Cái đẹp tuyên xưng giữa xã hội bất an

Bộ ba tác phẩm của Đoàn Minh Phượng vừa ra mắt bạn đọc cả nước – Ảnh: L.ĐIỀN

Nhà văn Đoàn Minh Phượng vừa trở lại với bạn đọc bằng bộ ba tác phẩm in cùng lượt: ngoài hai quyển tái bản: Và khi tro bụi với Tiếng Kiều đồng vọng, tiểu thuyết mới Đốt cỏ ngày đồng gây ấn tượng bởi hàm súc, đẹp, và đa nghĩa.

Thế giới tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng trong Đốt cỏ ngày đồng khởi từ cái đẹp. Người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp để làm ra tác phẩm cũng như thêm một lần làm sinh sôi cái đẹp cho đời.

Thế giới của cái đẹp, cho dù qua cảm nhận từ tâm hồn người nghệ sĩ hay chỉ là những thu xếp cho cuộc sống riêng tư của mình, là một chuỗi những thao tác có tính độc đáo, đơn nhất và không dễ chia sẻ. Chỉ có ở cự ly gần, người ta mới thấy sự thu xếp ấy cũng là một chuỗi cái đẹp. Đoàn Minh Phượng không quên mình đang làm nghệ thuật, nên từ nhân vật xưng tôi, độc giả có thể thấy cuộc sống đời thường, chiều sâu suy nghĩ, những ám ảnh về xã hội/ con người trong hành trình người nghệ sĩ đi tìm chất liệu để sáng tác.

Từ khởi phát ấy, Đoàn Minh Phượng khéo léo nén chặt những bi kịch xảy ra cho bản thân nhân vật là người nghệ sĩ trước cách thế ứng xử với cuộc đời. Cảm giác như tác giả đã sử dụng ít nhiều thủ thuật điện ảnh để cấu trúc mạch truyện đạt độ hàm súc đáng kể. Sự cố bắt người, tập tác phẩm cất trong tủ người yêu ở lại bị xem là tài liệu cấm, và hệ lụy kế tiếp là nó đẩy một người nữ mong manh vào đường cùng, lọt vào đường dây lừa lọc với những con thú đội lốt người thạo việc biến thân xác phụ nữ thành một nấc thang vừa để cho người này bước lên những tầng danh lợi vừa vùi dập những thân phận thấp hèn xuống sâu hơn nữa trong những lớp nhơ bẩn của cuộc đời.

Kỳ lạ thay, ở tận tầng đáy xã hội vẫn còn cái đẹp tột cùng. Q – một cô gái giang hồ câm điếc nhưng đẹp đến nao lòng cả những “đồng nghiệp” xung quanh, là một tồn tại có chất biểu tượng: Giữa một thế giới bất an, cái đẹp hiện diện ngay cả ở cách thức không hoàn hảo nhất. Bản thân khuyết tật, thân phận bị dập vùi, cuộc sống không tương lai… nhưng Q vẫn như đóa hoa đẹp lạ lùng bất chấp. Cho đến sự cố chính Q rút dao đâm chết gã đàn ông vẫn chung đụng với cô, đóa hoa ấy như một lần bung nở rồi mất hút giữa cuộc đời…

Với những chất liệu có thể xây dựng thành bộ phim với nhiều trường đoạn ly kỳ hấp dẫn thậm chí đậm chất lãng mạn, kỳ ảo, Đoàn Minh Phượng làm một việc kỳ công hơn nhiều: dùng ngôn ngữ để đúc dựng thành một tiểu thuyết chưa đến hai trăm trang. Công phu ấy đưa thế giới truyện vượt ra khỏi dung lượng câu chữ, vượt luôn khỏi tư duy của chính tác giả. Bởi giờ đây, Đốt cỏ ngày đồng với mỗi người đọc chắc chắn sẽ cựa quậy trong tâm trí theo mỗi cách khác nhau. Chỉ có điểm chung là cảm nhận về cái đẹp.

Công phu của tác giả còn ở chỗ dụng công để có rất nhiều câu chữ đẹp. Và may mắn thay, qua những “lớp truyện” mặc dù kiệm lời, người đọc kịp nhận ra một tinh thần hướng thượng được tác giả tạo thành mạch chảy âm thầm qua những biến cố của nhân vật. Đó là T, một tu sĩ, như là một người tình, một ân sư, người có kiến thức giúp “tôi” tồn tại trong trạng thái vô minh đồng thời cũng có năng lực neo giữ niềm tin của người tín nữ kia hướng vào điều thiện và nuôi dưỡng trí tuệ để quán sát hành động trong cuộc đời.

Một tiểu thuyết nhỏ bé, nhưng sức nặng thật bất ngờ. Càng bất ngờ hơn khi sức nặng đến từ cái đẹp. Tất nhiên, đó cũng là một công dụng của ngôn từ. Hãy đọc, trong không gian gặp gỡ của nhân vật nữ với vị thầy tu tại nhà mình: “Làm sao tôi biết được chúng tôi còn sống được bao lâu, còn có mấy lần gặp được nhau, được ân cần trong im lặng”. Hay một lời bột phát ném vào vị tu sĩ hốt nhiên làm ta nhận ra như tiếng quát đang còn thời sự: “Không phải là thầy không thể biết Q có thật hay không, mà là thầy không dám biết. Thầy chỉ đang tìm đủ lý lẽ để nhấn chìm, để trả Q về lại cái lịch sử chúng ta không bao giờ dám chạm tới”.

Sức nặng ấy của Đoàn Minh Phượng sẽ theo đuổi nhiều người trong nhiều việc về sau…

Lam Điền

Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng

Sách của sư ông Thích Phước An vừa ra mắt – Ảnh: L.Điền

Ra sách về các “ngôi sao trí thức” của miền Nam trước 1975

Các văn sĩ trí thức của miền Nam một thời lần lượt xuất hiện trong tập sách Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng vừa ra mắt của sư ông Thích Phước An – người cuối cùng của thế hệ tao nhân mặc khách còn bám trụ nơi đồi Trại Thủy – Nha Trang.

Tập sách chính là dịp may hiếm có để bạn đọc ngày nay diện kiến các nhân vật từng là “sao” trong giới sinh viên, nghệ sĩ và trí thức miền Nam từ trước 1975: Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Quách Tấn, Tuệ Sỹ, Võ Hồng, Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn…

Có thể xem là dịp may, bởi đây chính là tâm sự của một người có giao tình với các tác giả trên kia. Tạm gác qua cái tầm vóc lừng lẫy của những nhân vật từng đóng góp không nhỏ cho ngôn ngữ, triết học, tư tưởng và cả tinh thần dấn thân… của một thế hệ, nội việc sư ông Thích Phước An nhẩn nha kể lại những gì mình biết, mình tâm đắc, thích thú, ấn tượng và đã trầm tư rất lâu qua thời gian rất dài để hiểu được những nhân vật trên ở cự ly gần, trong tình thân ái trân trọng, là cả một nhân duyên quý giá.

Duyên bút mực. Cái tinh thần ấy từng một thời tuôn chảy trong văn giới để kết nối những tấm lòng. Đọc Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng, càng thú vị khi thấy tác giả Thích Phước An đã từ chỗ trân trọng mối duyên bút mực trên nền suy tư của đạo lý, của tư tưởng và cách thế ứng xử với đời… viết ra như một cách trải lòng cùng những người bạn thiết.

Nhờ vậy, người đọc hôm nay như tự thấy mình được cùng trở về với không gian của một thời bình yên trong tao loạn, về với những tấm lòng gắn bó sắt son giữa lúc quê hương tan rã, về với những tư tưởng vượt thoát khỏi nhu yếu đời thường trong lúc hiện thực bấy giờ đang mài mòn bao nhiêu mảnh đời mà hệ lụy đến nay còn chưa dứt được…

Trong tâm sự của Thích Phước An, Tuệ Sỹ không chỉ là một tâm hồn thơ “thâm viễn u u” như cách nói của Phạm Công Thiện. Tuệ Sỹ trong mối thâm tình với sư ông ở đồi Trại Thủy có chất men của chữ nghĩa thánh hiền, có nguồn nước của triết lý Phật giáo, có ngọn lửa nhập thế và cả tinh thần trầm tư mà quyết liệt chọn cho mình một cách sống trước biến động của quê hương.

Và có lẽ phải đọc Thích Phước An ở tập sách này mới biết được đầy đủ hơn Phạm Công Thiện – con người đặc biệt trên rất nhiều phương diện. Tầm mức cao xa của Phạm Công Thiện lại được sư ông Phước An diễn đạt bằng ngôn ngữ bình dị, chân tình. Nhờ vậy mà lừng lững một vóc dáng trí thức, uyên áo một bộ óc suy tư và thâm thúy một tấm lòng dâng cả cho quê hương đất nước ở Phạm Công Thiện mới được gạn lọc bày tỏ hết nơi đây. Cũng nhờ đó mới biết được Phạm Công Thiện từng có quan niệm về đọc, rất độc đáo xét trong suốt cả chiều kim cổ: “Những người không biết chữ ở tận rừng rú hoang vu cũng phải đọc từng lá cây ngọn cỏ, từng dấu vết chân voi, từng vết mây dưới chân đèo, từng hơi gió thoảng qua trên suối vắng. Đọc không phải chỉ là đọc chữ…”.

Đọc sư ông Thích Phước An, cảm giác như những người bạn của ông – những nhân vật lớn lao tên tuổi kia – đã phiêu dạt tận nơi nào, đóng góp và dấn thân, tiến thoái và thành bại tận đâu đâu… Duy chỉ còn nhà sư tuổi ngày một cao ngồi nơi đồi Trại Thủy, tỉ mẩn lần giở tàng thư và lần giở từng dòng hồi tưởng, để viết lại những gì sâu lắng nhất.

Đó là Quách Tấn trong mối quan tâm về những huyền thoại khai sơn lập địa tạo thành nơi chôn nhau cắt rún của dân quê; là Hoài Khanh trong cuộc lữ của đời mình đã tình nguyện vướng vào nhiều mảnh đời khác nữa, để rồi cảm nhận về thân phận khiến ông buột ra câu thơ tuyệt tác: “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng/ Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”; là Võ Hồng với những thao thức về quê hương, người tha thiết muốn nắm bắt cho kỳ hết những nét đẹp của quê hương để đem vào tác phẩm chia sẻ cho người đời…

Đọc sư ông Thích Phước An, bỗng trộm nghĩ cái nỗi niềm thao thức trong những người trí thức như ở sách này chẳng biết ngày nay có còn không? Cảm thức quê hương đến mức thấy quê nhà thiêng liêng như Phạm Công Thiện đến nay có còn ai chia sẻ? Bùi Giáng với tất cả bình sinh tâm sự và sức lực tâm tư dốc vào cuộc chơi cùng chữ nghĩa phố phường, cả cuộc đời và tác phẩm quyện nhau thành ngọc quý, hiện giờ có ai bước tiếp được chăng? Hay cuộc đời nay đã biến thiên, mối đạo cũng không còn nguyên thủy như thầy Tuệ Sỹ từng than gián tiếp trong khi dịch lời của Tô Đông Pha: “Chỉ lấy theo chỗ giản tiện, được một câu kinh, một bài kệ, tự cho là liễu chứng… Cái dư ba mạt lưu đó không đâu không chảy tới. Mà cái vi diệu của Phật pháp đã mất rồi”.

Trong lúc mọi thứ đang dường như bị sa mạc hóa từ nhiều phía, người có tấm lòng kết nối với tiền nhân qua tư tưởng và ngữ nghĩa văn thơ như sư ông Thích Phước An là trường hợp vừa hiếm hoi vừa quý lạ. Vậy mà có lúc, sư ông cũng không giấu được nỗi đớn đau trước thực tại hiện tiền: “ngày nay, nền văn minh hiện đại đã cung cấp cho chúng ta nhiều thú vui thấp hèn quá, nên dường như tâm hồn của chúng ta đã nguội lạnh…”.

Phải chăng điều ấm áp còn lại chỉ có thể tìm trong những trang sách, với rất nhiều tâm sự về học giới một thời không dễ gì có được.

Lam Điền

Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng là câu thơ của Phạm Công Thiện, tác giả Thích Phước An vì yêu thích nên dùng làm nhan đề cho sách. Như ông tâm sự, nhân vật đề cập trong sách này là “những tên tuổi lớn đã tác động mãnh liệt đến văn học, thi ca và tư tưởng Việt Nam từ hậu bán thế kỷ XX đến tận ngày nay”. Tác giả không chỉ ghi chép những kỷ niệm và cảm nhận sâu sắc về các nhân vật quan trọng ấy, mà qua đó bộc bạch những nhân duyên của mình từ thuở bé thơ cho đến lúc gắn bó với đạo Phật và kết nối nhân duyên với văn chương…

Đọc sử, các em sẽ tin tưởng hơn ở tiền đồ của dân tộc

Tác giả Trần Viết Ngạc tại bàn làm việc ở nhà – Ảnh: L. ĐIỀN

Nhà nghiên cứu, thầy giáo Trần Viết Ngạc vừa ra mắt quyển sách Góp nhặt – Tìm hiểu lịch sử Việt với nội dung gồm nhiều vấn đề tồn nghi trong lịch sử Việt Nam được ông nêu ra và tìm hiểu cặn kẽ, lý giải thuyết phục.

Ông vừa dành cho Tuổi Trẻ một cuộc trò chuyện xung quanh đề tài lịch sử nhân dịp này.

Tuồi Trẻ: Mặc dù khiêm xưng là “góp nhặt”, nhưng quyển sách vừa ấn hành của ông đề cập đến rất nhiều vấn đề của lịch sử: thú vị vì góc nhìn có, mới lạ do tư liệu đem lại có, lại có cả những tìm tòi khám phá trong nhiều nguồn sử liệu… Như vậy, nếu phải nói có một nguồn cảm hứng đóng vai trò nắm giữ mối quan tâm của ông với đề tài lịch sử, để từ đó hình thành các trang viết như “Góp nhặt…” vậy, thì đó là gì?

Trần Viết Ngạc: Nếu phải nói có nguồn cảm hứng nào dẫn tôi vào lịch sử Việt Nam để rồi dạy sử, nghiên cứu sử suốt hơn nửa thế kỷ, thì khởi đầu chính là Sào Nam Phan Bội Châu. Từ lúc còn là một cậu học trò trường Quốc học Huế, tôi đã có may mắn đọc hai cuốn tự truyện của Sào Nam: cuốn Ngục trung thư (bản dịch của Đào Trinh Nhất, nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1950), và Tự phán (nxb Anh Minh, Huế, 1956). Cuốn thứ nhất, Phan Bội Châu viết tại nhà tù Quảng Châu (Trung Quốc) khi bị Long Tế Quang bắt giam (1914).

Ngục trung thư là tiếng kêu thống thiết của người tù mang án tử hình (1913), là lời trăng trối của Sào Nam nhưng đồng thời là một cuốn sử cách mạng Việt Nam từ lúc Nam Kỳ mất (1867) cho đến những năm đầu thế kỷ XX.

“Con chim sắp chết, tiếng kêu đau thương, con người sắp chết, lời nói ngay thẳng… Còn một giây phút trước khi ta phải chôn mình dưới đất, ta cũng muốn cạn lời ta nói. Chiếc bóng bơ vơ trời biển, ngọn đèn leo lét gió mưa, ta thấm giọt lệ còn lưu lại mấy chục năm nay, gom góp lịch sử một đời ta, hòa với máu mà viết ra tập sách này. Hỡi ba ngàn muôn đồng bào, chí ái chí thân…Khi đọc tập sách này, sẽ thấy giọt máu hầu khô, vẫn còn đầm đìa trên mặt tờ giấy vậy”.

Tôi đọc đi đọc lại Ngục trung thư, thuộc lòng nhiều đoạn, và khi dạy sinh viên về Phan Bội Châu, Đông Du… tôi đọc cho sinh viên nghe. Một nỗi xúc động nối kết thầy và trò. Tập sách đã có tuổi 70 năm (1950 – 2020), giấy đã vàng và dòn…, và đó là tác phẩm đã dẫn dắt tôi vào môn sử Việt.

Cuốn thứ hai: Tự phán, viết năm 1929 tại Bến Ngự, Huế. Giọng văn tự sự trầm tĩnh hơn, và lịch sử những năm cuối thế kỷ XIX, trầm uát với thất bại của phong trào Cần Vương thì qua đầu thế kỷ XX, niềm hy vọng đã sáng lên với Duy Tân hội, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội… Những chân dung được Ông Già Bến Ngự khắc họa làm lịch sử phong phú, hấp dẫn. Chân dung Tăng Bạt Hổ không thể mô tả đẹp hơn, sinh động hơn:

“Ông tuổi ngoài bốn mươi mà râu mày cốt cách, trời hạ sương thu, trông qua một lần mà chắc là người duyệt lịch đã dày lắm… kể tình hình ngoài biển rất kĩ mà nói đến nhân vật nước Tàu… rạch ròi như đếm tiền trong túi”.

Sau này, được xem ký họa của Tăng do một ký giả Nhật ghi lại mới thấy mô tả của Sào Nam là tài tình và tuyệt thú.

Ngục trưng thư và Tự phán dạy cho tôi bài học nhập môn: 1/ Sử Việt rất hay, rất hấp dẫn. 2/ Dạy sử Việt, nghiên cứu sử Việt không bao giờ nhàm chán, miễn là người dạy, người nghiên cứu phải gia công tìm tòi, tìm hiểu, không bao giờ thỏa mãn với điều mình có. Sự hiểu biết là vô cùng, phải làm sao cho những trang sử “hầu khô” vẫn còn “đầm đìa” xúc cảm. 3/ Dạy sử, nghiên cứu sử, phải tìm đến những nơi từng xảy ra sự kiện nếu có dịp. Tái hiện nhân vật thì không gì hơn tìm đọc những gì họ viết… Nhận định về Huỳnh Thúc Kháng mà không đọc những gì ông viết thì làm sao hiểu được ông? Viết về Phan Châu Trinh mà không đọc Danh ngọc lương sơn… thì chỉ lầm lạc. 4/ Nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử Việt Nam, làm cho tâm hồn mình, sự hiểu biết của mình… trở nên “giàu có”… rồi truyền lại cho học trò, cho bạn đọc làm cuộc sống thêm ý nghĩa.

Chỉ riêng một nội dung của phong trào Duy Tân, mà câu chuyện về lá cờ Việt Nam theo dạng “ngũ tinh liên châu” với cả đồng bạc “Quân dụng ngân phiếu” phát hành năm 1912, cho thấy lịch sử hiện đại Việt Nam có những bước chuyển mình quan trọng mà dường như vì lý do gì đó lâu nay ít được tìm hiểu, ít được biết đến và dĩ nhiên không được giảng dạy trong trường phổ thông. Nếu tự đặt mình vào vị trí một học sinh cấp 3, ông sẽ có cảm nghĩ gì khi đọc các bài trong quyển “Góp nhặt…”?

Xin thưa, trước hết là các em sẽ thấy sử Việt không khô khan, nhàm chán như các em nghĩ và cảm nhận. Không thầy cô, sách giáo khoa nào nói với các em ý nghĩa lớn lao của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và ba năm độc lập đầu tiên của hành trình ngàn năm đấu tranh cho nền độc lập dân tộc.

Các em sẽ hiểu vì sao các tổng thống Mỹ khi đến thăm nước ta đều nhắc đến Hai Bà Trưng. Các em sẽ tin tưởng hơn ở tiền đồ của dân tộc dù hiện nay ta đang bị xâm lược và o ép ở Biển Đông.

Các em sẽ hiểu thêm lịch sử dân tộc không dừng lại ở chiến tranh, ở sự tiếp nối của triều đại mà còn là cuộc sống của người dân, đời sống văn hóa của dân tộc…

Và quan trọng là… những trang sách sử có nhiều sai lạc cần được đính chính, tìm hiểu rạch ròi hơn (Nguyễn Hoàng, 400 năm nhìn lại; Không có chiếu Cần Vương nào cả…).

Học sử phải luôn đặt câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Và nếu cần đặt vấn đề ngược lại như phương pháp “phản chứng” trong toán học: – Tại sao phải hư cấu “trăm trứng” trong truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ? – Nếu Hai Bà Trưng thất bại trong cuộc khởi nghĩa năm 40 thì số phận dân tộc ta sẽ ra sao?

Sau nhiều chục năm nghiên cứu và theo đuổi các đề tài lịch sử, ông có cho rằng về chuyên môn, việc nghiên cứu sử ở ta đang còn thiếu gì không?

Lịch sử nước ta rất phong phú, hấp dẫn… nếu được phản ánh một cách khoa học, khách quan. Nghiên cứu lịch sử là tái hiện quá khứ như nó đã xảy ra, đó là lý tưởng của khoa học lịch sử. Người nghiên cứu chỉ hy vọng tái hiện càng trung thực càng tốt… với những chứng cứ đã được khảo nghiệm nghiêm ngặt.

Lịch sử không còn là lịch sử nếu người nghiên cứu có những định kiến từ trước. Lịch sử không phải để minh họa cho những nhận định chính trị nhất thời.

Và người nghiên cứu phải dè chừng những sai lạc lâu ngày đã trở thành “sự thật” (!) và được dẫn chứng qua nhiều thế hệ, qua bao nhiêu sách vở.

Chiếu Cần Vương, Hàm Nghi đế chiếu… là một ví dụ” Mở đầu chiếu ấy có hai chữ “Dụ viết” là hình thức mở đầu của một Dụ (sắc lệnh), trong khi mở đầu của một Chiếu (tuyên cáo, thông báo quan trọng) thì khác rất nhiều (Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế chiếu viết…) vậy mà bao nhiêu năm có ai để ý đâu.

Tôi không dám nói nhiều, chỉ xin nghiên cứu thì phải khách quan, không có định kiến, không có ý định minh họa… Và cuối cùng, xin các đồng nghiệp một điều thôi: Chúng ta dạy lịch sử, quá khứ của dân tộc, của nhân loại chứ không phải chúng ta dạy nhận định về quá khứ.

Lam Điền thực hiện

Tập sách Góp nhặt – tìm hiểu lịch sử Việt vừa ra mắt – Ảnh: L ĐIỀN

Truyện bà Liễu Hạnh(*)

[Hôm trước lục báo xưa bắt gặp bài của Thượng Tân Thị viết về bà chúa Liễu Hạnh, chụp hình post lên FB, nhưng hình nhỏ chữ mờ, xem qua biết có cái bài nhưng đọc thì không được. Nay bèn gõ lại thành bản text để bằng hữu đọc chơi cho biết. Bài này in 2 kỳ liên tiếp trên tuần báo Tân Văn, là tờ báo lớn phát hành ở Nam Kỳ hồi 193x. Tác giả Thượng Tân Thị là cây bút nổi tiếng, lại viết về câu chuyện ở Bắc kỳ, cũng là lạ vậy.]

Kỳ 1: trên báo Tân Văn, số ra ngày 13 Avril 1935:

Một sự tích nước nhà: Bà Liễu Hạnh công chúa

Nhơn thấy trong báo “Ngày Nay” số 5 ra ngày 10 Mars 1935, nơi bài Đánh cá Hồ Tây, có một câu hỏi: “Tại làm sao đức Liễu Hạnh công chúa lại có miễu thờ ở Hồ Tây được?” Nên tôi xin thuật ra đây cho ông Việt Sinh là tác giả bài ấy rõ và cũng luôn dịp cống hiến cho quý độc giả “Tân Văn” rõ biết nước ta cũng có một vị con gái hiển thánh rất phi thường mà hiện nay từ phía bắc xứ Trung kỳ trở ra còn sùng bái lắm vậy. Tôi còn nhớ hồi nhỏ, tôi có đi dự hội đền Sòng (Thuộc phủ Hà Trung tỉnh Thanh Hóa) có gặp một ông kỳ lão đưa bổn sự tích của bà Liễu Hạnh (chép bằng chữ Hán) cho tôi xem, nhưng tiếc vì hồi đó lộ đồ, tôi không có giờ rảnh mà chép lại bổn sự tích ấy, tôi chỉ coi qua một bận rồi trả lại cho ông. Thế mà đến bây giờ tôi cũng còn nhớ được gần hết, chỉ quên ít bài thi mà thôi.

Bà Liễu Hạnh họ Lê, người huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Bắc kỳ, cha mẹ bà ăn ở nhơn đức, kết bạn với nhau đã lâu năm mà không có con, mãi đến sau mới sanh được một mình bà. (Trong truyện chép: bữa tối sanh bà thì có hào quang sáng cả trong ngoài và mùi thơm lạ bay đầy nhà) cha mẹ bà thấy sự khác thường thì sợ, bèn đem bà cho ông bạn là Trần Công nuôi làm con nuôi. Ngày bữa ấy ở ngoài vườn Trần Công cũng có ai đem bỏ một đứa con trai mới đẻ ở dưới gốc cây đào, Trần Công đem về nuôi luôn và đặt tên là Đào Lang.

Khi bà Liễu Hạnh và Đào Lang lên được 7, 8 tuổi thì Trần Công cho đi học, hai người đều học giỏi cả, sau Đào Lang thi đỗ tú tài. Đến khi khôn lớn thì Trần Công lại đứng làm chủ hôn cho hai người kết làm vợ chồng với nhau. (Nguyên bà Liễu Hạnh là ngọc nữ, Đào Lang là kim đồng, hầu ở trên Tây cung vương mẫu, vì làm bể cái chén ngọc, mà phải đày xuống trần gian một ít năm). Được hơn một năm, thì bà có sanh hạ một người con trai, kế bà lâm bệnh từ trần. Khi bà gần nhắm mắt, thì bà có nói với chồng, trong mười bảy năm nữa, thì vợ chồng lại gặp nhau.

Bà mất rồi, Đào Lang buồn rầu, có làm lắm bài thi thiệt hay, tôi còn nhớ được một bài:

Man man nguyệt sắc như tiền độ
Nguyệt sắc bất tri nhơn tứ khổ
Tảo thức tiên nhơn dị biệt ly
Đương niên mạc nhập thiên thai lộ
.

(Sắc trăng mờ tỏ như hồi trước
Nỗi khổ người, trăng khôn thấu được
Sớm biết người tiên dễ biệt ly
Thiên thai năm đó không lần bước).

Vài tháng sau, Đào Lang rầu buồn quá cũng chết, chàng đầu thai làm con trai của một nhà ở trong Nghệ An.

Đây nói về bà Liễu Hạnh khi mất rồi thì biến hóa ở núi Bỉm (Bỉm Sơn) làm cô gái bán quán (con đường trong Nam ra Bắc phải đi ngang qua đó) ai thấy bà đẹp mà chọc ghẹo, thì phải đau ốm, đem lễ vật mà khấn vái thì lành mạnh liền.

Bà nhơn đó có tiền bạc đem về cung cấp cho cha mẹ ruột bà (vì lúc đó cha mẹ bà nghèo lắm) mà đáp nghĩa sanh thành, đến chừng cha mẹ bà mất rồi bà mới thôi cung cấp.Sau bà lại hiện ở trên khu rừng Lạng Sơn (đâu như ở Đồng Đăng thì phải) bữa kia ông Phùng Khắc Khoan (làm quan triều Lê) đi sứ Tàu, ngang qua đó, thấy trong rừng có một con gái ngồi thiệt đẹp, thì ông đọc lên rằng:

Tam mộc sâm đình tọa trước hảo hề nữ tử;

Chữ “tam mộc” nhập lại là chữ “sâm”, chữ nữ chữ tử nhập lại là chữ hảo. Ý ông nói ba cây mọc ở sân sum sê, có một người con gái ngồi thiệt đẹp.

Bà liền ứng khẩu đáp lại: Trùng sơn xuất lộ, tẩu sai sứ giả lại nhơn. Chữ trùng nghĩa là lần cũng như hai, hai chữ sơn nhập lại thành chữ xuất, chữ “lại nhơn” nhập lại thành chữ sứ. Ý bà nói: đường ra trong lầu núi có một ông quan sứ đi qua là kẻ lại. Ông Phùng nghe đọc xong câu đối ấy, thì ông biết bà là người thiên tài, bèn xuống ngựa đi đến chỗ ấy mà tìm, thì bà biến đi đâu mất, ông Phùng ghi nhớ chỗ ấy, rồi nói với quan trấn Lạng Sơn lập miễu thờ bà.

Phong dao ngoài bắc có câu:

Ai lên phố các Đại Đồng
Hỏi thăm cô tú có chồng hay chưa?

Thì chắc cũng là tích nầy.

Khi ông Phùng đi sứ Tàu về, ông tự nghĩ: hồi nào ông ở bên Tàu, nay đi chơi hồ Động Đình, mai đi chơi chầm Bành Trạch, nào lầu Hoàng Hạc, nào Cát Tình Xuyên, bao nhiêu danh sơn thắng tích bên Trung Quốc, đều thâu vào trong con mắt ông cả. Bây giờ về triều, việc quan ràng buộc trăm bề, thật là khó chịu, ông bèn rủ hai ông bạn là Lý cử nhơn và Ngô tú tài đi chơi Hồ Tây cho thư thả.

Linh đinh mặt nước một chiếc thuyền nan
Lấp nhấp lưng hồ vài con sóng lượn.

Thuyền chèo ra gần giữa hồ bỗng thấy trước mặt có một tòa lâu các nguy nga (chư độc giả có biết nhà của ai không? Chính là của bà Liễu Hạnh hiện ra vậy). Ông Phùng bèn biểu ghé thuyền lại đó, ba ông đồng bước lên bờ rảo xem thấy trước cửa ngõ đề một đôi liễn:

Hồ trung nhàn nhựt nguyệt
Thành ngoại tiểu càn khôn.

Ba ông thì thầm với nhau, đây chắc là chỗ danh gia vọng tộc, chớ chẳng phải chỗ tầm thường, chúng ta sẽ xin phép vào chơi cho biết. Thì có một nàng thế nữ ở trong cửa đi ra, ba ông đón hỏi: Chúng tôi là kẻ trần khách, lạc bước tới đây, muốn vào xem chốn cung tiên, chẳng biết có được hay không? Thế nữ nói: Để tôi vào thưa với bà tôi xem. Một lát thế nữ ra nói: Bà tôi kỉnh mời quí khách vào.

Ba ông khăn áo chỉnh tề, theo thế nữ từ ngoài đi vô, thấy đền đài lộng lẫy thì trong lòng hồi hộp như đến chỗ cung cấm vậy. Đến nhà khách, thế nữ mời ba ông ngồi đó, rồi đi vô nhà trong, bẩm cho bà hay, bà ra chào khách, mùi huê thơm ngát, khiến cho ba ông ngơ ngẩn tâm thần, mà nhứt là Ngô tú tài thấy sắc đẹp của bà thì lại càng mê mẩn hơn nữa.

Chủ khách ngồi đối mặt nhau uống trà nói chuyện, lời lẽ ôn tồn văn chương lưu loát, thì lấy làm tâm đắc với nhau lắm. Bà nói tôi muốn vịnh bài trường thiên tả cảnh Tây hồ chơi, mà một mình tôi làm không vui, nay có ba ông đây, chúng ta mỗi người cứ liên tiếp nhau xướng một câu cho thành bài, thì chắc là hay lắm. Ba ông đồng thanh nói được, xin bà xướng lên trước đi, rồi anh em tôi tiếp sau.

Bà xướng:
Tây hồ biệt chiếm nhứt hồ thiên (Bầu trời riêng chiếm một Hồ tây);
Ông trạng Phùng:
Túng mục càn khôn tận khóa nhiên (Buông mắt càn khôn rộng thế nầy);
Ông cử Lý:
Cổ thọ viễn trang thanh tịch tịch (Cây cỏ lặng xa màu lục sậm);
Ông tú Ngô:
Kim ngưu khoát bộ lục quyên quyên (Trâu vàng dấu đậm nước xanh đầy);

Ba ông sính nghề thơ cứ chuyền lao nhau đọc một hơi đến năm sáu chục câu không dứt.

[Hết kỳ 1
Thượng Tân Thị]

Kỳ 2: trên báo Tân Văn số ra ngày 20 Avril 1935:

Một sự tích nước nhà: Bà Liễu Hạnh công chúa (tiếp theo và hết)

Bà ngồi yên để nghe ba ông đọc, chừng đến câu chót hết, ba ông đã đuối hơi, bà mới chen vô được một câu nữa là:

Đắc nguyệt phương tri ngã thị tiên” – Được trăng mới rõ thiếp tiên đây,

Bài thi nầy dài lắm, tôi chỉ nhớ được có năm câu thôi.Trời xế có một ông chài đem ba con cá vào nói: “Bữa nay bà có khách quí, tôi đem biếu ba con cá ngon để làm gỏi nhậu chơi một bữa”, bà gật đầu rồi biểu treo ở mái hiên, ông chài bước ra, bà biểu thế nữ đem cá ra nhà sau làm gỏi nhắm rượu. Chẳng bao lâu gỏi dọn ra, bà mời ba ông khách uống rượu, và bà nói: “Chẳng mấy khi có ba ông, đến chơi mà lại được cá ngon làm gỏi thì quý lắm. Vậy tôi nghĩ vụng một câu đối, xin ba ông vừa uống rượu vừa đối chơi, ấy cũng là một điều phụ ích vậy.

Bà đọc:“Tam ngư thiên khoái, lâu trung hội ẩm chúng tam nhơn”,

Ba chữ “ngư” nhập lại thành chữ thiên, chữ ngư chữ hội nhập lại thành chữ khoái là gỏi, chữ chúng có ba chữ nhơn là người. Ý bà nói có ba con cá làm gỏi ngon, trong lần nhóm lại ba người khách đông.

Ba ông vừa nhắm vừa nghĩ, tiệc gần tàn, trời gần tối, mà không ra, tính đành phải chịu thua bà. Nhưng thời may, vừa trăng ló giọi, lóng lánh mặt hồ, khiến cho ông trạng Phùng nảy tứ ra mà đối đặng:

Ông Phùng đối:

Lưỡng cá trúc diên, hồ thượng diên bằng khan lưỡng nguyệt”,

Hai chữ “cá” nhập lại thành chữ “trúc”, chữ trúc chữ diên nhập lại thành chữ diên là tiệc, chữ bằng có hai chữ nguyệt là mặt trăng. Ý ông Phùng nói hai cái ghế tiệc bằng tre, trên hồ với bạn ngồi xem hai mặt trăng.

Bà khen câu đối hay, và ông cử Lý, ông tú Ngô cũng chịu ông Phùng là bực đại tài.Trời đã khuya, trăng đã xế, ba ông cáo từ ra về, mà trong trí cứ mơ tưởng về dung nhan và cách điệu của một người con gái như tiên nga thuở nay chưa từng thấy bao giờ. Ông Phùng, ông Lý là bực lão thành, còn đè nén cái dục vọng xuống được, thì chẳng nói làm chi, chớ còn ông Ngô trẻ trung, hễ thấy sắc tốt, thì cái dục vọng phừng lên như lửa dậy, không thể đè được. Bởi vậy về nhà chưa được mấy ngày thì lại nhớ cảnh Hồ Tây hôm trước, ông Ngô bèn lót tót, đến rủ ông Lý, ông Phùng đi chơi nữa.

Nhưng chuyến nầy đi Hồ Tây thì chỉ thấy:

Lầu đài ẩn ở nơi nao
Đầy hồ sen nở ngạt ngào gió Nam

Ba ông đứng ở trên thuyền nhìn một hồi lâu không thấy chi hết, rồi quày trở về. Ông Phùng nhớ suy nghĩ mới nhớ lại hồi ông đi sứ Tàu có gặp một người con gái như thế, thì đây chắc cũng là người đó. Ông bèn thuật lại cho hai ông kia hay và cũng giải được lòng khao khát của ông Ngô. Sau ông Phùng có lập miếu thờ bà ở đó.

Bà Liễu Hạnh có hẹn với người chồng trước là Đào lang trong mười bảy năm nữa thì lại gặp nhau, nay Đào lang đầu thai ở Nghệ An đã được mười bảy năm rồi, nên bà phải lo về đó, đặng có vầy duyên cá nước.

Bà từ biệt Tây Hồ về Nghệ An, bà lựa chỗ mà người chồng trước của bà thường hay qua lại đi học, bà cất một cái quán bán bánh nước.Đây nói Đào lang đầu thai làm con trai nhà họ… ở Nghệ An, nhưng sanh ra được 5, 6 tuổi thì mồ côi cha mẹ, ở với chú nuôi cho ăn đi học, đến năm chàng 17 tuổi, học hành đã giỏi, thường bữa chàng đi học ngang trước quán thấy có người con gái đẹp, thì phải lòng mà không dám nói ra. Bà Liễu Hạnh biết ý mới làm thơ ghẹo chàng, dán ở gốc cây gần bên quán, mà tôi nhớ được hai câu:

Lệ chất thiên sanh bất giả tài
Phương tâm trinh thủ kỷ niên lai

(Chất tốt trời sanh chặng mượn trồng
Lòng trinh bền giữ bấy nhiêu đông)

Chàng xem thơ có họa lại, tôi không nhớ được hết, tôi chỉ nhớ có một bài nầy là bài chót. Khi chàng họa thi đem dán ở gốc cây kế bên bài thi của bà Liễu Hạnh, rồi đêm ấy trời [mưa] lớn, chàng lo sợ không [biết] bài thi của chàng họa mà bà có xem được không, hay là mưa trôi mất. Sáng ngày chàng dậy sớm đi ra xem, thì hãy còn y nguyên, mà lại có bài thi khác của bà họa, cũng dán bên đó, chàng mừng, bèn làm ra bài thi nầy mà tự thuật:

Vạn chưởng tương tư trấn nhựt tài
Tầm phương nhẫn phụ thử phiên lai
Sổ hàng cẩm tự nhơn như kiến
Nhứt trận thanh phong hoa chánh khai
Thùy cố trùng mong quân hữu ý
Khiên kỳ thác hận ngã vô môi
Vu ta kỳ ngộ thành ô hữu
Sầu hải man man diếu độ bôi.

(Trồng bóng nhựt tương tư muôn giống
Dạo tầm phương lại ngóng phen này
Vài hàng chữ gấm người hay
Gió thanh một trận chính rày nở hoa
Lòng xũ đoái nàng đà chẳng đổi
Giận không mai ta lỗi hẹn hò
Than ôi kỳ ngộ ở mô
Biển sầu mờ mịt nhấp nhô chén nồng).

Bà Liễu Hạnh có họa lại mà tôi còn nhớ một câu thúc kết: “Mạc oán thiên đình trụy ngọc bôi” (Chớ oán thiên đình chén ngọc rơi). Chàng xem câu nầy không hiểu ý bà nói cái gì, mãi sau nầy bà nói lại mới hiểu.

Ngày kia, chàng đi học về, bà Liễu Hạnh đón mời chàng vô quán, bà nói: “Tôi biết chàng có lòng tưởng đoái đến tôi mà giữ lễ phép không dám nói, nếu tôi cũng làm lơ, thì tội nghiệp cho cái thân sầu não của chàng. Nên tôi có làm thơ tỏ ý cho chàng biết, chàng họa lại nhiều bài cảm động, khiến cho lòng tôi cám cảnh thương chàng. Ấy vậy hôm nay là cái ngày kết tóc trăm năm của đôi ta, xin chàng về thưa lại cho ông chú hay, rồi tôi sẽ về ở với chàng mà lo việc tề gia nội trợ”.

Cách vài tháng sau, thì cái quán bên đường biến đi đâu mất, mà trong nhà của chàng Đào Lang kiếp trước lại có cái bóng bà Liễu Hạnh vào ra. Bà ở với chồng đâu được vài năm rồi bà lại chết. Ngày bà chết bà có nhắc tích lại cho chồng hay và chuyến nầy bà hiển thánh luôn không hiện hình như trước nữa.

T. T. T.

(*) chữ trong ngoặc vuông […] trong bài là của facebooker này thêm vô, vì e báo in bị lỗi rớt chữ.

Văn hóa Việt cần người Việt thật tâm thật lòng thay đổi

Nhà báo Lê Minh Quốc trong một lần giới thiệu sách tại Đường sách TP.HCM – Ảnh: L. ĐIỀN

Nhà báo Lê Minh Quốc dành hơn 20 năm để theo đuổi đề tài khảo cứu về các cá nhân có ảnh hưởng trong lịch sử Việt Nam, kết quả là tập sách Dấu ấn khơi dòng văn hóa Việt vừa ra mắt bạn đọc.

Vai trò đóng góp của các danh nhân là một phần trong lịch sử, đến nay, nhiều vấn đề thuộc văn hóa vẫn còn chưa ổn, nhất là không gian văn hóa ứng xử và các chiến lược xây dựng con người, giáo dục công dân… Tác giả Lê Minh Quốc dành cho Tuổi Trẻ một cuộc trao đổi.

Người Việt dám làm

Tuổi Trẻ: Nếu tính từ loạt sách Kể chuyện danh nhân Việt Nam hồi năm 1998 có giá trị như một nền tảng để quyển sách Dấu ấn khơi dòng văn hóa Việt được biên soạn và ra mắt bây giờ, ông đã có hơn hai mươi năm theo đuổi đề tài về các cá nhân nổi bật trong sử Việt, ông tâm đắc điều gì nhất từ hành trạng, công đức của các vị danh nhân này?.

Lê Minh Quốc: Tinh hoa của một dân tộc, nhìn từ những con người cụ thể, dân tộc nào cũng có và thời nào cũng có. Điều này thể hiện qua công nghiệp của họ để lại cho cộng đồng đương thời và có tầm ảnh hưởng mãi đến đời sau. Khi khảo sát về các danh nhân của non sông nước Việt, có đặc điểm chung khiến tôi vô cùng ngưỡng mộ: dám làm. Một khi nhìn thấy sự vật, sự việc nào đó đã cản trở bước đường tiến hóa của dân tộc, họ sẵn sàng đương đầu chống chọi; và thực hiện thay đổi cho bằng được. Muốn như thế, cần trang bị nhiều đức tính, tùy lãnh vực mà các danh nhân có thể hiện khác nhau nhưng trước hết việc làm đó không xuất phát từ danh và lại càng không phải vì lợi. Mà, mục tiêu của họ có điểm chung vẫn là vì lợi ích của cộng đồng, lấy đó làm mục tiêu cao nhất.

Nếu chỉ chăm bẵm vì lợi, sức mấy mà các ông Trần Chánh Chiếu, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà… dám bỏ đồng lương làm thuê đang được chủ trả cao ngất ngưỡng để lao vào công việc đang đeo đuổi, dù chưa biết sẽ thế nào. Nếu vì lợi, sức mấy các ông Đỗ Xuân Hợp, Tôn Thất Tùng… dám bỏ cả cơ ngơi, tài sản tại Hà Nội; các ông Đặng Văn Ngữ, Trần Đại Nghĩa… dám trở về nước để đi theo tiếng gọi hào hùng của cuộc kháng chiến. Nếu vì lợi, sức mấy ông Phạm Ngọc Thạch lúc chế tạo thuốc Tây, trước khi sử dụng cho người khác đã dám thể nghiệm trên thân thể của mình. “Ta chế tạo thuốc là để phục vụ con người, chứ không gì vì các gì khác”, câu nói của ông, đã cho thấy tấm lòng “Thương người như thể thương thân” được nhiều thế hệ bác sĩ nước nhà học tập từ các bậc thánh y Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác…

Tại sao tôi tâm đắc với đức tính này?

Xin thưa, thời gian gần đây tôi chú ý đến một chương trình phát sóng trên truyền hình. Rằng, các bạn trẻ khởi nghiệp trình bày công việc của họ để kêu gọi các doanh nhân, doanh nghiệp đầu tư góp vốn, hầu hết tôi thấy họ chỉ trình bày vấn đề là sẽ dẫn đến lợi nhuận như thế nào? Điều này không sai, thậm chí còn khuyến khích, thế nhưng mọi người sẽ thiện cảm hơn, nếu họ cho biết công việc đó có tính chất tiên phong, mới mẽ đó ra làm sao; và cộng đồng sẽ hưởng lợi ích gì từ công việc đó của họ. Ở các danh nhân đi trước, tôi nhận thấy yếu tố “mình vì mọi người” rất rõ nét. Nhờ thế, họ không những đạt đến lợi mà còn được cộng đồng ủng hộ, được đời sau ngưỡng mộ.

Với chiều dài và bề dày văn hóa Việt, các cá nhân trong mỗi thời với nỗ lực của mình có tác dụng “khơi dòng” như cách ghi nhận của ông là một điều thú vị, nhưng sau khi khơi dòng chắc chắn cần phải làm một số việc nữa để cái dòng vừa được khơi ấy có sức mạnh và lưu lượng chảy được xa, rộng, và bền vững… Ở góc độ này, ông thấy được từ lịch sử của chúng ta thế nào?


– Một dòng chảy đã được khơi lên, nó “có sức mạnh và lưu lượng chảy được xa, rộng, và bền vững” hay không, còn tùy thuộc vào yếu tố “khơi dòng” có đúng hướng, có thật sự là mối quan tâm của cộng đồng hay không? Với các cột mốc văn hóa có tính cách tiên phong như tân nhạc, thơ mới, kịch nghệ, xiếc, cải lương… trải theo năm tháng đã xum xuê trái, đạt nhiều thành tựu rất đáng kể. Sở dĩ như thế, vì thế hệ đương thời lẫn thế hệ sau đã cùng chung vai góp sức từ công việc khơi dòng của người đi trước. Yếu tố này rất quan trọng, nếu không sẽ rơi vào quên lãng.

Với dấu ấn cải tạo, mở mang kênh rạch ở miền Nam đầu thế kỷ XIX với vai trò của ông Thoại Ngọc Hầu cũng là một thí dụ sinh động. Từ kênh Vĩnh Tế mà tiền nhân đã để lại cho muôn đời sau, từ thập niên 1990, ta đã có thêm các kênh T4, T5, T6 “chia lửa” với nước lũ từ sông Hậu đổ vào Vĩnh Tế để trở thành một dòng chảy tràn trề sức sống trên vùng đất phương Nam. Khi dòng kênh T5 có quy mô lớn nhất, có tính cách quyết định dược nhân dân tôn vinh là “kênh Võ Văn Kiệt”, há chẳng phải ước mơ khơi dòng đầu tiên của người xưa, thế hệ sau đã nối bước thực hiện đấy sao?

Vẫn loay hoay?

Về việc khơi dòng, ở ta có tình trạng đời trước khơi ra rồi đời sau để cho ách tắc và lại loay hoay khơi các dòng khác, cứ như thế mãi…?

Trong hiểu biết ít ỏi của mình, tôi cảm thấy đáng tiếc nhất vẫn là lãnh vực giáo dục. Đầu thế kỷ XX, các nhà nho cấp tiến như Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Võ Hoành, Hoàng Tăng Bí v.v… đã dấy lên phong trào Duy tân, đã góp công góp sức thực hiện, phổ biến rộng rãi mô hình giáo dục mới, hoàn toàn mới và cách mạng: Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Mô hình này, đã được các nhà Duy tân tổ chức tại nhiều địa phương như luồng ánh sáng mới trong công cuộc khai tâm, khai trí.

Vậy, tính cách tiên phong của mô hình giáo dục này hướng đến là gì? Xin thưa, học là thực học, kể cả học nghề. Học là để làm người. Học là để làm giàu trong xu hướng “dân giàu nước mạnh”. Quan điểm mới mẽ này nhằm thay đổi suy nghĩ đã tồn tại hàng ngàn năm: Học để thi cử, để tiến thân bằng cách ra làm quan. Không chỉ có lợi cho mình mà còn “vẻ vang” cho cả dòng tộc: “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Việc học chỉ trói buộc trong một mục đích hạn hẹp, đáng buồn quá đi chứ? Thay vào đó, tiền nhân đã khơi dòng nhằm thay đổi một mục tiêu của giáo dục như vừa nêu, tiếc thay cho đến nay não trạng cũ kỹ, lạc hậu trên vẫn chưa giải quyết một cách quyết liệt, triệt để.

Nhìn qua lãnh vực kinh tế, từ mô hình tập đoàn kinh tế đầu tiên ở miền Nam do ông Trần Chánh Chiếu cùng các cộng sự trong phong trào Minh Tân đã khởi xướng, nhìn lại, nay ta thấy gì? Theo tôi, các bậc danh nhân nói chung khi lao vào thương trường, dám đương đầu cạnh tranh với ngoại bang, còn nhằm đạt đến việc giáo dục người dân thay đổi quan niệm đã lỗi thời, lạc hậu trước đây: buôn bán là việc thấp kém, không đáng coi trọng. Chẳng hạn, Hoàng giáp Trần Danh Án (1754- 1794), trong thư gửi cho con có khuyên: “Người ta nuôi được thân thể, nuôi được vợ con không đến nỗi đói rét khổ sở là phải có phương pháp: đọc sách, thi đỗ, yên hưởng lộc trời là bậc nhất; cày cấy mà ăn, cần kiệm để lập cơ nghiệp là bậc thứ hai; làm thầy thuốc, thầy cúng, nghề thợ, nghề buôn, được người ta nuôi mình là bậc thứ ba”.  Quan niệm này nay đã thay đổi, nhưng ý thức muốn buôn bán lớn, muốn thành công thì phải đồng tâm hiệp lực huy động sức mạnh từ tiền của đến tài trí của người Việt để tạo nên những tập đoàn kinh tế lớn, có tầm vóc do chính người Việt làm chủ, và phát triển lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên thương hiệu có uy tín chứ không theo lối “ăn xổi ở thì”… nay vẫn đang loay hoay.

Bên cạnh hành trạng của các danh nhân Việt, ông thấy vai trò của giới cầm quyền mỗi thời đóng góp vào việc “khơi dòng văn hóa” là như thế nào?

– Thời đại nào cũng thế, nếu việc làm vì lợi ích chung của cá nhân, tập thể được nhà cầm quyền hỗ trợ thì cũng là một yếu tố thuận lợi. Nếu vua Gia Long, Minh Mạng không khuyến khích, không có chính sách đãi ngộ cụ thể, không tuyên dương công trạng kịp thời liệu các ông Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Hữu Thận, Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh… có hoàn thành xuất sắc khát vọng và vai trò tiên phong của mình? Nếu Toàn quyền Đông Dương không đồng thuận, liệu họa sĩ Tadieu và Nam Sơn có mở được trường mỹ thuật dạy vẽ theo lối phương Tây? Nếu chính quyền Pháp gây khó khăn, liệu chừng ông Nguyễn Văn Tuyên có thể đi từ Nam chí Bắc cổ xúy cho tân nhạc? Sau này, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, có một điều không thể không nhắc đến, đó là sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho các bậc trí thức khi họ tiến hành nghiên cứu, chế tạo vũ khí, thuốc men… mà trước đó người Việt chưa biết đến.

Nghĩ cho cùng, vai trò của giới cầm quyền đã có tác động, đóng góp nhất định cho các việc làm tiên phong đó. Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, nói như thế vì ta đừng quên, chính nhà cầm quyền Pháp không chỉ bóp chết Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy tân… mà còn ban hành chính sách khắc nghiệt, dùng mọi thủ doạn nhằm đánh gục các nhà tư sản Việt Nam đến chỗ phá sản, chẳng hạn, các công sở có lúc không được sử dụng sơn do ông Nguyễn Sơn Hà sản xuất v.v…

Nhìn nhận và thật tâm

Kết nối từ lịch sử đến hiện tại, theo ông, ngày nay văn hóa chúng ta có gì cần phải khơi thêm hoặc còn những việc nào cần làm tiếp để dòng chảy ấy được sâu rộng và bền vững?

– Trước đây, trong vai trò khơi dòng văn hóa Việt, sở dĩ ông cha ta thành công vì khi tiếp nhận, tiếp thu giá trị văn hóa mới là bao giờ cũng chọn lọc, cải tiến, nâng cao những gì mình đã có; nếu chưa có thì làm theo nhưng vận dụng phù hợp với tâm lý, tính cách của dân tộc mình, tùy vào điều kiện thực tế. Nhìn rộng ra, văn hóa là một tiến trình vận động, một dòng chảy liên tục mà biểu hiện sinh động nhất theo tôi vẫn là nếp sống, phép ứng xử hàng ngày của dân tộc đó với nhau và với các dân tộc khác. Và bất kỳ dân tộc nào cũng có lòng tự hào về dân tộc mình, điều này rất chính đáng nhưng vẫn chưa đủ.

Đã từ lâu, tôi rất thích đọc tạp văn của văn hào Lỗ Tấn, bởi lẽ với tâm thế chiến đấu không khoan nhượng, ông đã sử dụng ngòi bút như ngọn roi tiên phong quất vào thói hư tật xấu của người Trung Quốc. Thái độ cách mạng quyết liệt ấy là nhằm dẫn đến một sự thức tỉnh. Dân tộc nào cũng có sự hạn chế, khiếm khuyết, khuyết tật ngay từ trong tính cách, nếp nghĩ. Dân tộc Việt không là ngoại lệ, vì lẽ đó, đầu thế kỷ XX khi nước mất nhà tan, ngọn gió văn minh phương Tây tràn vào nước ta xốc tung mọi nề nếp đã định hình trước đó hàng ngàn năm, bấy giờ, các nhà Nho cấp tiến đã giật mình đau đáu cùng vận mệnh nước nhà. Một trong trong những mối quan tâm hàng đầu của các cụ khi đứng trong đội ngũ của phong trào Duy tân vẫn là tinh thần: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Muốn có được sự “lột xác” đó, trước hết phải dũng cảm nhìn nhận lại thói hư tật xấu của dân tộc mình. Có như thế mới dẫn đến sự thay đổi, sửa chữa triệt để, tôi nghĩ, đó chính là hiện thân của đổi mới, của văn hóa.

Trước đây, các danh nhân nước nhà đã khơi dòng văn hóa Việt bằng nội lực tự thân trong nhiều lãnh vực và để lại dấu ấn rực rỡ lâu bền, thiết nghĩ, điểm xuất phát căn bản vẫn là lòng yêu nước, thương dân – thể hiện qua việc đặt lợi ích của cộng đồng lên cao nhất. Nhờ thế, dòng chảy văn hóa mang tính tiên phong đó đã lan tỏa và cộng hưởng. Nay thế nào? Tôi nghĩ, bao giờ, người Việt thật tâm, thật lòng thay đổi, mong muốn khắc phục các hạn chế về thói hư tật xấu như một lẽ sinh tồn ắt chúng ta có câu trả lời. Mà việc thay đổi phải là công việc bức thiết của một dân tộc, chứ không là một hai cá nhân riêng lẻ.

Lam Điền thực hiện

Sách của tác giả Lê Minh Quốc vừa ra mắt – Ảnh: L. ĐIỀN

Làng sách Việt đang tranh dễ tránh khó?

Một chiến dịch ở Bắc Kỳ do Đông A Books thực hiện

Sự kiện quyển sách Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Une campagne au Tonkin) của tác giả Pháp – bác sĩ quân y Charles-Édouard Hocquard – từng xuất bản từ năm 1892 nay được 2 công ty xuất bản dịch và ấn hành cùng lúc mang lại nhiều cảm xúc và suy nghĩ cho những ai quan tâm đến xuất bản.

Cả Omega+ và Đông A Books cùng tổ chức dịch và xuất bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, vẫn theo lối thực hiện cả bản in và phổ thông và bản in đặc biệt dành cho giới chơi sách. Nhưng trong “thương vụ xuất bản này”, Đông A thực hiện đến 4 phiên bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, tức ngoài ấn bản phổ thông, còn có 3 phiên bản đặc biệt, trong đó phiên bản đặc biệt S100 được may ruột, làm bìa da thủ công, in trên giấy mỹ thuật đặc biệt, có bổ sung phụ bản gồm 45 bức ảnh in màu của tác giả Hocquard vốn không có trong bản gốc… mặc dù chưa phát hành nhưng dự kiến sẽ rất thu hút giới sưu tập mặc dù giá thành cao.

Ùa vào khai quật

Chưa hết, khi trên thị trường xuất hiện hai ấn bản của hai “nhà” nói trên, mọi người còn phát hiện ra đơn vị thứ ba là Nhã Nam cũng đang bắt tay thực hiện dịch, chú và ấn hành quyển Một chiến dịch ở Bắc Kỳ.

Một quyển sách ra đời đã 128 năm, bỗng dưng cùng lúc được ba đơn vị xuất bản “ùa vào” khai thác, có gì bất thường không?

Từ góc độ người đọc, điều này là bình thường, thậm chí còn có chút thú vị bởi càng có nhiều nhãn hiệu trên một sản phẩm thì khách hàng càng có thêm sự chọn lựa. Và sách cũng không ngoại lệ. Ông Trần Đại Thắng – giám đốc Đông A Books – từ góc độ nhà sản xuất cho rằng việc nhiều đơn vị cùng khai thác một bản sách ngoại văn như vậy cũng có cái hay, trước hết là yêu cầu về chất lượng bản dịch, chất lượng in ấn, thiết kế, các tiện ích mang lại cho bạn đọc… sẽ được các bên chú ý hơn, và người được lợi chính là bạn đọc.

Với quyển “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ“, sự xuất hiện của “ba chàng trai” bên một “người đẹp” như vậy cũng thật xứng đáng. Bởi với dung lượng hơn 500 trang, tác giả Hocquard ghi chép về thực trạng đời sống xã hội Việt Nam những năm 1884-1886 khi ông cùng đoàn quân Pháp rong ruổi qua các địa phương từ Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Nam Định, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phú Thọ, đến Đà Nẵng, Huế; tác giả đã có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc đủ mọi hạng người, từ những nhà buôn, cu li, quan lại, gia đình và trẻ con bản xứ, thậm chí cả vua Đồng Khánh. Ông ghi chép và chụp lại những hình ảnh quan sát được. Phong tục tập quán An Nam được tác giả đặc biệt quan tâm: tục nhuộm răng đen, tục ăn trầu, búi tóc của đàn ông, nón quai thao của đàn bà, chỏm tóc của trẻ con, thói đi chân trần, quần áo nâu của người Kinh, quần áo chàm của người Tày… đều xuất hiện trong sách này. Khác với các ấn phẩm thuộc “dòng sách Đông Dương” bấy giờ, quyển sách của bác sĩ Hocquard còn có 232 bức ảnh minh họa và bản đồ.

Tuy nhiên, nhìn lại làng sách Việt sẽ thấy trào lưu “khai quật” các sách xưa để tái bản hoặc “làm mới” bằng nhiều cách trở nên xôm tụ chừng mươi năm trở lại đây. Một vài dấu mốc như Nhã Nam đi tiên phong với ý tưởng thực hiện bộ “Việt Nam danh tác” khai thác các sách hay, có giá trị vượt thời gian từng xuất hiện từ trước 1945 ở miền bắc đến trước 1975 ở miền Nam, thì sau đó có một công ty sách cũng tiến hành in loạt sách na ná như vậy, tức là cũng tái bản các “danh tác” chỉ với cái bìa khác. Hoặc như trong lúc dư luận quan tâm đến việc học sử dạy sử, lập tức bộ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cùng lúc được 3 đơn vị là Nhã Nam, Kim Đồng, và Minh Thắng tái bản. Bộ Cổ học tinh hoa của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân còn “đắt khách” hơn: có ít nhất 4 đơn vị cùng vào cuộc tái bản trong diện mạo bắt mắt để thu hút bạn đọc mấy năm gần đây.

Hoặc như hiện tại, vẫn còn ít nhất hai đầu sách đang được là quyển Tiêu sơn tráng sĩ của Khái Hưng, hiện đang được hai “nhà” chào hàng với các độc giả trên mạng, và quyển L’Art à Hué sau khi Thái Hà Books và Nhã Nam đã làm, được biết một công ty thứ ba cũng đang theo đuổi làm lại quyển sách đầy tính mỹ thuật này.

Việc khai thác các sách đã nổi tiếng trong quá khứ vẫn là một nhu cầu của thị trường. Nhưng với các sách đã hết hạn bản quyền; với bản thảo, bản dịch đã có sẵn, nay chỉ cần thiết kế bìa và trình bày ruột lại… dù sao vẫn là chuyện dễ. Bởi thị trường sách còn nhiều đòi hỏi đáng kể hơn.

Gian khó sẽ dành phần ai

Dịch giả Phạm Viêm Phương nhớ lại một thời mặc dù còn chiến tranh nhưng làng sách trong nước có khả năng cập nhật các sách mới không chỉ về văn chương mà cả các trào lưu tư tưởng, những triết thuyết mới, các quan điểm chính trị…

Bây giờ, lĩnh vực cập nhật tốt nhất có lẽ là mảng sách văn chương, nhờ các đơn vị làm sách nỗ lực mua bản quyền các sách văn chương đạt giải Noble hoặc Goncourt, Man Booker và tổ chức dịch thuật, phát hành để cộng đồng đọc trong nước có cảm giác “mình đọc kịp với thế giới”. Lĩnh vực khoa học mấy năm gần đây cũng có cập nhật nhưng còn ít, còn lại các sách về tư tưởng, triết thuyết… dường như không còn được mấy quan tâm.

Không chỉ thế, làng sách Việt còn nhiều chỗ khuyết thiếu mà lẽ ra, các đơn vị xuất bản, thậm chí một số đại học nếu hoạt động đúng nghĩa, phải bắt tay vào làm sách, để công chúng Việt Nam được đọc những ấn phẩm cần phải đọc.

Một dịch giả có hơn 30 năm theo dõi lĩnh vực xuất bản trong nước nêu một hiện tình, đó là chúng ta chưa có đơn vị nào có ý thức dịch toàn bộ các trước tác của một tác giả nổi tiếng. “Làm toàn tập về một tác giả rất quan trọng, nó là dữ liệu để không chỉ đọc thưởng thức mà còn làm cơ sở để nghiên cứu, học tập”, vị dịch giả này nhấn mạnh.

Theo hướng đó, có thể chỉ ra rất nhiều tác gia văn học nối tiếng chưa được dịch một cách đầy đủ ở Việt Nam. Chẳng hạn ở Anh ngữ, văn hào David Herbert Lawrence (1885 –1930) chỉ mới được dịch vài cuốn sang tiếng Việt; nữ tiểu thuyết gia Virginia Woolf (1882 – 1941) vốn được xem là một trong những nhân vật văn học hiện đại lừng danh nhất thế kỉ 20, đến nay cũng chỉ có khoảng 5 tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, chiếm chừng 20% toàn bộ trước tác của bà.

Về tư tưởng, lâu nay TS Dương Ngọc Dũng vẫn khuyến khích sinh viên nên tìm đọc quyển Traité de métaphysique (Luận văn về siêu hình học), của Georges Gusdorf có từ 1956  nhưng chưa có bản Việt dịch.

Hay như giới đọc sách từng biết đến cái tên Jean-Paul Sartre – vị triết gia thuộc trường phái hiện sinh vô thần, nhưng tác phẩm quan trọng nhất của ông lại chưa có bản dịch tiếng Việt. Đó là quyển L’Être et le Néant (Hữu thể và vô thể) – một công trình lớn của Sartra, đến mức khi đề cập đến quyển này, vị dịch giả giấu tên kia thốt lên “nhất thiết phải dịch quyển này từ bản Pháp văn”, là nói vậy thôi nhưng vẫn chưa biết đến bao giờ!

Với cái nhìn gần hơn, Nhật Bản có tuyển tập Chuyện kể bên chiếc gối (Makura no soshi) của nữ sĩ Sei Shonagon đọc nghe như cuốn sách khái luận về phép lịch sự trong tội lỗi, nhưng chưa được dịch sang tiếng Việt.

Một thành viên của Ban Tu thư đại học Hoa Sen nhắc lại hai đầu sách nổi tiếng rất cần cho độc giả Việt Nam nhưng đến nay vẫn chưa làm được khiến ông tiếc mãi là tác phẩm Các nguyên tắc Tâm Lý học của nhà tâm lý học tiên phong người Mỹ William James (1842 – 1910), và Các nền tảng của khoa học (The Foundations of Science) của nhà toán học, vật lý lý thuyết và triết học người Pháp Poincaré (1854 –1912).

Chia sẻ từ vị trí của một người làm sách, dịch giả Nguyễn Tuấn Việt cho rằng có nhiều sách ngoại văn chắc chắn sẽ thu hút độc giả trong nước, nhưng vì nhiều lý do, hoặc khó mua bản quyền, khó tìm người dịch đạt, thậm chí có khi khó xin được phép xuất bản… khiến cho những người làm sách rơi vào tình trạng “nhìn sách mà thèm”, tức là ao ước một ngày được thấy bản tiếng Việt của những sách ấy nhưng chưa biết đến bao giờ.

Đơn cử cho các sách này là quyển Silent Invasion: China’s influence in Australia (Cuộc xâm lặng thần lặng) của tác giả Clive Hamilton. Theo ông Tuấn Việt, đây là quyển sách rất hay nói về quan hệ Trung Quốc và Úc, rất đúng với các diễn biến hiện nay. Hoặc như một quyển đang rất thời sự là China: Trade War and Pandemic (Chiến tranh thương mại và đại dịch) của Tony Pow, quyển sách này đề cập đến việc liệu Trung Quốc sẽ bị các nước trừng phạt thế nào sau dịch Covid-19 – một trong những đề tài nóng sốt đang khiến cả thế giới chú ý, nhưng chưa biết khi nào thì nó được mua, dịch và phát hành ở Việt Nam.

Tất nhiên, để dịch thuật, chú giải được các sách tư tưởng, chính trị và triết thuyết cần có đội ngũ dịch thuật giỏi nghề, điều mà hiện nay chúng ta còn lúng túng, nhất là trong hai bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ đề cập trên kia vẫn còn mặc phải các lỗi dịch và chú thích, thì những đòi hỏi cao ở những dòng sách “khó nhằn” hơn quả cũng khó có ai “giành phần đảm đương”.

Lam Điền

Box:

Cần bổ sung sách bồi dưỡng kỹ năng đọc:

“Tôi cho rằng ta cần loại sách bồi dưỡng kỹ năng đọc, cả loại hư cấu và phi hư cấu (nền giáo dục Mỹ dạy trẻ em việc này từ tiểu học, lên tới đại học, danh mục sách bắt buộc phải đọc lại càng gay go hơn), bên cạnh những hội nhóm câu lạc bộ trao đổi kinh nghiệm đọc, vân vân.

Loại sách này được giới thiệu đầy trên mạng. Ta có thể tìm bằng “reading skills for college students” “better reading skills” “books on reading skills” “reading comprehension”… thấy sách nào được tái bản nhiều lần là có thể tin cậy.

Chính giới trí thức và các công ty xuất bản, khi thiếu kỹ năng đọc, thì khó mà biết cách giới thiệu sách, hoặc vạch ra chiến lược xuất bản nào mới lạ ngoài việc theo dõi các giải thưởng hay chiến dịch quảng cáo của báo chí nước ngoài. Cho nên:

– Bên cạnh việc dịch và xuất bản các sách cung cấp kiến thức, ta rất cần loại sách về phương pháp khai thác kiến thức (đọc hiểu), và sáng tạo kiến thức mới (tức phương pháp nghiên cứu).

– Nếu không xuất bản được những cuốn như vậy thì có lẽ đành trông vào: (i) viết bài phân tích, điểm sách đúng nghĩa trên báo (cần có nhuận bút cho hàng ngũ chuyên gia); và (ii) cố gắng viết bài giới thiệu dẫn nhập phân tích… in kèm với mỗi dịch phẩm”. (Phạm Viêm Phương)

Một chiến dịch ở Bắc Kỳ do Omega Plus thực hiện

Những vấn đề tiếp nối của đô thị

Quyển sách Đô thị những vấn đề tiếp nối của PGS. TS. Nguyễn Minh Hòa vừa lên kệ sách trong toàn quốc – Ảnh: L.ĐIỀN

Tác giả Nguyễn Minh Hòa vừa ra mắt quyển sách mới: Đô thị những vấn đề tiếp nối, tập hợp ý kiến chuyên môn về đô thị học, và cả những tâm sự giãi bày về các vấn đề phát triển đô thị ở nước ta.

Tập sách, cũng chính là dòng cảm xúc không gián đoạn của một người nặng lòng với đô thị Sài Gòn, nơi tác giả đã gắn bó gần 50 năm qua. Trong phần mào đầu cho chương Cảm xúc đô thị, ông dành cho Sài Gòn những lời nói thật tự đáy lòng: “Sự thay đổi của thành phố này mang lại cho tôi biết bao nhiêu cung bậc cảm xúc khác nhau”.

PGS. TS. Nguyễn Minh Hòa chính là người đã cẩn thận ghi chép những đổi thay – phần lớn là mất mát – trong quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn, và rồi trong một hội thảo, ông bất ngờ công bố về 18 công trình của Sài Gòn đã mất đi không bao giờ có lại được (TT ngày 19-10-2019). Không chỉ có thế, song hành cùng hoạt động chuyên môn của một nhà đô thị học, Nguyễn Minh Hòa còn dành không ít thời gian cho việc đọc và viết về Sài Gòn.

Ở đây, bạn đọc sẽ gặp lại những trang viết đầy cảm xúc của Nguyễn Minh Hòa, từ những tiếng kêu quyết liệt trước những chính sách từ nhà nước có ảnh hưởng đến đô thị như “Đừng đập nữa” – viết về việc các thủy đài ở TP.HCM bị đập bỏ theo chủ trương từ năm 2017; “Cẩn trọng với ký ức” – về ý kiến phá bỏ tòa nhà Dinh Thượng Thư để xây dựng trung tâm hành chính TP.HCM; hay câu hỏi tưởng chừng giản đơn “Con trẻ chơi ở đâu” nhưng đặt ra như tác giả mới thấy quả là vấn đề không giỡn chơi đối với các nhà quy hoạch và phát triển đô thị.

Tập sách được tác giả sắp xếp thành ba phần: Cảm xúc độ thị, Không gian đô thị, và Đời sống đô thị. Trong mỗi mảng nội dung ấy, người đọc sẽ bắt gặp những vấn đề vừa quen thuộc vừa nan giải, những góc nhìn tưởng đã rõ từ lâu nhưng đọc các trang viết của một nhà chuyên môn, lại thấy có lẽ mình còn chưa hiểu Sài Gòn đến đầu đến đũa…

Chẳng hạn như ý tưởng về dáng hình thành phố, được tác giả tâm sự rằng trong một lần hội thảo ở Trung Quốc, thức khuya khó ngủ, ông giở bản đồ TP.HCM ra xem và bỗng bất ngờ liên tưởng dáng hình thành phố với hình ảnh con dơi đang giang cánh. Ý tưởng này sau đó được nhiều ý kiến tại hội thảo tán đồng.

Hay việc khám phá ra Sài Gòn từng có một thung lũng xanh tuyệt đẹp, do người Pháp cố tình tạo ra vào khoảng năm 1870, trải dài từ đường Cách mạng tháng Tám đến sát rạch Thị Nghè, với trục phát triển chính là đường Lê Duẩn (theo hình dung hiện nay). “Các nhà quy hoạch Pháp đã cố tình đẩy các nhà cao tầng ra phía xa để tạo ra hình thái đô thị cao bên ngoài, thấp bên trong như hình cái nón lật ngược mà trung tâm là một thung lũng xanh”, cách nhìn tinh tế của Nguyễn Minh Hòa không những cho thấy sự thấu hiểu của ông với những nhà quy hoạch Sài Gòn xưa, mà qua đó còn cho thấy cảm tình của một người Sài Gòn vẫn níu giữ những nét đẹp đô thị trong từng suy nghĩ cho dù ngoài thực tế đã biến thiên.

Và nếu tìm kiếm ở chiều sâu của đời sống đô thị, người đọc bắt gặp tác giả đặt lại những vấn đề căn cốt, đó là giá trị của an sinh (Thật vô nghĩa khi không an), hồn cốt của thị dân từ thói quen giản đơn là đi xe đạp (Tìm lại thói quen xưa), hay ở góc độ tế nhị của quản lý: cái nào nhà nước cần can thiệp bằng luật và cái nào nên mạnh dạn để người dân tham gia thực hiện sẽ tốt hơn rất nhiều (Để dân làm)…

Trong khi tác giả khiêm nhường tự nhận mình “cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, chỉ có thể phản ánh được một vài “mảnh vụn”, dăm ba “lát cắt” về đô thị – hiểu theo nghĩa là “một thực thể sống nhân tạo phức tạp nhất”, tập sách thực sự là những sẻ chia cần thiết, là suy nghĩ có trách nhiệm để câu chuyện đô thị Việt Nam được tiếp nối có hiệu quả trong tương lai.

Lam Điền

“Tình yêu Sài Gòn của tác giả rất da diết mà cũng rất tỉnh táo. Đó là vì sự “phân thân” của người viết: vừa là người Sài Gòn vừa là người “từ nơi khác đến”; vừa là người dân bình thường vừa là nhà nghiên cứu, nhà tư vấn chính sách; vừa là người mang trong mình “văn hóa” của một vùng miền khác lại vừa sống và hòa nhập với văn hóa một nơi chốn mới; vừa là người thụ hưởng di sản văn hóa vừa là người có tiếng nói góp vào chính sách bảo tồn hay không những di sản ấy… Tất cả điều đó mang đến sự khách quan của người trong cuộc chứ không phải khách quan lạnh lùng của những nhà nghiên cứu hàn lâm xa vời…” (TS. Nguyễn Thị Hậu viết lời chia sẻ cho tập sách của PGS. TS. Nguyễn Minh Hòa)

Nguyễn Đức Sơn trở lại với Chút lời mênh mông

Sách do Thư viện Huệ Quang và NXB Đà Nẵng liên kết ấn hành – Ảnh: L.ĐIỀN

Hôm tập thơ vừa in ra, lão ka Trần Văn Chánh đưa ngay cho mình 2 quyển, bảo rằng đây có thể là tập thơ cuối cùng của ông Sơn Núi, Huệ Quang vì hâm mộ và ưu ái nên ấn hành đấy.

Mình cầm về, đọc một lượt tập thơ Chút lời mênh mông rồi dừng lại ở bài Về thăm Phan Rang, tự nhiên cứ bị ám ảnh bởi hai câu cuối: Kên kên chiều dõi kêu mồi/ Ngàn năm tiếng vọng liên hồi trong cha.

Một người cha sau nhiều năm xa quê, dẫn con về thăm cố hương giữa thời ly loạn. Hình ảnh quê nghèo hiện ra đầy ám ảnh, và câu thơ của ông nhiều năm sau trở thành một trong những nét tả thực hay nhất về xứ biển Phan Rang: Một vùng toàn đất cát pha/ Biển ăn lở lói từng nhà gạch vôi

Người cha đó là Nguyễn Đức Sơn, vừa trở lại với thi đàn Việt Nam sau ngót 50 năm bặt tiếng.

Ông có một bút hiệu là Sao Trên Rừng, nhưng bạn đọc vẫn yêu thích cái biệt danh Sơn Núi của ông, và yêu thích nhiều hơn ở chất mỹ cảm phức tạp trong thơ ông.

Nguyễn Đức Sơn bắt đầu sự nghiệp thơ từ trước 1975. Sài Gòn và miền Nam bấy giờ có nhiều trào lưu tư tưởng từ phương tây, được các nghệ sĩ, trí thức trong nước “hoan hỷ” tìm hiểu và ứng dụng trong sáng tác. Nguyễn Đức Sơn trình hiện tác phẩm của mình bằng thể cách riêng: Sự cực đoan trong cách suy nghĩ, diễn ngôn dâm tục, và khả năng chơi đùa với tiếng Việt ở tầm mức thượng thừa.

Về sự cực đoan, chính việc “đưa vợ con lên núi sống cho đến tận bây giờ” là câu trả lời có một không hai của ông Sơn Núi.
Còn dâm tục trong thơ của ông, nội dung này mang lại nhiều bàn cãi và có lẽ sẽ còn bàn cãi dài dài về sau. Nhưng, điều quan trọng hơn câu chữ dâm tục chính là phần dụng ngữ của Nguyễn Đức Sơn; và cao hơn phần dụng ngữ chính là khả năng chuyển tải tư tưởng qua lớp vỏ diễn ngôn dâm tục ấy. Tấm tắc trước bài thơ vỏn vẹn 6 chữ (cộng 2 chữ nhan đề “Đêm trăng” nữa cả thảy 8 chữ) Ma đang hú/ Mu đang há thì dễ, nhưng cái tư tưởng về chiều sâu và tầm cao của lao động nghệ thuật được gửi gắm qua bài thơ “Đù mẹ cây hồng/ Mầy không lao động/ Sao mầy trổ bông”, thì không phải ai cũng chia sẻ được.

Và chất tự sự ở Nguyễn Đức Sơn cũng là một độc đáo. Hẳn sẽ còn rất nhiều người, với lòng tự trọng học vấn, nhắc đến bài thơ có cái nhan đề dài một cách cố ý: Mười năm không đọc một trang sách nào, soi gương thấy mặt mày tươi rói.
Nhưng Chút lời mênh mông còn có một đặc biệt: Bạn đọc sẽ gặp một Nguyễn Đức Sơn khác lạ, ấy là cảm thức vô thường được quyện trong những lời thơ tâm sự với con. Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn nuôi con là nỗi đoạn trường không mấy người biết đến. Và ở đây, qua những dòng thơ, dường như một thế giới khác của Sơn Núi hiện ra, trong lành mà góc cạnh. Như hình ảnh “ôm con nhìn cõi mênh mông/ máu thanh niên dội rát lồng ngực cha” là một thế giới của hai cha con giữa hoang mang chiến cuộc, nhưng chưa cô độc đến lạc loài như ở bài Giữa đêm trăng: Bồng ra chơi giữa đêm trăng/ Tay chân con múa vung văng liên hồi/ Có gì ngàn cõi xa xôi/ Phút giây tôi với con tôi lạc loài.

Nguyễn Đức Sơn, thơ, và cuộc thế của mình tưởng đã lạc loài như vậy, nhưng may có những người hâm mộ, đã gom nhặt thơ ông giữ lại với đời…

[Lam Điền]

Sôi động các kênh online quảng bá sách trong mùa dịch

Chương trình quảng bá dòng sách Sài Gòn của NXB Văn hóa Văn nghệ đang diễn ra trong những ngày tháng Tư
Trang quảng cáo giảm giá sách của công ty Phương Nam

Không chỉ có hội sách online quy mô quốc gia đang được thực hiện, các đơn vị xuất bản, công ty sách cũng khai thác những kênh online để quảng bá sách trong thời gian dịch bệnh làm gián đoạn các sự kiện về sách.

Livestream, bắt mắt và lan tỏa…

Ngay khi Đường sách TP.HCM phải đóng cửa, một trong những đơn vị sớm ứng dụng hình thức livestream để giới thiệu sách là Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM: tác giả Cúc T livestream chia sẻ chủ đề “Vui cười mỗi ngày dù bạn không hoàn hảo” đã nhận được hàng nghìn lượt xem từ bạn đọc qua mạng. Đây có thể xem là hình thức hiệu quả để tạo sự tương tác giữa tác giả với bạn đọc trên không gian mạng thay vì gặp mặt trực tiếp. Tại Hội sách online năm nay, NXB Trẻ cũng sẽ tổ chức giao lưu trực tuyến với nhà văn Dương Thụy (vào lúc 10h ngày 20-4) và tác giả Pha Lê (10h ngày 25-4) cùng chia sẻ về các đề tài bếp núc và ẩm thực.

Có những ý tưởng nảy sinh theo cùng với sự quan tâm của người đọc trong mùa dịch bệnh: Các sách đề tài sức khỏe hoặc các chủ đề liên quan được những đơn vị làm sách khéo léo “chọn giúp” để bạn đọc nhâm nhi trong mùa tránh dịch. Một đầu sách nóng hổi vừa được Anbooks và NXB Văn hóa Văn nghệ tung ra thị trường là Đại dịch tim không đập thình thịch của bác sĩ Trương Hữu Khanh – người đang được đông đảo cộng đồng mạng theo dõi vì những chia sẻ về dịch Covid-19. Quyển sách này ra đời nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng về đại dịch với phương châm không hoang mang và lạc lối trước một rừng nhiễu loạn thông tin…

Với “cảm xúc” dịch bệnh, Nhã Nam đưa ra một list sách văn học của các tác giả đoạt giả đoạt giải Nobel, đứng đầu là Dịch hạch của Albert Camus, và các danh tác được giới thiệu bắt mắt: Đẹp và buồn (Kawabata Yasunari), Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối (Patrick Modiano), Của chuột và người (John Steinbeck), Buồn nôn (Jean-Paul Sartre), Chúa ruồi (William Golding), Siddhartha (Herman Hesse), Tên tôi là Đỏ (Orhan Pamuk), Trốn chạy (Alice Munro), Mãi đừng xa tôi (Kazuo Ishiguro)…

Nắm bắt tâm lý “bị cuồng chân” trong những ngày giãn cách toàn xã hội, NXB Tổng hợp TP.HCM tạo ấn tượng cho bạn đọc bằng cách giới thiệu loạt sách du ký hấp dẫn với gợi ý mọi người hãy “xê dịch” qua từng trang sách du ký trong những ngày khó khăn này. Đó là các tập du ký mới ra mắt: Vàng Son một thuở Ba Tư (Nguyễn Chí Linh), Quen lạ xứ người – Du ký Nhật Bản (Lam Anh), Theo dấu chân người tình (Đỗ Quang Tuấn Hoàng), Hội An Trong tôi (Trần Hoàng Đức)…

Ở một hướng khác, NXB Phụ Nữ đã vạch kế hoạch tổng thể khai thác các kênh online để nỗ lực quảng bá sách trong mùa dịch này: Ngoài việc tích cực giới thiệu sách mới và đầy mạnh các kênh tiếp thị theo Hội, nhóm như truyền thống, NXb Phụ Nữ còn tranh thủ phối hợp với các cá nhân có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOLs) để giới thiệu sách, tổ chức cuộc thi dành cho bạn đọc viết review giới thiệu sách, và đặc biệt ý tưởng mới nhất là mở rộng mạng lưới cộng tác viên bán hàng online. “Đây là một cách vừa để huy động nguồn lực từ các cộng tác viên, bạn đọc của nhà xuất bản ở các tỉnh, thành chung tay giới thiệu và lan tỏa sách, vừa góp phần tạo công việc cho những ai muốn làm thêm trong mùa dịch. Vì chúng tôi biết ở các tỉnh thành xa xôi có những giáo viên, nhà văn, những người quan tâm đến sách, có thể giúp chúng tôi giới thiệu các đầu sách mới, bổ ích, và vì không gian mạng không giới hạn theo vùng miền địa lý nên chúng tôi hy vọng có thể đưa sách và thông tin về sách đi xa hơn đến những nơi còn thiếu sách”, bà Khúc Thị Hoa Phượng – giám đốc NXB Phụ Nữ – chia sẻ.

Game sách vui nhộn và quảng bá chiều sâu

Ứng dụng các kênh online để quảng bá sách sôi động phải kể đến NXB Trẻ. Trong lúc dịch bệnh ngăn cản mọi hoạt động giao lưu tiếp xúc trực tiếp, NXB Trẻ đẩy mạnh quảng bá online bằng cách chọn ra các loạt sách theo từng chủ đề phù hợp với thời điểm nghỉ ở nhà chống dịch như: Ăn sạch – sống xanh; Tâm an – sống khỏe; Y học – sức khỏe; Du lịch qua sách, và các sách truyền cảm hứng; tình yêu thương…

Để tăng tính cuốn hút và tạo sôi động cho các fanpage của mình, NXB Trẻ giới thiệu “Tour du lịch cho Potterhead trong mùa dịch” hay “Tour du lịch ‘Cho tôi một vé đi tuổi thơ” dành cho các fans của Harry Potter và fans của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, được đông đảo bạn đọc chia sẻ. Hoặc từ phía NXB đặt hashtag cho chương trình gọi là “7 ngày thử thách” (#7daychallenge) trên fanpage, kêu gọi bạn đọc vào comment chia sẻ tên các sách đã đọc theo chủ đề từng ngày: quyển sách khiến đọc xong bạn phải hành động ngay, quyển sách khiến bạn dám mơ thiệt lớn, quyển sách đã nhắc nhở bạn phải yêu thương bản thân nhiều hơn… Những game dạng này có tác dụng kích thích bạn đọc nhớ lại những sách đã đọc và những gì “thu lượm” được từ sách.

Và một game sách theo kiểu khác, với hashtag Mình có nhận ra nhau giữa mùa dịch không em”, fanpage đưa ảnh một quyển sách bị khẩu trang bịt mất nhan đề, với các mật mã/ manh mối vắn tắt nêu kèm, bạn đọc sẽ vào comment tên quyển sách được nhận ra. Đây là trò chơi có tính thử thách, bởi những “manh mối” nhiều khi chỉ là một tiết lộ nhỏ, đòi hỏi người đọc phải vừa tinh ý vừa thạo các thông tin về quyển sách – nói chung phải là người thực sự yêu thích quyển sách ấy – mới có thể nhận ra. Ấy vậy mà, cũng từ trò chơi này, tại fanpage của NXB Trẻ xuất hiện những bạn đọc am tường đáng nể, chẳng hạn với “3 manh mối” : “chạy” “1986” và “1994”, có bạn đọc nhận ra ngay “đó là quyển Forrest Gump – in năm 1986 và trở thành sách bán chạy cho đến khi bộ phim chuyển thể ra đời năm 1994 với ngôi sao Tom Hanks”.

Theo “những nhà tổ chức”, các game này tạo ra một sân chơi cho bạn đọc trong mùa dịch, vừa giúp các bạn động não, vừa tăng tính tương tác online và cũng là cách để những ai tham gia chọn được sách mình mong muốn.

Trong khi đó, công ty Sách Phương Nam cũng xây dựng được một cộng đồng đọc sách của mình qua 2 kênh: group Bookish Squad và blog chuyên về sách bookish.vn. “Hiện nay việc tiếp cận độc giả qua mạng xã hội là rất cần thiết và hữu dụng. Mạng xã hội giúp người làm sách tiếp cận trực tiếp với người đọc, lắng nghe độc giả nhận xét, phản hồi về nội dung, hình thức và chất lượng in ấn một cách chân thật”, một lãnh đạo phụ trách nội dung của Sách Phương Nam chia sẻ.

Vừa rồi, Sách Phương Nam ấn hành bộ sách 3 tập Những cảnh đời tỉnh lẻ của J.M. Coetzee là tác phẩm lần đầu tiên được chuyển ngữ đến bạn đọc Việt Nam, trên kênh bookish chạy chương trình giới thiệu ấn tượng. Trước đó, khi tái bản bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Lang, Sách Phương Nam cũng chủ động quảng bá trên kênh online và được cộng đồng mạng ủng hộ nhiệt tình. Đây cũng là cách làm nhờ vào khả năng chủ động đối với lĩnh vực quảng bá online.

Lam Điền

Box:

Ngoài ra, điểm thu hút “truyền thống” của các trang online hiện nay là các chương trình khuyến mãi sách. Hiện tại Sách Phương Nam “treo banner” quảng bá giảm đến 50% cho 50 nhan đề sách; NXb Văn hóa Văn nghệ cũng giảm 50% giá bìa cho dòng sách viết về Sài Gòn trong một chương trình gọi tên tha thiết “Thương lắm Sài Gòn ơi”; NXB Trẻ thì gia hạn cuộc thi viết “Nào ta cùng thi viết và chụp ảnh sách” đến 30-6; NXB Kim Đồng cũng giảm 50% giá bìa với chương trình “Ở nhà đọc sách không ngại giãn cách”; Nxb Phụ Nữ cũng giảm 50% giá bìa cho loạt sách nử công gia chánh “Thơm lừng gian bếp”…

Thị dân, người lính và thân phận cùng đinh thời hậu chiến

Với quyển Đất K, trong khi đọc, có những lúc tôi dừng tay, lật giở bìa gấp nhìn lại khuôn mặt tác giả: một người đàn ông xa lạ, tóc dài, và dù có đôi kiếng đen che mất phần lớn khuôn mặt vẫn hiện ra nét khắc khổ sâu sắc quá.

Đất K, tác phẩm mới xuất hiện trong làng sách tiếp tục mạch chuyện về chiến trường Campuchia. Tập sách có vẻ lẻ loi khi không khí kỷ niệm dấu mốc 40 năm chiến tranh trên hướng Tây Nam vừa qua xong.

Và đọc sách, mới biết tác giả những dòng tâm sự này – Bùi Quang Lâm, lính bộ binh của đại đội 12, Mặt trận 779 – cũng có thân phận thật đặc biệt.

Và có mấy lần như vậy, trong khi những tình tiết truyện đang cuốn hút, chuyện chiến trường mà, không thiếu những tình tiết hấp dẫn, hồi hộp, cao trào… Và tôi lại dừng tay lật bìa sách nhìn lại gương mặt tác giả một lần. Ấy là vì tôi nhận thấy ở nét mặt Bùi Quang Lâm có chút gì hao hao giống với một người thanh niên trong xóm tôi: anh P. Hồi nhỏ, trong những lần xuống xóm dưới gánh nước, tôi vẫn nhìn vào mặt anh P., một người thanh niên cũng tóc dài, quai hàm vuông cương nghị, cũng trở về từ chiến trường K. Nhưng P. là một người khùng. Anh bị tâm thần từ sau khi rời vùng đất tử thần, cha mẹ gia đình anh không biết thế nào, để mặc anh muốn làm gì thì làm. Anh không muốn ở chung với gia đình, che túp lều ở góc vườn tự sống riêng. Anh lang thang qua những ngả đường làng, thỉnh thoảng nói lảm nhảm gì đó, nhưng dường như anh không đánh phá hay làm hại ai.

Tôi nhìn gương mặt Bùi Quang Lâm bé xíu in trên bìa gấp cuốn sách, lờ mờ nhận ra hình như chỗ giống giữa anh và anh P. xóm tôi chính là cái dấu ấn thần chết để lại còn vương đâu đó trên nét mặt. Có thể lắm, những người lính từng thoát lưới tử thần không chỉ một lần, cho dù bước ra khỏi chiến trường với thân hình tàn tạ cùng đinh hay lý trí hoàn toàn bị hủy diệt, hẳn phải có chút dấu vết gì đó còn để lại trong ánh mắt nụ cười, trong cái nhìn gửi vào từng sự vật xung quanh.

Đất K của Bùi Quang Lâm vừa may là một bổ sung cho loạt sách viết về chiến trường K như đã thấy. Bùi Quang Lâm vốn dân Quận 4 – TP.HCM, và nhóm bạn thân trong đơn vị cũng nhiều người miền Nam, những dòng hồi ức của một người lính xuất thân là thị dân mang lại góc khác lạ về cuộc “viễn chinh” của Việt Nam trên đất bạn như có người đã ví von.
Sách vẫn có sức cuốn hút từ những khốc liệt của đời lính, những lần thập tử nhất sinh khi lâm trận, vô vàn gian khổ thắt ngặt mà chỉ qua câu chữ thôi, người đọc nhiều khi phát sinh phản xạ tự vấn rằng nếu chẳng may mình đối mặt như tác giả, không biết liệu có chịu đựng được bao lâu.

Nhưng nét đặt biệt của Đất K chính là tác giả mặc dù không cố ý, đã để lộ chất thị dân của mình và những người bạn thân khi đi vào cuộc chiến. Một anh Phước “cô ba” bẩm sinh yếu đuối vẫn ráng bám theo đơn vị trong từng trận đánh, từng chặng hành quân để rồi cuối cùng phải hy sinh, để lại lá thư viết xong chưa kịp gởi về nhà, đọc như thấy có nước mắt trong từng hàng chữ: “Hôm nay ngày mấy, tháng mấy con không biết. Vì ở rừng nên con không biết ngày tháng. Kính thưa má…”; mối quan hệ giữa chỉ huy và lính bộc lộ qua chiến đấu và qua những cám dỗ khi chiến thắng…; tính bộc trực không lý sự nhưng ăn nói áp đảo người khác đúng kiểu Sài Gòn của Hiển “đen”, những “tâm hồn thơ” bất ngờ nảy nở giữa khói lửa chiến trường… Và những bóng hồng bất ngờ chen vào cuộc chiến như câu chuyện về cô gái Khmer gốc Việt Xa-Phíc mà Bùi Quang Lâm gặp gỡ trên đất Campuchia giữa đường tao loạn, hay cô bạn Mã Kim Phượng thân nhau từ mái trường trung học giữa Sài Gòn bỗng gặp nhau trong cùng chiến dịch trên đất bạn… là phong vị khác lạ giữa những trang viết đặc dày khói lửa.

Một phần phong vị ấy còn bám dài theo thân phận tác giả đến thời hậu chiến. Và đây cũng là phần xúc động nhất của Đất K: Người lính vào sinh ra tử, trở về phố thị quê nhà bỗng nhận ra mình chỉ còn thân phận chẳng khác cùng đinh. “Trả áo nhà binh tôi thành “nhà bám” là cách nói tự trào nhưng chua chát của Bùi Quang Lâm. Đọc những dòng tâm sự của anh về cảnh nhà túng quẫn, về thân phận khốn cùng khi trên mình chưa dứt thương tật từ chiến tranh đã bước vào cuộc mưu sinh khốc liệt của đời sống thị dân vào lúc nước nhà chưa qua thời bao cấp và bóng dáng đổi mới còn chưa le lói… Đúng như nhà thơ Hoàng Đình Quang đúc kết “Một thời đánh bắc dẹp đông/ Chiến tranh kết thúc dở ông dở thằng”, đọc Bùi Quang Lâm, nhiều lúc nghe nghẹn lòng khi không hình dung ra tương lai anh rồi sẽ ra sao…

Tác giả dừng lại ở những dòng nói về “hoàng hôn cuộc đời” của mình. Tưởng đầy đủ một cuộc giãi bày tâm sự nhưng hóa ra không phải, anh treo trong tâm trí người đọc một nỗi ám ảnh rằng anh đã sống ra sao giữa phố phường đô hội với thân phận cùng đinh như vậy? Và rồi rất nhanh người đọc nhận ra thêm: Nào có phải chỉ một Bùi Quang Lâm thôi đâu, bên cạnh chúng ta hằng ngày vẫn còn những thân phận thị dân lẩn khuất vô danh trong chảy của cuộc đời, cũng từng đánh đổi tuổi thanh xuân, từng hy sinh nhiều thứ để theo đuổi một lý tưởng… và rồi họ lặng thầm mãi mãi không mấy người biết đến. Kể ra anh chiến sĩ sống còn từ đất K Bùi Quang Lâm vẫn có chút cơ may, khi anh gõ vào cánh cửa văn chương để gửi gắm một phần tâm trạng đời mình. Nhờ đó, người đọc gần xa mới nhận ra và chia sẻ, biết đâu.

Lam Điền

Sách do NXB Hội Nhà văn cấp phép ấn hành – Ảnh: L.Điền

Previous Older Entries

Midori Sora

in the saddest night on earth

HỒ SƠ VĂN HỌC

Tìm lại di sản

Khải Đơn

Thời gian trên đường

Xứ Nẫu

Nơi gặp gỡ những người yêu xứ Nẫu

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.