho bằng được. Muốn như thế, cần trang bị nhiều đức tính, tùy lãnh vực mà các danh nhân có thể hiện khác nhau nhưng trước hết việc làm đó không xuất phát từ danh và lại càng không phải vì lợi. Mà, mục tiêu của họ có điểm chung vẫn là vì lợi ích của cộng đồng, lấy đó làm mục tiêu cao nhất.

Nếu chỉ chăm bẵm vì lợi, sức mấy mà các ông Trần Chánh Chiếu, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà… dám bỏ đồng lương làm thuê đang được chủ trả cao ngất ngưỡng để lao vào công việc đang đeo đuổi, dù chưa biết sẽ thế nào. Nếu vì lợi, sức mấy các ông Đỗ Xuân Hợp, Tôn Thất Tùng… dám bỏ cả cơ ngơi, tài sản tại Hà Nội; các ông Đặng Văn Ngữ, Trần Đại Nghĩa… dám trở về nước để đi theo tiếng gọi hào hùng của cuộc kháng chiến. Nếu vì lợi, sức mấy ông Phạm Ngọc Thạch lúc chế tạo thuốc Tây, trước khi sử dụng cho người khác đã dám thể nghiệm trên thân thể của mình. “Ta chế tạo thuốc là để phục vụ con người, chứ không gì vì các gì khác”, câu nói của ông, đã cho thấy tấm lòng “Thương người như thể thương thân” được nhiều thế hệ bác sĩ nước nhà học tập từ các bậc thánh y Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác…

Tại sao tôi tâm đắc với đức tính này?

Xin thưa, thời gian gần đây tôi chú ý đến một chương trình phát sóng trên truyền hình. Rằng, các bạn trẻ khởi nghiệp trình bày công việc của họ để kêu gọi các doanh nhân, doanh nghiệp đầu tư góp vốn, hầu hết tôi thấy họ chỉ trình bày vấn đề là sẽ dẫn đến lợi nhuận như thế nào? Điều này không sai, thậm chí còn khuyến khích, thế nhưng mọi người sẽ thiện cảm hơn, nếu họ cho biết công việc đó có tính chất tiên phong, mới mẽ đó ra làm sao; và cộng đồng sẽ hưởng lợi ích gì từ công việc đó của họ. Ở các danh nhân đi trước, tôi nhận thấy yếu tố “mình vì mọi người” rất rõ nét. Nhờ thế, họ không những đạt đến lợi mà còn được cộng đồng ủng hộ, được đời sau ngưỡng mộ.

Với chiều dài và bề dày văn hóa Việt, các cá nhân trong mỗi thời với nỗ lực của mình có tác dụng “khơi dòng” như cách ghi nhận của ông là một điều thú vị, nhưng sau khi khơi dòng chắc chắn cần phải làm một số việc nữa để cái dòng vừa được khơi ấy có sức mạnh và lưu lượng chảy được xa, rộng, và bền vững… Ở góc độ này, ông thấy được từ lịch sử của chúng ta thế nào?


– Một dòng chảy đã được khơi lên, nó “có sức mạnh và lưu lượng chảy được xa, rộng, và bền vững” hay không, còn tùy thuộc vào yếu tố “khơi dòng” có đúng hướng, có thật sự là mối quan tâm của cộng đồng hay không? Với các cột mốc văn hóa có tính cách tiên phong như tân nhạc, thơ mới, kịch nghệ, xiếc, cải lương… trải theo năm tháng đã xum xuê trái, đạt nhiều thành tựu rất đáng kể. Sở dĩ như thế, vì thế hệ đương thời lẫn thế hệ sau đã cùng chung vai góp sức từ công việc khơi dòng của người đi trước. Yếu tố này rất quan trọng, nếu không sẽ rơi vào quên lãng.

Với dấu ấn cải tạo, mở mang kênh rạch ở miền Nam đầu thế kỷ XIX với vai trò của ông Thoại Ngọc Hầu cũng là một thí dụ sinh động. Từ kênh Vĩnh Tế mà tiền nhân đã để lại cho muôn đời sau, từ thập niên 1990, ta đã có thêm các kênh T4, T5, T6 “chia lửa” với nước lũ từ sông Hậu đổ vào Vĩnh Tế để trở thành một dòng chảy tràn trề sức sống trên vùng đất phương Nam. Khi dòng kênh T5 có quy mô lớn nhất, có tính cách quyết định dược nhân dân tôn vinh là “kênh Võ Văn Kiệt”, há chẳng phải ước mơ khơi dòng đầu tiên của người xưa, thế hệ sau đã nối bước thực hiện đấy sao?

Vẫn loay hoay?

Về việc khơi dòng, ở ta có tình trạng đời trước khơi ra rồi đời sau để cho ách tắc và lại loay hoay khơi các dòng khác, cứ như thế mãi…?

Trong hiểu biết ít ỏi của mình, tôi cảm thấy đáng tiếc nhất vẫn là lãnh vực giáo dục. Đầu thế kỷ XX, các nhà nho cấp tiến như Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Võ Hoành, Hoàng Tăng Bí v.v… đã dấy lên phong trào Duy tân, đã góp công góp sức thực hiện, phổ biến rộng rãi mô hình giáo dục mới, hoàn toàn mới và cách mạng: Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Mô hình này, đã được các nhà Duy tân tổ chức tại nhiều địa phương như luồng ánh sáng mới trong công cuộc khai tâm, khai trí.

Vậy, tính cách tiên phong của mô hình giáo dục này hướng đến là gì? Xin thưa, học là thực học, kể cả học nghề. Học là để làm người. Học là để làm giàu trong xu hướng “dân giàu nước mạnh”. Quan điểm mới mẽ này nhằm thay đổi suy nghĩ đã tồn tại hàng ngàn năm: Học để thi cử, để tiến thân bằng cách ra làm quan. Không chỉ có lợi cho mình mà còn “vẻ vang” cho cả dòng tộc: “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Việc học chỉ trói buộc trong một mục đích hạn hẹp, đáng buồn quá đi chứ? Thay vào đó, tiền nhân đã khơi dòng nhằm thay đổi một mục tiêu của giáo dục như vừa nêu, tiếc thay cho đến nay não trạng cũ kỹ, lạc hậu trên vẫn chưa giải quyết một cách quyết liệt, triệt để.

Nhìn qua lãnh vực kinh tế, từ mô hình tập đoàn kinh tế đầu tiên ở miền Nam do ông Trần Chánh Chiếu cùng các cộng sự trong phong trào Minh Tân đã khởi xướng, nhìn lại, nay ta thấy gì? Theo tôi, các bậc danh nhân nói chung khi lao vào thương trường, dám đương đầu cạnh tranh với ngoại bang, còn nhằm đạt đến việc giáo dục người dân thay đổi quan niệm đã lỗi thời, lạc hậu trước đây: buôn bán là việc thấp kém, không đáng coi trọng. Chẳng hạn, Hoàng giáp Trần Danh Án (1754- 1794), trong thư gửi cho con có khuyên: “Người ta nuôi được thân thể, nuôi được vợ con không đến nỗi đói rét khổ sở là phải có phương pháp: đọc sách, thi đỗ, yên hưởng lộc trời là bậc nhất; cày cấy mà ăn, cần kiệm để lập cơ nghiệp là bậc thứ hai; làm thầy thuốc, thầy cúng, nghề thợ, nghề buôn, được người ta nuôi mình là bậc thứ ba”.  Quan niệm này nay đã thay đổi, nhưng ý thức muốn buôn bán lớn, muốn thành công thì phải đồng tâm hiệp lực huy động sức mạnh từ tiền của đến tài trí của người Việt để tạo nên những tập đoàn kinh tế lớn, có tầm vóc do chính người Việt làm chủ, và phát triển lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên thương hiệu có uy tín chứ không theo lối “ăn xổi ở thì”… nay vẫn đang loay hoay.

Bên cạnh hành trạng của các danh nhân Việt, ông thấy vai trò của giới cầm quyền mỗi thời đóng góp vào việc “khơi dòng văn hóa” là như thế nào?

– Thời đại nào cũng thế, nếu việc làm vì lợi ích chung của cá nhân, tập thể được nhà cầm quyền hỗ trợ thì cũng là một yếu tố thuận lợi. Nếu vua Gia Long, Minh Mạng không khuyến khích, không có chính sách đãi ngộ cụ thể, không tuyên dương công trạng kịp thời liệu các ông Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Hữu Thận, Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh… có hoàn thành xuất sắc khát vọng và vai trò tiên phong của mình? Nếu Toàn quyền Đông Dương không đồng thuận, liệu họa sĩ Tadieu và Nam Sơn có mở được trường mỹ thuật dạy vẽ theo lối phương Tây? Nếu chính quyền Pháp gây khó khăn, liệu chừng ông Nguyễn Văn Tuyên có thể đi từ Nam chí Bắc cổ xúy cho tân nhạc? Sau này, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, có một điều không thể không nhắc đến, đó là sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho các bậc trí thức khi họ tiến hành nghiên cứu, chế tạo vũ khí, thuốc men… mà trước đó người Việt chưa biết đến.

Nghĩ cho cùng, vai trò của giới cầm quyền đã có tác động, đóng góp nhất định cho các việc làm tiên phong đó. Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, nói như thế vì ta đừng quên, chính nhà cầm quyền Pháp không chỉ bóp chết Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy tân… mà còn ban hành chính sách khắc nghiệt, dùng mọi thủ doạn nhằm đánh gục các nhà tư sản Việt Nam đến chỗ phá sản, chẳng hạn, các công sở có lúc không được sử dụng sơn do ông Nguyễn Sơn Hà sản xuất v.v…

Nhìn nhận và thật tâm

Kết nối từ lịch sử đến hiện tại, theo ông, ngày nay văn hóa chúng ta có gì cần phải khơi thêm hoặc còn những việc nào cần làm tiếp để dòng chảy ấy được sâu rộng và bền vững?

– Trước đây, trong vai trò khơi dòng văn hóa Việt, sở dĩ ông cha ta thành công vì khi tiếp nhận, tiếp thu giá trị văn hóa mới là bao giờ cũng chọn lọc, cải tiến, nâng cao những gì mình đã có; nếu chưa có thì làm theo nhưng vận dụng phù hợp với tâm lý, tính cách của dân tộc mình, tùy vào điều kiện thực tế. Nhìn rộng ra, văn hóa là một tiến trình vận động, một dòng chảy liên tục mà biểu hiện sinh động nhất theo tôi vẫn là nếp sống, phép ứng xử hàng ngày của dân tộc đó với nhau và với các dân tộc khác. Và bất kỳ dân tộc nào cũng có lòng tự hào về dân tộc mình, điều này rất chính đáng nhưng vẫn chưa đủ.

Đã từ lâu, tôi rất thích đọc tạp văn của văn hào Lỗ Tấn, bởi lẽ với tâm thế chiến đấu không khoan nhượng, ông đã sử dụng ngòi bút như ngọn roi tiên phong quất vào thói hư tật xấu của người Trung Quốc. Thái độ cách mạng quyết liệt ấy là nhằm dẫn đến một sự thức tỉnh. Dân tộc nào cũng có sự hạn chế, khiếm khuyết, khuyết tật ngay từ trong tính cách, nếp nghĩ. Dân tộc Việt không là ngoại lệ, vì lẽ đó, đầu thế kỷ XX khi nước mất nhà tan, ngọn gió văn minh phương Tây tràn vào nước ta xốc tung mọi nề nếp đã định hình trước đó hàng ngàn năm, bấy giờ, các nhà Nho cấp tiến đã giật mình đau đáu cùng vận mệnh nước nhà. Một trong trong những mối quan tâm hàng đầu của các cụ khi đứng trong đội ngũ của phong trào Duy tân vẫn là tinh thần: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Muốn có được sự “lột xác” đó, trước hết phải dũng cảm nhìn nhận lại thói hư tật xấu của dân tộc mình. Có như thế mới dẫn đến sự thay đổi, sửa chữa triệt để, tôi nghĩ, đó chính là hiện thân của đổi mới, của văn hóa.

Trước đây, các danh nhân nước nhà đã khơi dòng văn hóa Việt bằng nội lực tự thân trong nhiều lãnh vực và để lại dấu ấn rực rỡ lâu bền, thiết nghĩ, điểm xuất phát căn bản vẫn là lòng yêu nước, thương dân – thể hiện qua việc đặt lợi ích của cộng đồng lên cao nhất. Nhờ thế, dòng chảy văn hóa mang tính tiên phong đó đã lan tỏa và cộng hưởng. Nay thế nào? Tôi nghĩ, bao giờ, người Việt thật tâm, thật lòng thay đổi, mong muốn khắc phục các hạn chế về thói hư tật xấu như một lẽ sinh tồn ắt chúng ta có câu trả lời. Mà việc thay đổi phải là công việc bức thiết của một dân tộc, chứ không là một hai cá nhân riêng lẻ.

Lam Điền thực hiện

Sách của tác giả Lê Minh Quốc vừa ra mắt – Ảnh: L. ĐIỀN

Làng sách Việt đang tranh dễ tránh khó?

Một chiến dịch ở Bắc Kỳ do Đông A Books thực hiện

Sự kiện quyển sách Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Une campagne au Tonkin) của tác giả Pháp – bác sĩ quân y Charles-Édouard Hocquard – từng xuất bản từ năm 1892 nay được 2 công ty xuất bản dịch và ấn hành cùng lúc mang lại nhiều cảm xúc và suy nghĩ cho những ai quan tâm đến xuất bản.

Cả Omega+ và Đông A Books cùng tổ chức dịch và xuất bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, vẫn theo lối thực hiện cả bản in và phổ thông và bản in đặc biệt dành cho giới chơi sách. Nhưng trong “thương vụ xuất bản này”, Đông A thực hiện đến 4 phiên bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, tức ngoài ấn bản phổ thông, còn có 3 phiên bản đặc biệt, trong đó phiên bản đặc biệt S100 được may ruột, làm bìa da thủ công, in trên giấy mỹ thuật đặc biệt, có bổ sung phụ bản gồm 45 bức ảnh in màu của tác giả Hocquard vốn không có trong bản gốc… mặc dù chưa phát hành nhưng dự kiến sẽ rất thu hút giới sưu tập mặc dù giá thành cao.

Ùa vào khai quật

Chưa hết, khi trên thị trường xuất hiện hai ấn bản của hai “nhà” nói trên, mọi người còn phát hiện ra đơn vị thứ ba là Nhã Nam cũng đang bắt tay thực hiện dịch, chú và ấn hành quyển Một chiến dịch ở Bắc Kỳ.

Một quyển sách ra đời đã 128 năm, bỗng dưng cùng lúc được ba đơn vị xuất bản “ùa vào” khai thác, có gì bất thường không?

Từ góc độ người đọc, điều này là bình thường, thậm chí còn có chút thú vị bởi càng có nhiều nhãn hiệu trên một sản phẩm thì khách hàng càng có thêm sự chọn lựa. Và sách cũng không ngoại lệ. Ông Trần Đại Thắng – giám đốc Đông A Books – từ góc độ nhà sản xuất cho rằng việc nhiều đơn vị cùng khai thác một bản sách ngoại văn như vậy cũng có cái hay, trước hết là yêu cầu về chất lượng bản dịch, chất lượng in ấn, thiết kế, các tiện ích mang lại cho bạn đọc… sẽ được các bên chú ý hơn, và người được lợi chính là bạn đọc.

Với quyển “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ“, sự xuất hiện của “ba chàng trai” bên một “người đẹp” như vậy cũng thật xứng đáng. Bởi với dung lượng hơn 500 trang, tác giả Hocquard ghi chép về thực trạng đời sống xã hội Việt Nam những năm 1884-1886 khi ông cùng đoàn quân Pháp rong ruổi qua các địa phương từ Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Nam Định, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phú Thọ, đến Đà Nẵng, Huế; tác giả đã có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc đủ mọi hạng người, từ những nhà buôn, cu li, quan lại, gia đình và trẻ con bản xứ, thậm chí cả vua Đồng Khánh. Ông ghi chép và chụp lại những hình ảnh quan sát được. Phong tục tập quán An Nam được tác giả đặc biệt quan tâm: tục nhuộm răng đen, tục ăn trầu, búi tóc của đàn ông, nón quai thao của đàn bà, chỏm tóc của trẻ con, thói đi chân trần, quần áo nâu của người Kinh, quần áo chàm của người Tày… đều xuất hiện trong sách này. Khác với các ấn phẩm thuộc “dòng sách Đông Dương” bấy giờ, quyển sách của bác sĩ Hocquard còn có 232 bức ảnh minh họa và bản đồ.

Tuy nhiên, nhìn lại làng sách Việt sẽ thấy trào lưu “khai quật” các sách xưa để tái bản hoặc “làm mới” bằng nhiều cách trở nên xôm tụ chừng mươi năm trở lại đây. Một vài dấu mốc như Nhã Nam đi tiên phong với ý tưởng thực hiện bộ “Việt Nam danh tác” khai thác các sách hay, có giá trị vượt thời gian từng xuất hiện từ trước 1945 ở miền bắc đến trước 1975 ở miền Nam, thì sau đó có một công ty sách cũng tiến hành in loạt sách na ná như vậy, tức là cũng tái bản các “danh tác” chỉ với cái bìa khác. Hoặc như trong lúc dư luận quan tâm đến việc học sử dạy sử, lập tức bộ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cùng lúc được 3 đơn vị là Nhã Nam, Kim Đồng, và Minh Thắng tái bản. Bộ Cổ học tinh hoa của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân còn “đắt khách” hơn: có ít nhất 4 đơn vị cùng vào cuộc tái bản trong diện mạo bắt mắt để thu hút bạn đọc mấy năm gần đây.

Hoặc như hiện tại, vẫn còn ít nhất hai đầu sách đang được là quyển Tiêu sơn tráng sĩ của Khái Hưng, hiện đang được hai “nhà” chào hàng với các độc giả trên mạng, và quyển L’Art à Hué sau khi Thái Hà Books và Nhã Nam đã làm, được biết một công ty thứ ba cũng đang theo đuổi làm lại quyển sách đầy tính mỹ thuật này.

Việc khai thác các sách đã nổi tiếng trong quá khứ vẫn là một nhu cầu của thị trường. Nhưng với các sách đã hết hạn bản quyền; với bản thảo, bản dịch đã có sẵn, nay chỉ cần thiết kế bìa và trình bày ruột lại… dù sao vẫn là chuyện dễ. Bởi thị trường sách còn nhiều đòi hỏi đáng kể hơn.

Gian khó sẽ dành phần ai

Dịch giả Phạm Viêm Phương nhớ lại một thời mặc dù còn chiến tranh nhưng làng sách trong nước có khả năng cập nhật các sách mới không chỉ về văn chương mà cả các trào lưu tư tưởng, những triết thuyết mới, các quan điểm chính trị…

Bây giờ, lĩnh vực cập nhật tốt nhất có lẽ là mảng sách văn chương, nhờ các đơn vị làm sách nỗ lực mua bản quyền các sách văn chương đạt giải Noble hoặc Goncourt, Man Booker và tổ chức dịch thuật, phát hành để cộng đồng đọc trong nước có cảm giác “mình đọc kịp với thế giới”. Lĩnh vực khoa học mấy năm gần đây cũng có cập nhật nhưng còn ít, còn lại các sách về tư tưởng, triết thuyết… dường như không còn được mấy quan tâm.

Không chỉ thế, làng sách Việt còn nhiều chỗ khuyết thiếu mà lẽ ra, các đơn vị xuất bản, thậm chí một số đại học nếu hoạt động đúng nghĩa, phải bắt tay vào làm sách, để công chúng Việt Nam được đọc những ấn phẩm cần phải đọc.

Một dịch giả có hơn 30 năm theo dõi lĩnh vực xuất bản trong nước nêu một hiện tình, đó là chúng ta chưa có đơn vị nào có ý thức dịch toàn bộ các trước tác của một tác giả nổi tiếng. “Làm toàn tập về một tác giả rất quan trọng, nó là dữ liệu để không chỉ đọc thưởng thức mà còn làm cơ sở để nghiên cứu, học tập”, vị dịch giả này nhấn mạnh.

Theo hướng đó, có thể chỉ ra rất nhiều tác gia văn học nối tiếng chưa được dịch một cách đầy đủ ở Việt Nam. Chẳng hạn ở Anh ngữ, văn hào David Herbert Lawrence (1885 –1930) chỉ mới được dịch vài cuốn sang tiếng Việt; nữ tiểu thuyết gia Virginia Woolf (1882 – 1941) vốn được xem là một trong những nhân vật văn học hiện đại lừng danh nhất thế kỉ 20, đến nay cũng chỉ có khoảng 5 tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, chiếm chừng 20% toàn bộ trước tác của bà.

Về tư tưởng, lâu nay TS Dương Ngọc Dũng vẫn khuyến khích sinh viên nên tìm đọc quyển Traité de métaphysique (Luận văn về siêu hình học), của Georges Gusdorf có từ 1956  nhưng chưa có bản Việt dịch.

Hay như giới đọc sách từng biết đến cái tên Jean-Paul Sartre – vị triết gia thuộc trường phái hiện sinh vô thần, nhưng tác phẩm quan trọng nhất của ông lại chưa có bản dịch tiếng Việt. Đó là quyển L’Être et le Néant (Hữu thể và vô thể) – một công trình lớn của Sartra, đến mức khi đề cập đến quyển này, vị dịch giả giấu tên kia thốt lên “nhất thiết phải dịch quyển này từ bản Pháp văn”, là nói vậy thôi nhưng vẫn chưa biết đến bao giờ!

Với cái nhìn gần hơn, Nhật Bản có tuyển tập Chuyện kể bên chiếc gối (Makura no soshi) của nữ sĩ Sei Shonagon đọc nghe như cuốn sách khái luận về phép lịch sự trong tội lỗi, nhưng chưa được dịch sang tiếng Việt.

Một thành viên của Ban Tu thư đại học Hoa Sen nhắc lại hai đầu sách nổi tiếng rất cần cho độc giả Việt Nam nhưng đến nay vẫn chưa làm được khiến ông tiếc mãi là tác phẩm Các nguyên tắc Tâm Lý học của nhà tâm lý học tiên phong người Mỹ William James (1842 – 1910), và Các nền tảng của khoa học (The Foundations of Science) của nhà toán học, vật lý lý thuyết và triết học người Pháp Poincaré (1854 –1912).

Chia sẻ từ vị trí của một người làm sách, dịch giả Nguyễn Tuấn Việt cho rằng có nhiều sách ngoại văn chắc chắn sẽ thu hút độc giả trong nước, nhưng vì nhiều lý do, hoặc khó mua bản quyền, khó tìm người dịch đạt, thậm chí có khi khó xin được phép xuất bản… khiến cho những người làm sách rơi vào tình trạng “nhìn sách mà thèm”, tức là ao ước một ngày được thấy bản tiếng Việt của những sách ấy nhưng chưa biết đến bao giờ.

Đơn cử cho các sách này là quyển Silent Invasion: China’s influence in Australia (Cuộc xâm lặng thần lặng) của tác giả Clive Hamilton. Theo ông Tuấn Việt, đây là quyển sách rất hay nói về quan hệ Trung Quốc và Úc, rất đúng với các diễn biến hiện nay. Hoặc như một quyển đang rất thời sự là China: Trade War and Pandemic (Chiến tranh thương mại và đại dịch) của Tony Pow, quyển sách này đề cập đến việc liệu Trung Quốc sẽ bị các nước trừng phạt thế nào sau dịch Covid-19 – một trong những đề tài nóng sốt đang khiến cả thế giới chú ý, nhưng chưa biết khi nào thì nó được mua, dịch và phát hành ở Việt Nam.

Tất nhiên, để dịch thuật, chú giải được các sách tư tưởng, chính trị và triết thuyết cần có đội ngũ dịch thuật giỏi nghề, điều mà hiện nay chúng ta còn lúng túng, nhất là trong hai bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ đề cập trên kia vẫn còn mặc phải các lỗi dịch và chú thích, thì những đòi hỏi cao ở những dòng sách “khó nhằn” hơn quả cũng khó có ai “giành phần đảm đương”.

Lam Điền

Box:

Cần bổ sung sách bồi dưỡng kỹ năng đọc:

“Tôi cho rằng ta cần loại sách bồi dưỡng kỹ năng đọc, cả loại hư cấu và phi hư cấu (nền giáo dục Mỹ dạy trẻ em việc này từ tiểu học, lên tới đại học, danh mục sách bắt buộc phải đọc lại càng gay go hơn), bên cạnh những hội nhóm câu lạc bộ trao đổi kinh nghiệm đọc, vân vân.

Loại sách này được giới thiệu đầy trên mạng. Ta có thể tìm bằng “reading skills for college students” “better reading skills” “books on reading skills” “reading comprehension”… thấy sách nào được tái bản nhiều lần là có thể tin cậy.

Chính giới trí thức và các công ty xuất bản, khi thiếu kỹ năng đọc, thì khó mà biết cách giới thiệu sách, hoặc vạch ra chiến lược xuất bản nào mới lạ ngoài việc theo dõi các giải thưởng hay chiến dịch quảng cáo của báo chí nước ngoài. Cho nên:

– Bên cạnh việc dịch và xuất bản các sách cung cấp kiến thức, ta rất cần loại sách về phương pháp khai thác kiến thức (đọc hiểu), và sáng tạo kiến thức mới (tức phương pháp nghiên cứu).

– Nếu không xuất bản được những cuốn như vậy thì có lẽ đành trông vào: (i) viết bài phân tích, điểm sách đúng nghĩa trên báo (cần có nhuận bút cho hàng ngũ chuyên gia); và (ii) cố gắng viết bài giới thiệu dẫn nhập phân tích… in kèm với mỗi dịch phẩm”. (Phạm Viêm Phương)

Một chiến dịch ở Bắc Kỳ do Omega Plus thực hiện

Những vấn đề tiếp nối của đô thị

Quyển sách Đô thị những vấn đề tiếp nối của PGS. TS. Nguyễn Minh Hòa vừa lên kệ sách trong toàn quốc – Ảnh: L.ĐIỀN

Tác giả Nguyễn Minh Hòa vừa ra mắt quyển sách mới: Đô thị những vấn đề tiếp nối, tập hợp ý kiến chuyên môn về đô thị học, và cả những tâm sự giãi bày về các vấn đề phát triển đô thị ở nước ta.

Tập sách, cũng chính là dòng cảm xúc không gián đoạn của một người nặng lòng với đô thị Sài Gòn, nơi tác giả đã gắn bó gần 50 năm qua. Trong phần mào đầu cho chương Cảm xúc đô thị, ông dành cho Sài Gòn những lời nói thật tự đáy lòng: “Sự thay đổi của thành phố này mang lại cho tôi biết bao nhiêu cung bậc cảm xúc khác nhau”.

PGS. TS. Nguyễn Minh Hòa chính là người đã cẩn thận ghi chép những đổi thay – phần lớn là mất mát – trong quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn, và rồi trong một hội thảo, ông bất ngờ công bố về 18 công trình của Sài Gòn đã mất đi không bao giờ có lại được (TT ngày 19-10-2019). Không chỉ có thế, song hành cùng hoạt động chuyên môn của một nhà đô thị học, Nguyễn Minh Hòa còn dành không ít thời gian cho việc đọc và viết về Sài Gòn.

Ở đây, bạn đọc sẽ gặp lại những trang viết đầy cảm xúc của Nguyễn Minh Hòa, từ những tiếng kêu quyết liệt trước những chính sách từ nhà nước có ảnh hưởng đến đô thị như “Đừng đập nữa” – viết về việc các thủy đài ở TP.HCM bị đập bỏ theo chủ trương từ năm 2017; “Cẩn trọng với ký ức” – về ý kiến phá bỏ tòa nhà Dinh Thượng Thư để xây dựng trung tâm hành chính TP.HCM; hay câu hỏi tưởng chừng giản đơn “Con trẻ chơi ở đâu” nhưng đặt ra như tác giả mới thấy quả là vấn đề không giỡn chơi đối với các nhà quy hoạch và phát triển đô thị.

Tập sách được tác giả sắp xếp thành ba phần: Cảm xúc độ thị, Không gian đô thị, và Đời sống đô thị. Trong mỗi mảng nội dung ấy, người đọc sẽ bắt gặp những vấn đề vừa quen thuộc vừa nan giải, những góc nhìn tưởng đã rõ từ lâu nhưng đọc các trang viết của một nhà chuyên môn, lại thấy có lẽ mình còn chưa hiểu Sài Gòn đến đầu đến đũa…

Chẳng hạn như ý tưởng về dáng hình thành phố, được tác giả tâm sự rằng trong một lần hội thảo ở Trung Quốc, thức khuya khó ngủ, ông giở bản đồ TP.HCM ra xem và bỗng bất ngờ liên tưởng dáng hình thành phố với hình ảnh con dơi đang giang cánh. Ý tưởng này sau đó được nhiều ý kiến tại hội thảo tán đồng.

Hay việc khám phá ra Sài Gòn từng có một thung lũng xanh tuyệt đẹp, do người Pháp cố tình tạo ra vào khoảng năm 1870, trải dài từ đường Cách mạng tháng Tám đến sát rạch Thị Nghè, với trục phát triển chính là đường Lê Duẩn (theo hình dung hiện nay). “Các nhà quy hoạch Pháp đã cố tình đẩy các nhà cao tầng ra phía xa để tạo ra hình thái đô thị cao bên ngoài, thấp bên trong như hình cái nón lật ngược mà trung tâm là một thung lũng xanh”, cách nhìn tinh tế của Nguyễn Minh Hòa không những cho thấy sự thấu hiểu của ông với những nhà quy hoạch Sài Gòn xưa, mà qua đó còn cho thấy cảm tình của một người Sài Gòn vẫn níu giữ những nét đẹp đô thị trong từng suy nghĩ cho dù ngoài thực tế đã biến thiên.

Và nếu tìm kiếm ở chiều sâu của đời sống đô thị, người đọc bắt gặp tác giả đặt lại những vấn đề căn cốt, đó là giá trị của an sinh (Thật vô nghĩa khi không an), hồn cốt của thị dân từ thói quen giản đơn là đi xe đạp (Tìm lại thói quen xưa), hay ở góc độ tế nhị của quản lý: cái nào nhà nước cần can thiệp bằng luật và cái nào nên mạnh dạn để người dân tham gia thực hiện sẽ tốt hơn rất nhiều (Để dân làm)…

Trong khi tác giả khiêm nhường tự nhận mình “cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, chỉ có thể phản ánh được một vài “mảnh vụn”, dăm ba “lát cắt” về đô thị – hiểu theo nghĩa là “một thực thể sống nhân tạo phức tạp nhất”, tập sách thực sự là những sẻ chia cần thiết, là suy nghĩ có trách nhiệm để câu chuyện đô thị Việt Nam được tiếp nối có hiệu quả trong tương lai.

Lam Điền

“Tình yêu Sài Gòn của tác giả rất da diết mà cũng rất tỉnh táo. Đó là vì sự “phân thân” của người viết: vừa là người Sài Gòn vừa là người “từ nơi khác đến”; vừa là người dân bình thường vừa là nhà nghiên cứu, nhà tư vấn chính sách; vừa là người mang trong mình “văn hóa” của một vùng miền khác lại vừa sống và hòa nhập với văn hóa một nơi chốn mới; vừa là người thụ hưởng di sản văn hóa vừa là người có tiếng nói góp vào chính sách bảo tồn hay không những di sản ấy… Tất cả điều đó mang đến sự khách quan của người trong cuộc chứ không phải khách quan lạnh lùng của những nhà nghiên cứu hàn lâm xa vời…” (TS. Nguyễn Thị Hậu viết lời chia sẻ cho tập sách của PGS. TS. Nguyễn Minh Hòa)

Nguyễn Đức Sơn trở lại với Chút lời mênh mông

Sách do Thư viện Huệ Quang và NXB Đà Nẵng liên kết ấn hành – Ảnh: L.ĐIỀN

Hôm tập thơ vừa in ra, lão ka Trần Văn Chánh đưa ngay cho mình 2 quyển, bảo rằng đây có thể là tập thơ cuối cùng của ông Sơn Núi, Huệ Quang vì hâm mộ và ưu ái nên ấn hành đấy.

Mình cầm về, đọc một lượt tập thơ Chút lời mênh mông rồi dừng lại ở bài Về thăm Phan Rang, tự nhiên cứ bị ám ảnh bởi hai câu cuối: Kên kên chiều dõi kêu mồi/ Ngàn năm tiếng vọng liên hồi trong cha.

Một người cha sau nhiều năm xa quê, dẫn con về thăm cố hương giữa thời ly loạn. Hình ảnh quê nghèo hiện ra đầy ám ảnh, và câu thơ của ông nhiều năm sau trở thành một trong những nét tả thực hay nhất về xứ biển Phan Rang: Một vùng toàn đất cát pha/ Biển ăn lở lói từng nhà gạch vôi

Người cha đó là Nguyễn Đức Sơn, vừa trở lại với thi đàn Việt Nam sau ngót 50 năm bặt tiếng.

Ông có một bút hiệu là Sao Trên Rừng, nhưng bạn đọc vẫn yêu thích cái biệt danh Sơn Núi của ông, và yêu thích nhiều hơn ở chất mỹ cảm phức tạp trong thơ ông.

Nguyễn Đức Sơn bắt đầu sự nghiệp thơ từ trước 1975. Sài Gòn và miền Nam bấy giờ có nhiều trào lưu tư tưởng từ phương tây, được các nghệ sĩ, trí thức trong nước “hoan hỷ” tìm hiểu và ứng dụng trong sáng tác. Nguyễn Đức Sơn trình hiện tác phẩm của mình bằng thể cách riêng: Sự cực đoan trong cách suy nghĩ, diễn ngôn dâm tục, và khả năng chơi đùa với tiếng Việt ở tầm mức thượng thừa.

Về sự cực đoan, chính việc “đưa vợ con lên núi sống cho đến tận bây giờ” là câu trả lời có một không hai của ông Sơn Núi.
Còn dâm tục trong thơ của ông, nội dung này mang lại nhiều bàn cãi và có lẽ sẽ còn bàn cãi dài dài về sau. Nhưng, điều quan trọng hơn câu chữ dâm tục chính là phần dụng ngữ của Nguyễn Đức Sơn; và cao hơn phần dụng ngữ chính là khả năng chuyển tải tư tưởng qua lớp vỏ diễn ngôn dâm tục ấy. Tấm tắc trước bài thơ vỏn vẹn 6 chữ (cộng 2 chữ nhan đề “Đêm trăng” nữa cả thảy 8 chữ) Ma đang hú/ Mu đang há thì dễ, nhưng cái tư tưởng về chiều sâu và tầm cao của lao động nghệ thuật được gửi gắm qua bài thơ “Đù mẹ cây hồng/ Mầy không lao động/ Sao mầy trổ bông”, thì không phải ai cũng chia sẻ được.

Và chất tự sự ở Nguyễn Đức Sơn cũng là một độc đáo. Hẳn sẽ còn rất nhiều người, với lòng tự trọng học vấn, nhắc đến bài thơ có cái nhan đề dài một cách cố ý: Mười năm không đọc một trang sách nào, soi gương thấy mặt mày tươi rói.
Nhưng Chút lời mênh mông còn có một đặc biệt: Bạn đọc sẽ gặp một Nguyễn Đức Sơn khác lạ, ấy là cảm thức vô thường được quyện trong những lời thơ tâm sự với con. Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn nuôi con là nỗi đoạn trường không mấy người biết đến. Và ở đây, qua những dòng thơ, dường như một thế giới khác của Sơn Núi hiện ra, trong lành mà góc cạnh. Như hình ảnh “ôm con nhìn cõi mênh mông/ máu thanh niên dội rát lồng ngực cha” là một thế giới của hai cha con giữa hoang mang chiến cuộc, nhưng chưa cô độc đến lạc loài như ở bài Giữa đêm trăng: Bồng ra chơi giữa đêm trăng/ Tay chân con múa vung văng liên hồi/ Có gì ngàn cõi xa xôi/ Phút giây tôi với con tôi lạc loài.

Nguyễn Đức Sơn, thơ, và cuộc thế của mình tưởng đã lạc loài như vậy, nhưng may có những người hâm mộ, đã gom nhặt thơ ông giữ lại với đời…

[Lam Điền]

Sôi động các kênh online quảng bá sách trong mùa dịch

Chương trình quảng bá dòng sách Sài Gòn của NXB Văn hóa Văn nghệ đang diễn ra trong những ngày tháng Tư
Trang quảng cáo giảm giá sách của công ty Phương Nam

Không chỉ có hội sách online quy mô quốc gia đang được thực hiện, các đơn vị xuất bản, công ty sách cũng khai thác những kênh online để quảng bá sách trong thời gian dịch bệnh làm gián đoạn các sự kiện về sách.

Livestream, bắt mắt và lan tỏa…

Ngay khi Đường sách TP.HCM phải đóng cửa, một trong những đơn vị sớm ứng dụng hình thức livestream để giới thiệu sách là Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM: tác giả Cúc T livestream chia sẻ chủ đề “Vui cười mỗi ngày dù bạn không hoàn hảo” đã nhận được hàng nghìn lượt xem từ bạn đọc qua mạng. Đây có thể xem là hình thức hiệu quả để tạo sự tương tác giữa tác giả với bạn đọc trên không gian mạng thay vì gặp mặt trực tiếp. Tại Hội sách online năm nay, NXB Trẻ cũng sẽ tổ chức giao lưu trực tuyến với nhà văn Dương Thụy (vào lúc 10h ngày 20-4) và tác giả Pha Lê (10h ngày 25-4) cùng chia sẻ về các đề tài bếp núc và ẩm thực.

Có những ý tưởng nảy sinh theo cùng với sự quan tâm của người đọc trong mùa dịch bệnh: Các sách đề tài sức khỏe hoặc các chủ đề liên quan được những đơn vị làm sách khéo léo “chọn giúp” để bạn đọc nhâm nhi trong mùa tránh dịch. Một đầu sách nóng hổi vừa được Anbooks và NXB Văn hóa Văn nghệ tung ra thị trường là Đại dịch tim không đập thình thịch của bác sĩ Trương Hữu Khanh – người đang được đông đảo cộng đồng mạng theo dõi vì những chia sẻ về dịch Covid-19. Quyển sách này ra đời nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng về đại dịch với phương châm không hoang mang và lạc lối trước một rừng nhiễu loạn thông tin…

Với “cảm xúc” dịch bệnh, Nhã Nam đưa ra một list sách văn học của các tác giả đoạt giả đoạt giải Nobel, đứng đầu là Dịch hạch của Albert Camus, và các danh tác được giới thiệu bắt mắt: Đẹp và buồn (Kawabata Yasunari), Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối (Patrick Modiano), Của chuột và người (John Steinbeck), Buồn nôn (Jean-Paul Sartre), Chúa ruồi (William Golding), Siddhartha (Herman Hesse), Tên tôi là Đỏ (Orhan Pamuk), Trốn chạy (Alice Munro), Mãi đừng xa tôi (Kazuo Ishiguro)…

Nắm bắt tâm lý “bị cuồng chân” trong những ngày giãn cách toàn xã hội, NXB Tổng hợp TP.HCM tạo ấn tượng cho bạn đọc bằng cách giới thiệu loạt sách du ký hấp dẫn với gợi ý mọi người hãy “xê dịch” qua từng trang sách du ký trong những ngày khó khăn này. Đó là các tập du ký mới ra mắt: Vàng Son một thuở Ba Tư (Nguyễn Chí Linh), Quen lạ xứ người – Du ký Nhật Bản (Lam Anh), Theo dấu chân người tình (Đỗ Quang Tuấn Hoàng), Hội An Trong tôi (Trần Hoàng Đức)…

Ở một hướng khác, NXB Phụ Nữ đã vạch kế hoạch tổng thể khai thác các kênh online để nỗ lực quảng bá sách trong mùa dịch này: Ngoài việc tích cực giới thiệu sách mới và đầy mạnh các kênh tiếp thị theo Hội, nhóm như truyền thống, NXb Phụ Nữ còn tranh thủ phối hợp với các cá nhân có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOLs) để giới thiệu sách, tổ chức cuộc thi dành cho bạn đọc viết review giới thiệu sách, và đặc biệt ý tưởng mới nhất là mở rộng mạng lưới cộng tác viên bán hàng online. “Đây là một cách vừa để huy động nguồn lực từ các cộng tác viên, bạn đọc của nhà xuất bản ở các tỉnh, thành chung tay giới thiệu và lan tỏa sách, vừa góp phần tạo công việc cho những ai muốn làm thêm trong mùa dịch. Vì chúng tôi biết ở các tỉnh thành xa xôi có những giáo viên, nhà văn, những người quan tâm đến sách, có thể giúp chúng tôi giới thiệu các đầu sách mới, bổ ích, và vì không gian mạng không giới hạn theo vùng miền địa lý nên chúng tôi hy vọng có thể đưa sách và thông tin về sách đi xa hơn đến những nơi còn thiếu sách”, bà Khúc Thị Hoa Phượng – giám đốc NXB Phụ Nữ – chia sẻ.

Game sách vui nhộn và quảng bá chiều sâu

Ứng dụng các kênh online để quảng bá sách sôi động phải kể đến NXB Trẻ. Trong lúc dịch bệnh ngăn cản mọi hoạt động giao lưu tiếp xúc trực tiếp, NXB Trẻ đẩy mạnh quảng bá online bằng cách chọn ra các loạt sách theo từng chủ đề phù hợp với thời điểm nghỉ ở nhà chống dịch như: Ăn sạch – sống xanh; Tâm an – sống khỏe; Y học – sức khỏe; Du lịch qua sách, và các sách truyền cảm hứng; tình yêu thương…

Để tăng tính cuốn hút và tạo sôi động cho các fanpage của mình, NXB Trẻ giới thiệu “Tour du lịch cho Potterhead trong mùa dịch” hay “Tour du lịch ‘Cho tôi một vé đi tuổi thơ” dành cho các fans của Harry Potter và fans của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, được đông đảo bạn đọc chia sẻ. Hoặc từ phía NXB đặt hashtag cho chương trình gọi là “7 ngày thử thách” (#7daychallenge) trên fanpage, kêu gọi bạn đọc vào comment chia sẻ tên các sách đã đọc theo chủ đề từng ngày: quyển sách khiến đọc xong bạn phải hành động ngay, quyển sách khiến bạn dám mơ thiệt lớn, quyển sách đã nhắc nhở bạn phải yêu thương bản thân nhiều hơn… Những game dạng này có tác dụng kích thích bạn đọc nhớ lại những sách đã đọc và những gì “thu lượm” được từ sách.

Và một game sách theo kiểu khác, với hashtag Mình có nhận ra nhau giữa mùa dịch không em”, fanpage đưa ảnh một quyển sách bị khẩu trang bịt mất nhan đề, với các mật mã/ manh mối vắn tắt nêu kèm, bạn đọc sẽ vào comment tên quyển sách được nhận ra. Đây là trò chơi có tính thử thách, bởi những “manh mối” nhiều khi chỉ là một tiết lộ nhỏ, đòi hỏi người đọc phải vừa tinh ý vừa thạo các thông tin về quyển sách – nói chung phải là người thực sự yêu thích quyển sách ấy – mới có thể nhận ra. Ấy vậy mà, cũng từ trò chơi này, tại fanpage của NXB Trẻ xuất hiện những bạn đọc am tường đáng nể, chẳng hạn với “3 manh mối” : “chạy” “1986” và “1994”, có bạn đọc nhận ra ngay “đó là quyển Forrest Gump – in năm 1986 và trở thành sách bán chạy cho đến khi bộ phim chuyển thể ra đời năm 1994 với ngôi sao Tom Hanks”.

Theo “những nhà tổ chức”, các game này tạo ra một sân chơi cho bạn đọc trong mùa dịch, vừa giúp các bạn động não, vừa tăng tính tương tác online và cũng là cách để những ai tham gia chọn được sách mình mong muốn.

Trong khi đó, công ty Sách Phương Nam cũng xây dựng được một cộng đồng đọc sách của mình qua 2 kênh: group Bookish Squad và blog chuyên về sách bookish.vn. “Hiện nay việc tiếp cận độc giả qua mạng xã hội là rất cần thiết và hữu dụng. Mạng xã hội giúp người làm sách tiếp cận trực tiếp với người đọc, lắng nghe độc giả nhận xét, phản hồi về nội dung, hình thức và chất lượng in ấn một cách chân thật”, một lãnh đạo phụ trách nội dung của Sách Phương Nam chia sẻ.

Vừa rồi, Sách Phương Nam ấn hành bộ sách 3 tập Những cảnh đời tỉnh lẻ của J.M. Coetzee là tác phẩm lần đầu tiên được chuyển ngữ đến bạn đọc Việt Nam, trên kênh bookish chạy chương trình giới thiệu ấn tượng. Trước đó, khi tái bản bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Lang, Sách Phương Nam cũng chủ động quảng bá trên kênh online và được cộng đồng mạng ủng hộ nhiệt tình. Đây cũng là cách làm nhờ vào khả năng chủ động đối với lĩnh vực quảng bá online.

Lam Điền

Box:

Ngoài ra, điểm thu hút “truyền thống” của các trang online hiện nay là các chương trình khuyến mãi sách. Hiện tại Sách Phương Nam “treo banner” quảng bá giảm đến 50% cho 50 nhan đề sách; NXb Văn hóa Văn nghệ cũng giảm 50% giá bìa cho dòng sách viết về Sài Gòn trong một chương trình gọi tên tha thiết “Thương lắm Sài Gòn ơi”; NXB Trẻ thì gia hạn cuộc thi viết “Nào ta cùng thi viết và chụp ảnh sách” đến 30-6; NXB Kim Đồng cũng giảm 50% giá bìa với chương trình “Ở nhà đọc sách không ngại giãn cách”; Nxb Phụ Nữ cũng giảm 50% giá bìa cho loạt sách nử công gia chánh “Thơm lừng gian bếp”…

Thị dân, người lính và thân phận cùng đinh thời hậu chiến

Với quyển Đất K, trong khi đọc, có những lúc tôi dừng tay, lật giở bìa gấp nhìn lại khuôn mặt tác giả: một người đàn ông xa lạ, tóc dài, và dù có đôi kiếng đen che mất phần lớn khuôn mặt vẫn hiện ra nét khắc khổ sâu sắc quá.

Đất K, tác phẩm mới xuất hiện trong làng sách tiếp tục mạch chuyện về chiến trường Campuchia. Tập sách có vẻ lẻ loi khi không khí kỷ niệm dấu mốc 40 năm chiến tranh trên hướng Tây Nam vừa qua xong.

Và đọc sách, mới biết tác giả những dòng tâm sự này – Bùi Quang Lâm, lính bộ binh của đại đội 12, Mặt trận 779 – cũng có thân phận thật đặc biệt.

Và có mấy lần như vậy, trong khi những tình tiết truyện đang cuốn hút, chuyện chiến trường mà, không thiếu những tình tiết hấp dẫn, hồi hộp, cao trào… Và tôi lại dừng tay lật bìa sách nhìn lại gương mặt tác giả một lần. Ấy là vì tôi nhận thấy ở nét mặt Bùi Quang Lâm có chút gì hao hao giống với một người thanh niên trong xóm tôi: anh P. Hồi nhỏ, trong những lần xuống xóm dưới gánh nước, tôi vẫn nhìn vào mặt anh P., một người thanh niên cũng tóc dài, quai hàm vuông cương nghị, cũng trở về từ chiến trường K. Nhưng P. là một người khùng. Anh bị tâm thần từ sau khi rời vùng đất tử thần, cha mẹ gia đình anh không biết thế nào, để mặc anh muốn làm gì thì làm. Anh không muốn ở chung với gia đình, che túp lều ở góc vườn tự sống riêng. Anh lang thang qua những ngả đường làng, thỉnh thoảng nói lảm nhảm gì đó, nhưng dường như anh không đánh phá hay làm hại ai.

Tôi nhìn gương mặt Bùi Quang Lâm bé xíu in trên bìa gấp cuốn sách, lờ mờ nhận ra hình như chỗ giống giữa anh và anh P. xóm tôi chính là cái dấu ấn thần chết để lại còn vương đâu đó trên nét mặt. Có thể lắm, những người lính từng thoát lưới tử thần không chỉ một lần, cho dù bước ra khỏi chiến trường với thân hình tàn tạ cùng đinh hay lý trí hoàn toàn bị hủy diệt, hẳn phải có chút dấu vết gì đó còn để lại trong ánh mắt nụ cười, trong cái nhìn gửi vào từng sự vật xung quanh.

Đất K của Bùi Quang Lâm vừa may là một bổ sung cho loạt sách viết về chiến trường K như đã thấy. Bùi Quang Lâm vốn dân Quận 4 – TP.HCM, và nhóm bạn thân trong đơn vị cũng nhiều người miền Nam, những dòng hồi ức của một người lính xuất thân là thị dân mang lại góc khác lạ về cuộc “viễn chinh” của Việt Nam trên đất bạn như có người đã ví von.
Sách vẫn có sức cuốn hút từ những khốc liệt của đời lính, những lần thập tử nhất sinh khi lâm trận, vô vàn gian khổ thắt ngặt mà chỉ qua câu chữ thôi, người đọc nhiều khi phát sinh phản xạ tự vấn rằng nếu chẳng may mình đối mặt như tác giả, không biết liệu có chịu đựng được bao lâu.

Nhưng nét đặt biệt của Đất K chính là tác giả mặc dù không cố ý, đã để lộ chất thị dân của mình và những người bạn thân khi đi vào cuộc chiến. Một anh Phước “cô ba” bẩm sinh yếu đuối vẫn ráng bám theo đơn vị trong từng trận đánh, từng chặng hành quân để rồi cuối cùng phải hy sinh, để lại lá thư viết xong chưa kịp gởi về nhà, đọc như thấy có nước mắt trong từng hàng chữ: “Hôm nay ngày mấy, tháng mấy con không biết. Vì ở rừng nên con không biết ngày tháng. Kính thưa má…”; mối quan hệ giữa chỉ huy và lính bộc lộ qua chiến đấu và qua những cám dỗ khi chiến thắng…; tính bộc trực không lý sự nhưng ăn nói áp đảo người khác đúng kiểu Sài Gòn của Hiển “đen”, những “tâm hồn thơ” bất ngờ nảy nở giữa khói lửa chiến trường… Và những bóng hồng bất ngờ chen vào cuộc chiến như câu chuyện về cô gái Khmer gốc Việt Xa-Phíc mà Bùi Quang Lâm gặp gỡ trên đất Campuchia giữa đường tao loạn, hay cô bạn Mã Kim Phượng thân nhau từ mái trường trung học giữa Sài Gòn bỗng gặp nhau trong cùng chiến dịch trên đất bạn… là phong vị khác lạ giữa những trang viết đặc dày khói lửa.

Một phần phong vị ấy còn bám dài theo thân phận tác giả đến thời hậu chiến. Và đây cũng là phần xúc động nhất của Đất K: Người lính vào sinh ra tử, trở về phố thị quê nhà bỗng nhận ra mình chỉ còn thân phận chẳng khác cùng đinh. “Trả áo nhà binh tôi thành “nhà bám” là cách nói tự trào nhưng chua chát của Bùi Quang Lâm. Đọc những dòng tâm sự của anh về cảnh nhà túng quẫn, về thân phận khốn cùng khi trên mình chưa dứt thương tật từ chiến tranh đã bước vào cuộc mưu sinh khốc liệt của đời sống thị dân vào lúc nước nhà chưa qua thời bao cấp và bóng dáng đổi mới còn chưa le lói… Đúng như nhà thơ Hoàng Đình Quang đúc kết “Một thời đánh bắc dẹp đông/ Chiến tranh kết thúc dở ông dở thằng”, đọc Bùi Quang Lâm, nhiều lúc nghe nghẹn lòng khi không hình dung ra tương lai anh rồi sẽ ra sao…

Tác giả dừng lại ở những dòng nói về “hoàng hôn cuộc đời” của mình. Tưởng đầy đủ một cuộc giãi bày tâm sự nhưng hóa ra không phải, anh treo trong tâm trí người đọc một nỗi ám ảnh rằng anh đã sống ra sao giữa phố phường đô hội với thân phận cùng đinh như vậy? Và rồi rất nhanh người đọc nhận ra thêm: Nào có phải chỉ một Bùi Quang Lâm thôi đâu, bên cạnh chúng ta hằng ngày vẫn còn những thân phận thị dân lẩn khuất vô danh trong chảy của cuộc đời, cũng từng đánh đổi tuổi thanh xuân, từng hy sinh nhiều thứ để theo đuổi một lý tưởng… và rồi họ lặng thầm mãi mãi không mấy người biết đến. Kể ra anh chiến sĩ sống còn từ đất K Bùi Quang Lâm vẫn có chút cơ may, khi anh gõ vào cánh cửa văn chương để gửi gắm một phần tâm trạng đời mình. Nhờ đó, người đọc gần xa mới nhận ra và chia sẻ, biết đâu.

Lam Điền

Sách do NXB Hội Nhà văn cấp phép ấn hành – Ảnh: L.Điền

Vương Hồng Sển vẫn quyến rũ về chuyện địa danh và lịch sử Nam kỳ


–          Sách của Vương Hồng Sển vừa phát hành trên cả nước – Ảnh: L.ĐIỀN

Tháng ba năm nay, tên tuổi Vương Hồng Sển trở lại với bạn đọc qua quyển di cảo Chuyện cũ ở Sốc Trăng, vừa được nhà xuất bản Trẻ ấn hành.

Lại bắt gặp giọng kể chuyện nhẩn nha dây cà ra dây muống mà vẫn rất duyên của ông già gốc Lục tỉnh, người đọc hẳn sẽ ngấm dần những gởi gắm của tác giả qua từng câu chữ. Cụ Vương Hồng Sển viết quyển này từ năm 1986, đến nay đã ngót 34 năm sách mới xuất bản, đây cũng là một câu chuyện.

Duyên cớ để tác giả khởi thảo quyển sách này – viết về nơi nhau rún của ông – là lời đề nghị của những bạn đồng hương, muốn có một công trình khảo cứu về Sốc Trăng (Sóc Trăng – theo cách viết của tác giả). Thế nhưng không như cái nhan đề gói hẹp ấy, có đọc cụ Vương mới biết chính cái sự dông dài trong trang viết của cụ hóa ra không thừa thải chút nào.

Đọc ông, mường tượng như tác giả kể chuyện cùng sắp trẻ đang châu đầu hiếu sự muốn nghe… Riết rồi qua từng trang sách, người đọc cảm như mình đang đối diện với một ông già vừa “lợi hại” vừa xuề xòa, thế nên sẵn sàng lót dép ngồi hóng chuyện.

Mà toàn chuyện hay, chuyện có ích cho sự học.

Chẳng hạn cụ Vương không chỉ viết chuyện Sốc Trăng, mà nhân đó, cụ thuật lại hành trình Nam tiến của nước Việt. Thuật chuyện xa mà vẫn thấy gần, bởi chính mảnh đất Nam kỳ mà cụ thể là miệt Srok Khléang, Srok Bassac (tức vùng từ Cần Thơ, Sốc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) khi chính thức nhập thành đất nước Việt Nam, quá trình nam tiến mới hoàn tất, và hình hài Tổ quốc mới có “hình chữ S” như cách ví lâu nay.

Câu chuyện của Sốc Trăng vì thế hóa thành câu chuyện của cả Nam kỳ lục tỉnh, từ thuở xưa đất này thuộc người Chăm, rồi người Khmer đến ở, sau đó lịch sử biến động đến chừng họ Mạc làm chủ, rồi chúa Nguyễn sở hữu và sáp nhập để thành phần lãnh thổ cuối cùng của Tổ quốc…. Bao nhiêu sắc dân từng hiện diện nơi đây, bao nhiêu câu chuyện về quan hệ giữa người Khmer, Chăm, Việt còn ghi dấu tại đất này…

Nhưng thú vị nhất phải kể đến các đoạn cụ Vương Hồng Sển lý giải các địa danh Nam kỳ. Những cách cắt nghĩa đôi khi sẽ trở thành đề tài cho học giới bàn tiếp, nhưng có hề gì, trong mạch chuyện của cụ ở đây, người đọc tưởng mình như đang đối diện với một pho từ điển sống.

Chẳng hạn như địa danh Bến Lức, cụ Vương cải chính cả cách lý giải của học giả Nguyễn Tạo trước kia khi chọn cách gọi “Phiếu Giang”, trong khi địa danh này liên quan đến cây Lật, “Tây gọi chataignier, ngoài bắc gọi là cây dẻ, ngót mười năm Lê Thọ Xuân mới tìm ra đó là “Bến Lứt” mà thuở nay viết “lức” mới khó biết”.

Hay như cái cà ràng người miền Tây lâu nay vẫn hiểu là cái bếp củi, nó vốn mang tên Khmer là Châng-kran – là cái lò lửa dời đi được.

Còn Rạch Giá tên Khmer là Kra muon sor nghĩa là sáp ong trắng, từ đây mới biết chữ Giá chỉ cây giá – một loại cây cùng họ với tràm tiêu biểu của xứ này mà ong làm tổ cho ra loại mật, sáp màu trắng…

Càng đọc, càng thấy cái biết của mình về đất Nam kỳ được mở ra. Có khi là nhờ cách vắn tắt kê ra những chi tiết lịch sử cần thiết, như tên gọi thuở đầu của “lục tỉnh”, cụ thể mỗi tỉnh gồm mấy phủ mấy huyện tên gì; có khi hấp dẫn bởi chính tác giả kể chuyện quê mình: “Sốc Trăng năm 1920 chưa có đèn điện. Khi tôi tám, chín tuổi (1910) phố đốt đèn dầu lửa, nhà nhà nơi chợ châu thành phải treo đèn lồng rọi sáng trước cửa… lối 1917-1918 đã văn minh khá, thành phố có đèn manchon, chiều chiều có phu đi xe đạp đến bơi dầu, đốt manchon cho cháy…”, quả thật là những tư liệu về tình hình chiếu sáng đô thị buổi đầu không dễ gì tìm được chứng nhân kể lại như vậy.

Lam Điền

Quê còn mây trắng bay

Ảnh: Thanh Trung tàng bản,

Nhiều lúc muốn về Phan Lý cũ
Thăm mái trường xưa giữa xóm Chàm
Hóng tiếng ve sầu đang thổn thức
Trong mùi khói cuộn gió nồm nam,

Thèm đứng bên đường lên Sông Mao
Nhìn em áo trắng khuất qua rào
Nhớ ơi Hòa Thuận mùa xanh lúa
Chuông giáo đường buông tiếng vút cao,

Nhớ đường năm cũ bến Thanh Tu
Bò lẫn trâu chen đất bụi mù
Ai đứng chờ ngưng cơn nước bạc
Mặt người chưa tỏ bỏ trăng lu,

Và bạn đi đâu bỏ Chợ Lầu
Bỏ đường phố hẹp ngõ ăn sâu
Bỏ hoa khế rụng vườn thư viện
Vạt nắng xưa còn hong tóc nhau?

Lại muốn đứng trên cầu Xóm Lụa
Nghe từng lóc cóc ngựa xe qua
Nứa tre gạo cám rau hành ấy
Còn giúp mưu sinh mấy trẻ già…

Ai nhớ lời thầy năm cuối cấp
Đắng từng gan ruột buổi chia tay
Rằng quê trong mắt trong lòng đó
Nào phải về đâu hay ở đây,

Nhưng gặp hanh hao nắng cuối ngày
Nghe mùa đang chuyển gió qua tay
Ngoảnh nhìn bốn hướng trời giông loạn
Có lẽ quê còn mây trắng bay…

Sài Gòn, 18.2.2020
藍田

Trừ mai có lẽ lan là nhất

Chiều ba mươi tết, sau khi kịp chạy một vòng lên rừng và xuống biển đúng nghĩa đen, thì ghé nhà anh Thành lúc chập tối.
Ý định thắp cho anh nén hương, nhớ người anh thân thiết mới năm nào mỗi bận về quê thể nào cũng ngồi cùng nhau hàn huyên bao nhiêu là chuyện đời chuyện đạo…
Ghé nhà gặp cả cô Hoa và chị Thu, chị Chi ba người đang ngồi nói chuyện. Minh vừa thắp nhang xong thì cô Hoa buột miệng nói ra một tin: cô Hoàng Lan vừa mất hôm qua.
Ôi trời, mình nghe mà không tin vào tai, chị Thu cũng hỏi lại vì dường như cũng không tin được.
Nhưng sự thực là cô Hoàng Lan đã mất, cô mất tại nhà ở Phan Thiết, mà sau khi nhập liệm xong thì đưa vào Bình Hưng Hòa (Sài Gòn) để hỏa táng, rồi mới đem tro cốt về thờ.
“Người ta nói, chưa có cái đám tang nào mà đẹp như vậy, cũng chưa có đám tang nào đau đớn như vậy”, cô Hoa dẫn lời mấy người bạn giáo viên từ Phan Rí Thành vào dự đám kể lại.
Trong hình dung của mình, cô Hoàng Lan vẫn còn trẻ lắm.
Hồi nhỏ, ấn tượng về cô có rất nhiều, cô hát hay, đặc biệt có giọng ngâm thơ hay. Và cô thương yêu học trò rất mực. Hồi đó nhà mình nghèo xơ xác, nhưng không hiểu sao đến giờ có lẽ chỉ có cô Hoàng Lan là người giáo viên ghé nhà mình nhiều nhất. Khi thì mang cho chị mình mượn cuốn sách, có khi mang đến cho luôn. Khi thì đến nói chuyện với bố mình về việc học gì đó của tụi mình. Và cũng lạ, nhớ hồi mình còn học lớp 4-5 gì đó, mà không hiểu sao cô Hoàng Lan đã chú ý đến mình trong khi cô dạy văn cấp II kia mà. Còn nhớ có hôm cô đến nhà gặp lúc mình đang đun củi nấu cơm chiều, cô cười cười bảo mình: Lam Điền làm hỏa đầu quân à. Mình ngớ ra vì lúc ấy vừa không biết chữ hỏa đầu quân vừa không nghe rõ vì cô nói giọng Huế. May sao có bố mình đứng cạnh vội nhắc, cô nói hỏa đầu quân tức là người lính nấu bếp đó. Mình ghi nhận thêm được một chữ, và nhận thấy cái cách hỏi chuyện của cô mới văn vẻ thú vị làm sao.
Lên cấp 2 có học cô, mình lây cái thú ngâm nga thơ phú từ rất sớm bởi hai người, một là bố mình, và người kia chính là cô Hoàng Lan.
Chị em nhà mình thích học văn, có lẽ vì vậy mà cô rất quý, còn nhớ hồi đó cô cho nhà mình 1 quyển sách rất hay, in các bài thi đoạt giải học sinh giỏi quốc gia của các thế hệ học sinh thời còn chiến tranh, cái cụm từ “giải nhất/nhì toàn miền bắc” bên dưới tên tác giả các bài văn ấy làm mình thấy ngồ ngộ.
Cũng trong quyển sách ấy, khi đọc đến bài làm của Trần Đăng Khoa trong kỳ thi văn quốc gia, thay vì bài văn như tên gọi kỳ thi, Trần Đăng Khoa đã viết một bài thơ dài, đến mấy chục khổ. Mình đọc đi đọc lại, tuổi thơ cứ băn khoăn, làm một bài thơ dài thay cho bài văn như vậy không khó, cái khó là tại sao thi văn mà giám khảo chấp nhận cho thí sinh làm thơ. hehe

Lớn lên, mình nhận ra đường tình duyên của cô Hoàng Lan lận đận. Nhưng rồi chuyện nhà chuyện học cuốn mình đi, có lúc ngoảnh lại thì nghe tin cô đã vào Phan Thiết đã lập gia đình với thân phận kế thất của một quan chức hàng tỉnh. Hay tin, lúc ấy tự nhiên thấy buồn buồn. Nhưng bấy giờ là bặt tin cô luôn rồi.
Nhớ lần tình cờ gặp cô cách đây cũng ngoài hai mươi năm, lúc chưa tốt nghiệp đại học. Trong một dịp tết về quê cũng như này, mình ghé Phan Thiết, một mình tha thẩn vào hiệu sách đối diện trường Phan Bội Châu, thì bất ngờ gặp cô. Hai cô trò mừng quá, nhưng cũng chỉ kịp hỏi han mấy câu vì hình như cô đang vội.
Sau đó lại bặt tin cô, nhưng trong những lần nhớ quê, bao giờ mình cũng nhớ cô, nhớ dáng người mảnh mai, giọng Huế nằng nặng ngâm thơ tuyệt hay và đôi mắt to lại có đuôi… Trong hình dung hồi nhỏ của mình, cô Hoàng Lan là một cô giáo đẹp.
Cũng có nhiều bận tự dặn lòng về Phan tìm nhà cô ghé thăm nói chuyện một phen cho đã, nhất là cách đây nhiều năm hay tin chồng cô đã mất, nghĩ bụng nay cô một mình nuôi con lại thấy buồn buồn.
Nhưng bao năm rồi mà cái ý dặn lòng vẫn chưa làm được. Nay đột ngột hay tin cô đã đi xa.
Mình bước chân ra khỏi nhà anh Thành, trời quê tối sẫm, nhìn ra khoảng sân tàu mênh mông, lại nhớ hình như ngôi nhà của ba mẹ cô từ lâu cũng đã dọn đi đâu mất rồi. Lòng càng thêm trống trải lạ kỳ.
Lại nhớ cái tên của cô, Hoàng Lan là tên một loài hoa. Mình không rành hoa, nhưng những năm cấp hai ở quê bố mình đưa quyển Để hiểu thơ Đường luật của Hư Chu kêu đọc, thoạt thấy cụ Hư Chu phê phán tất tật những bài thơ lâu nay được xem là hay như của Nguyễn Khuyến, Bà Huyện Thanh Quan là những khuôn vàng thước ngọc đang hiện diện trong sách giáo khoa, mình tá hỏa. Ráng đọc cho trôi, mới thấy Hư Chu lợi hại, và ông đơn cử một bài thơ Đường luật ông xem là chuẩn, lại là một bài vịnh hoa hoàng lan của cụ Tô Nam. Sẵn cảm tình với cô Hoàng Lan, mình đọc qua và thuộc luôn bài thơ ấy
Nay chép ra đây để nhớ cô, kể như một đóa hoàng lan mới lìa cành trong ngày cận tết sắp sang năm Canh Tý:

Nghe nói nhà lan có ả hoàng
Mở coi hoa phả biết dòng sang
Đứng bên khóm cúc chen màu sắc
Ngoảnh lại thềm chi nhận họ hàng
Vẻ đẹp giấu trong khi lẫn cỏ
Tiếng thơm nổi tự lúc rời hang
Trừ mai có lẽ lan là nhất
Quý nhất xem ra lại giống vàng.

[Phan Rí Thành, đêm 30 tháng chạp
24.1.2020]

Previous Older Entries

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.